(Chinhphu.vn) - Thông cáo báo chí của VPCP về thông tin chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 21/9.

Tăng cường giám sát vay về cho vay lại đối với chính quyền địa phương

Thủ tướng Chính phủ vừa ký chỉ thị 37/CT-TTg yêu cầu tăng cường quản lý, giám sát vay về cho vay lại đối với chính quyền địa phương.

Để chấp hành nghiêm Luật Ngân sách nhà nước và kế hoạch vay, trả nợ của ngân sách địa phương được Quốc hội phê duyệt, đồng thời để quản lý nợ công, nợ Chính phủ bền vững trong tình hình hiện nay theo Nghị quyết số 07-NQ/TW ngày 18/11/2016 của Bộ Chính trị về chủ trương, giải pháp cơ cấu lại ngân sách nhà nước, quản lý nợ công để bảo đảm nền tài chính quốc gia an toàn, bền vững, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tập trung thực hiện tốt các giải pháp tăng cường quản lý, giám sát sử dụng nguồn vốn Chính phủ vay về cho vay lại đối với chính quyền địa phương.

Về nguyên tắc, các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phải thực hiện nghiêm quy định của Luật Ngân sách nhà nước năm 2015, quản lý vay, trả nợ vay chính quyền địa phương chặt chẽ, đảm bảo không vượt quá mức dư nợ tối đa của từng tỉnh, thành phố theo quy định của Luật. Đồng thời, việc vay, trả nợ phải đảm bảo tuân thủ kế hoạch vay, trả nợ hàng năm của chính quyền địa phương được Quốc hội phê duyệt.

Trong bối cảnh nợ công, nợ Chính phủ tăng cao, các khoản vay ODA giảm dần, Việt Nam phải thực hiện các khoản vay hỗn hợp bao gồm cả vốn ODA và vốn vay ưu đãi với điều kiện vay gần sát với thị trường. Các địa phương khi đề xuất đầu tư cần ưu tiên sử dụng vốn vay ODA với điều kiện ưu đãi cao cho các chương trình, dự án quan trọng, cấp bách của địa phương; vốn vay nước ngoài chỉ sử dụng cho chi đầu tư phát triển, không sử dụng cho chi thường xuyên.

Trên cơ sở các khoản vay, trả nợ của ngân sách địa phương được Quốc hội phê duyệt, các địa phương lập kế hoạch vay, trả nợ chi tiết, trong đó phân chia theo từng nội dung: Vay lại từ nguồn vốn vay nước ngoài của Chính phủ, vay từ Ngân hàng Phát triển Việt Nam đối với chương trình kiên cố hóa kênh mương và đường giao thông nông thôn, tạm ứng vốn nhàn rỗi của Kho bạc nhà nước, phát hành trái phiếu chính quyền địa phương (nếu có) và giao nhiệm vụ cho cơ quan chức năng của địa phương tổ chức thực hiện và quản lý chặt chẽ, đúng quy định.

Khi thực hiện kế hoạch vay, trả nợ nước ngoài, các địa phương ưu tiên giải ngân vốn ODA và vay ưu đãi nước ngoài vay về cho vay lại đã cam kết với nhà tài trợ. Trường hợp sử dụng khoản vay về cho vay lại làm cho dư nợ thực tế vượt quá mức dư nợ tối đa cho phép hoặc vượt quá dự toán vay trong năm được cấp có thẩm quyền phê duyệt, các địa phương phải bố trí giảm kế hoạch vay các khoản khác hoặc thực hiện trả nợ để đảm bảo các giới hạn nợ theo quy định. Trường hợp cần điều chỉnh kế hoạch vay, trả nợ, các địa phương có báo cáo gửi Bộ Tài chính để thẩm định, trình Chính phủ để trình Quốc hội xem xét, quyết định.

Đảm bảo vay, trả nợ trong phạm vi dư nợ tối đa

Để triển khai đồng bộ các giải pháp nêu trên, Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan thực hiện việc quản lý, giám sát vay, trả nợ của chính quyền địa phương, báo cáo thực hiện kế hoạch vay, trả nợ hàng năm; rà soát, tổng hợp trình Chính phủ để báo cáo Quốc hội phê duyệt mức bội chi hàng năm của từng địa phương phù hợp với quy định của Luật Ngân sách nhà nước.

Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan thông báo cho từng địa phương mức bội chi ngân sách địa phương của năm kế hoạch, tổng số vay trong năm, gồm vay để bù đắp bội chi và vay để trả nợ gốc trong dự toán ngân sách nhà nước hàng năm. Giám sát, có các giải pháp đảm bảo việc vay, trả nợ của địa phương trong phạm vi dư nợ tối đa theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước và kế hoạch vay, trả nợ hàng năm được Quốc hội phê duyệt.

Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan rà soát, tổng hợp kế hoạch vốn đầu tư xây dựng cơ bản hàng năm, ưu tiên bố trí đủ dự toán chi đầu tư nguồn vốn ngoài nước của ngân sách trung ương, trong đó có nguồn hỗ trợ có mục tiêu cho ngân sách địa phương và kế hoạch vốn đối ứng theo tiến độ chương trình, dự án đã ký kết thỏa thuận vay và theo tỷ lệ vốn cấp phát được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

Khi trình cấp có thẩm quyền dự án mới, đối với phần vốn hỗ trợ có mục tiêu cho ngân sách địa phương theo tỷ lệ phải khẳng định được khả năng bố trí trong khuôn khổ kế hoạch đầu tư công trung hạn và hàng năm được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

Chỉ vay trong phạm vi mức bội chi được Quốc hội phê duyệt hàng năm

UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm chỉ vay trong phạm vi mức bội chi được Quốc hội phê duyệt hàng năm; khi đề xuất dự án phải tính toán, đảm bảo khả năng vay, trả nợ, khả năng giải ngân trong dự toán và trong phạm vi mức bội chi được duyệt hàng năm; khi thực hiện kế hoạch vay, trả nợ nước ngoài, các địa phương ưu tiên giải ngân vốn ODA và vay ưu đãi nước ngoài vay về cho vay lại đã cam kết với nhà tài trợ.

Trường hợp sử dụng khoản vay về cho vay lại làm cho dư nợ thực tế vượt quá mức dư nợ tối đa cho phép hoặc vượt quá dự toán vay trong năm được cấp có thẩm quyền phê duyệt, các địa phương phải bố trí giảm kế hoạch vay các khoản khác hoặc thực hiện trả nợ để đảm bảo các giới hạn nợ theo quy định.

Địa phương sử dụng khoản vay từ nguồn vốn vay nước ngoài vay về cho vay lại có trách nhiệm trả nợ đầy đủ, đúng hạn; định kỳ báo cáo tình hình giải ngân, trả nợ của địa phương cho Bộ Tài chính để tổng hợp.

Hỗ trợ gạo cho người dân bị thiệt hại do bão số 10

Thủ tướng Chính phủ đồng ý hỗ trợ gạo cứu đói cho người dân bị ảnh hưởng sau bão số 10.

Đây là nội dung tại Thông báo kết luận của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc sau khi thị sát tình hình thiệt hại và chỉ đạo công tác khắc phục hậu quả bão số 10 tại 2 tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình, Nghệ An.

Cụ thể, Thủ tướng Chính phủ đồng ý hỗ trợ gạo cho tỉnh Hà Tĩnh để cứu đói cho các hộ bị ảnh hưởng của bão, có nguy cơ thiếu đói. UBND tỉnh Hà Tĩnh rà soát, xác định cụ thể nhu cầu, đảm bảo hỗ trợ đúng đối tượng; giao Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan và địa phương khẩn trương xử lý cụ thể việc xuất cấp theo đúng quy định.

Thủ tướng Chính phủ đồng ý hỗ trợ trực tiếp 40 tỷ đồng từ nguồn ngân sách nhà nước để xây dựng lại 2 cột phát sóng truyền hình tại huyện Hương Khê và thị xã Kỳ Anh bị đổ, gãy do bão số 10 vừa qua.

Thủ tướng Chính phủ cũng đồng ý hỗ trợ trước 3.000 tấn gạo cho tỉnh Quảng Bình để thực hiện việc cứu đói cho nhân dân bị ảnh hưởng sau bão số 10.

Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn khẩn trương xử lý hoặc đề xuất xử lý việc hỗ trợ giống lúa, giống rau cho tỉnh Hà Tĩnh, tỉnh Quảng Bình để hỗ trợ người dân, bảo đảm mùa vụ.

Trước mắt, 2 tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình chủ động tạm ứng ngân sách của địa phương triển khai thực hiện ngay các chính sách hỗ trợ người dân theo quy định. Giao Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống thiên tai tổng hợp thiệt hại do ảnh hưởng của bão số 10 tại các địa phương; chủ trì phối hợp với Bộ Tài chính và các cơ quan có liên quan khẩn trương rà soát, kịp thời báo cáo Thủ tướng Chính phủ đề xuất phương án xử lý hỗ trợ các địa phương bị thiệt hại nặng, trong đó có 2 tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình khắc phục hậu quả bão số 10.

Đối với tỉnh Nghệ An, Thủ tướng Chính phủ đồng ý chủ trương, giao Bộ Tài nguyên và Môi trường xử lý cụ thể đề xuất của tỉnh về việc đầu tư lắp đặt 1 ra đa theo dõi thời tiết đặt tại huyện Kỳ Sơn phục vụ cho công tác dự báo thời tiết ở trên lưu vực hệ thống sông Cả.

Về việc đề nghị hỗ trợ kinh phí để xây dựng hệ thống cấp báo động lũ và bản đồ ngập lụt lưu vực sông Hiếu, Thủ tướng Chính phủ đồng ý chủ trương, giao Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan nghiên cứu, xử lý cụ thể.

Về đề nghị cho tiếp tục nâng cấp hệ thống đê biển để chống được bão cấp 11, cấp 12, Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan và các địa phương rà soát lại Chiến lược quốc gia về phòng, chống thiên tai, quy chuẩn, tiêu chuẩn thiết kế, quy hoạch tổng thể hệ thống đê biển trên phạm vi cả nước để chủ động phòng ngừa rủi ro, ứng phó hiệu quả với tình hình thiên tai trong điều kiện tác động của biến đổi khí hậu, nước biển dâng.

Quy định mới về quản lý phân bón

Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 108/2017/NĐ-CP về quản lý phân bón. Nghị định này thay thế Nghị định số 202/2013/NĐ-CP. Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, sau khoảng 3 năm thực hiện Nghị định 202/2013/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý phân bón, việc quản lý mặt hàng này đã có hiệu quả nhất định. Tuy nhiên, Nghị định 202/2013/NĐ-CP còn bộc lộ nhiều hạn chế, tồn tại kẽ hở, chưa bắt kịp yêu cầu thực tiễn dẫn đến sản phẩm phân bón phát triển ồ ạt, không theo định hướng.

Để khắc phục những hạn chế trên, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 108/2017/NĐ-CP thay thế Nghị định số 202/2013/NĐ-CP.

Nghị định số 108/2017/NĐ-CP quy định quản lý nhà nước về phân bón, bao gồm: Công nhận; khảo nghiệm; sản xuất; buôn bán; xuất khẩu; nhập khẩu; quản lý chất lượng; ghi nhãn; quảng cáo, hội thảo và sử dụng phân bón ở Việt Nam.

Theo quy định tại Nghị định số 108/2017/NĐ-CP, phân bón không được công nhận lưu hành khi:1- Có chứa các yếu tố gây hại vượt mức giới hạn tối đa theo quy định tại các Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, Tiêu chuẩn quốc gia hoặc theo quy định tại Phụ lục V Nghị định này trong thời gian chưa có Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, Tiêu chuẩn quốc gia và các quy định khác có liên quan; 2- Có bằng chứng khoa học về phân bón có nguy cơ cao gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người, môi trường; 3- Trùng tên với phân bón khác đã được công nhận lưu hành.

Phân bón bị hủy bỏ Quyết định công nhận phân bón lưu hành tại Việt Nam khi: 1- Có bằng chứng khoa học về phân bón có nguy cơ cao gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người, môi trường; 2- Phát hiện sử dụng tài liệu giả hoặc cung cấp thông tin trong tài liệu không đúng với phân bón đề nghị công nhận lưu hành; 3- Phân bón đã được công nhận lưu hành nhưng hết thời gian lưu hành mà không công nhận lại.

Điều kiện sản xuất phân bón

Nghị định số 108/2017/NĐ-CP quy định tổ chức, cá nhân sản xuất phân bón phải bảo đảm các điều kiện sau:

1- Tổ chức, cá nhân được thành lập theo quy định của pháp luật;

2- Có địa điểm sản xuất, diện tích nhà xưởng phù hợp với công suất của dây chuyền, máy móc thiết bị sản xuất phân bón;

3- Dây chuyền, máy móc thiết bị sản xuất từ khâu xử lý nguyên liệu đến sản phẩm cuối cùng đáp ứng quy trình công nghệ. Các công đoạn, hệ thống bắt buộc phải sử dụng máy thiết bị được cơ giới hóa hoặc tự động hóa theo quy định. Máy móc thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn và thiết bị đo lường thử nghiệm phải được kiểm định, hiệu chuẩn, hiệu chỉnh theo quy định của pháp luật;

4- Có khu vực chứa nguyên liệu và khu vực thành phẩm riêng biệt; có kệ hoặc bao lót để xếp đặt hàng;

5- Có phòng thử nghiệm được công nhận hoặc có hợp đồng với tổ chức thử nghiệm được chỉ định để đánh giá các chỉ tiêu chất lượng phân bón do mình sản xuất;

6- Có hệ thống quản lý chất lượng phù hợp với ISO 9001 hoặc tương đương, đối với cơ sở mới thành lập, muộn nhất sau 1 năm kể từ ngày thành lập;

7- Người trực tiếp quản lý, điều hành sản xuất có trình độ đại học trở lên một trong các chuyên ngành về lĩnh vực trồng trọt, bảo vệ thực vật, nông hóa thổ nhưỡng, nông học, hóa học, sinh học.

Bán phân bón phải có bằng cấp

Theo quy định tại Nghị định số 108/2017/NĐ-CP, tổ chức, cá nhân buôn bán phân bón phải bảo đảm các điều kiện sau:

1- Tổ chức, cá nhân được đăng ký hoặc thành lập theo quy định của pháp luật;

2- Có cửa hàng buôn bán phân bón. Cửa hàng buôn bán phân bón phải có: Biển hiệu, sổ ghi chép việc mua, bán phân bón; bảng giá bán công khai từng loại phân bón niêm yết tại nơi dễ thấy, dễ đọc;

3- Có khu vực chứa phân bón; có kệ hoặc bao lót để xếp đặt hàng;

4- Người trực tiếp bán phân bón phải có Giấy chứng nhận bồi dưỡng chuyên môn về phân bón, trừ trường hợp đã có trình độ trung cấp trở lên một trong các chuyên ngành về lĩnh vực trồng trọt, bảo vệ thực vật, nông hóa thổ nhưỡng, nông học, hóa học, sinh học.

Trường hợp cơ sở buôn bán phân bón không có cửa hàng phải có đăng ký doanh nghiệp; có địa điểm giao dịch cố định, hợp pháp; có sổ ghi chép việc mua, bán phân bón và đáp ứng quy định về người trực tiếp bán phân bón.

Quy định điều chuyển công trình điện vốn nhà nước sang EVN quản lý

Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Quyết định 41/2017/QĐ-TTg quy định trình tự, thủ tục điều chuyển công trình điện được đầu tư bằng vốn nhà nước sang Tập đoàn Điện lực Việt Nam quản lý.

Trong đó, cơ quan, tổ chức, đơn vị có công trình điện được đầu tư bằng vốn nhà nước lập hồ sơ đề nghị điều chuyển, gửi cơ quan quản lý cấp trên (nếu có) để báo cáo bộ, cơ quan trung ương đối với cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc trung ương quản lý, UBND cấp tỉnh đối với cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc địa phương quản lý.

Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày có Quyết định điều chuyển của Thủ tướng Chính phủ, Bên giao chủ trì, phối hợp với Bên nhận thực hiện tổ chức bàn giao, tiếp nhận công trình điện kèm theo hồ sơ theo quy định.

Việc điều chuyển công trình điện được thực hiện theo phương thức ghi tăng vốn nhà nước đầu tư tại Tập đoàn Điện lực Việt Nam theo giá trị công trình điện giao, nhận và không hoàn trả vốn. Cơ quan, tổ chức, đơn vị có công trình điện bàn giao thực hiện ghi giảm tài sản, nguyên giá, giá trị còn lại của tài sản tại cơ quan, tổ chức, đơn vị theo quy định của pháp luật.

Xử lý đất gắn liền với công trình điện được giao

Quyết định quy định cụ thể về xử lý đất gắn liền với công trình điện được bàn giao. Theo đó, trường hợp công trình điện nằm trong khuôn viên trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp, nằm trong phạm vi tài sản kết cấu hạ tầng mà không thể tách khỏi khuôn viên trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp, phạm vi tài sản kết cấu hạ tầng, Bên giao tiếp tục quản lý, sử dụng phần diện tích đất gắn liền với công trình điện được bàn giao; thực hiện ký thỏa thuận với Bên nhận và có trách nhiệm bảo đảm các điều kiện thuận lợi cho Bên nhận thực hiện bảo dưỡng, sửa chữa, quản lý vận hành công trình điện được nhận bàn giao.

Trường hợp công trình điện nằm ngoài khuôn viên trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp, phạm vi tài sản kết cấu hạ tầng hoặc có thể tách khỏi khuôn viên trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp, phạm vi tài sản kết cấu hạ tầng thì thực hiện bàn giao, tiếp nhận cả diện tích đất gắn liền với công trình điện. Bên nhận có trách nhiệm phối hợp với Bên giao liên hệ với các cơ quan chức năng của địa phương để làm thủ tục thuê đất đối với phần diện tích đất gắn liền với công trình điện nhận bàn giao. Phần diện tích đất gắn liền với công trình điện thuộc đối tượng chưa thu tiền thuê đất, tiền sử dụng đất.

Thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi DA hỗ trợ, tái định cư sân bay Long Thành

Thủ tướng Chính phủ đồng ý Hội đồng thẩm định nhà nước tổ chức thực hiện Kế hoạch thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi Dự án thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư Cảng hàng không quốc tế Long Thành.

Để đảm bảo kịp thời gian Chính phủ trình Quốc hội tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XIV xem xét, thông qua Báo cáo nghiên cứu khả thi Dự án thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư Cảng hàng không quốc tế Long Thành theo đúng quy định của Quốc hội tại Nghị quyết số 38/2017/QH14 ngày 19/6/2017, Thủ tướng Chính phủ đồng ý Hội đồng thẩm định nhà nước tổ chức thực hiện Kế hoạch thẩm định Báo cáo dự án như đề nghị của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư; Chủ tịch Hội đồng thẩm định tự quyết định về việc thuê tư vấn thẩm tra và chịu trách nhiệm về chất lượng công tác thẩm định Báo cáo dự án theo quy định.

Trên cơ sở kết quả thẩm định, UBND tỉnh Đồng Nai có trách nhiệm nghiên cứu, tiếp thu ý kiến của Hội đồng thẩm định, hoàn thiện hồ sơ Báo cáo dự án; đồng thời, chủ trì, phối hợp với Bộ Giao thông vận tải chuẩn bị nội dung Tờ trình của Chính phủ trình Quốc hội và báo cáo Chính phủ xem xét, quyết định tại Phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 9/2017.

Căn cứ  ý kiến của các Thành viên Chính phủ tại Phiên họp Chính phủ nêu trên, UBND tỉnh Đồng Nai phối hợp với Bộ Giao thông vận tải để hoàn thiện nội dung Tờ trình và hồ sơ Báo cáo dự án. Thủ tướng Chính phủ giao Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải thừa ủy quyền Thủ tướng Chính phủ thay mặt Chính phủ ký Tờ trình của Chính phủ báo cáo Quốc hội về Báo cáo dự án theo quy định của Quốc hội tại Nghị quyết số 38/2017/QH14 ngày 19/6/2017.

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Giao thông vận tải, UBND tỉnh Đồng Nai và các cơ quan, đơn vị liên quan khẩn trương triển khai thực hiện.

Lựa chọn nhà đầu tư DA đường vành đai II Hà Nội

Thủ tướng Chính phủ đồng ý UBND thành phố Hà Nội áp dụng Điều 26 Luật Đấu thầu về lựa chọn nhà đầu tư trong trường hợp đặc biệt đối với Dự án xây dựng tuyến đường bộ trên cao dọc đường vành đai II đoạn từ cầu Vĩnh Tuy đến Ngã Tư Sở, kết hợp với mở rộng theo quy hoạch phần đi bằng đoạn Vĩnh Tuy đến ngã tư Vọng, thành phố Hà Nội theo hình thức Hợp đồng BT.

Trong đó lưu ý đảm bảo công khai minh bạch, không để thất thoát tài sản nhà nước; UBND thành phố Hà Nội chịu trách nhiệm thực hiện các kiến nghị của Bộ Kế hoạch và đầu tư, trong đó yêu cầu phải kiểm soát chặt chẽ giá trị công trình BT và giá trị quỹ đất đối ứng cho nhà đầu tư trên cơ sở tương ứng với giá trị BT đã lập, phù hợp với giá thị trường, đảm bảo không thất thoát tài sản nhà nước; giám sát chất lượng công trình chặt chẽ theo quy định hiện hành.

Khi tiến hành thanh, quyết toán công trình, yêu cầu UBND thành phố Hà Nội xin ý kiến hướng dẫn của Bộ Tài chính, Bộ Tài nguyên và Môi trường để bảo đảm thực hiện theo quy định, không để thất thoát tài sản nhà nước; chống tiêu cực, lãng phí.

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu UBND thành phố Hà Nội chịu trách nhiệm toàn diện trong quá trình triển khai đầu tư dự án theo đúng quy định của pháp luật và chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại văn bản số 35/TB-VPCP ngày 25/1/2017 của Văn phòng Chính phủ.

Chấn chỉnh tồn tại trong quản lý rừng tại Phú Yên

Phó Thủ tướng Thường trực Trương Hòa Bình đã chỉ đạo xử lý kết quả kiểm tra việc chấp hành pháp luật về quản lý đầu tư xây dựng đối với một số dự án có liên quan đến việc chuyển mục đích sử dụng rừng và đất rừng tại tỉnh Phú Yên.

Thông báo số 443/TB-VPCP của Văn phòng Chính phủ cho biết, ngày 6/9/2017, tại trụ sở Chính phủ, Phó Thủ tướng Thường trực Trương Hòa Bình đã chủ trì cuộc họp chỉ đạo xử lý kết quả kiểm tra việc chấp hành pháp luật về quản lý đầu tư xây dựng đối với một số dự án có liên quan đến việc chuyển mục đích sử dụng rừng và đất rừng tại tỉnh Phú Yên.

Tại cuộc họp, Phó Thủ tướng đã giao Chủ tịch UBND tỉnh Phú Yên nghiêm túc tổ chức thực hiện các kiến nghị của Thanh tra Chính phủ; chấn chỉnh, khắc phục xử lý những tồn tại, sai phạm để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực quản lý đầu tư xây dựng, quản lý sử dụng đất đai, nâng cao vai trò, trách nhiệm các đơn vị chức năng trong tỉnh; tổ chức kiểm điểm rút kinh nghiệm, có hình thức xử lý thích hợp đối với các tập thể, cá nhân có vi phạm theo đúng quy định.

Các Bộ: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tài nguyên và Môi trường, Xây dựng kiểm điểm, rút kinh nghiệm về công tác chỉ đạo, hướng dẫn công tác quản lý nhà nước chuyên ngành thuộc chức năng của Bộ; theo dõi, giám sát việc tổ chức thực hiện các kiến nghị của Thanh tra Chính phủ, nhằm chấn chỉnh những tồn tại trong công tác quản lý, sử dụng đất đai, quản lý, bảo vệ và phát triển rừng tại tỉnh Phú Yên.

Kiểm tra việc chuyển mục đích sử dụng rừng đặc dụng Đèo Cả

Phó Thủ tướng giao Thanh tra Chính phủ chủ trì, phối hợp với các Bộ: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Công an, Tài nguyên và Môi trường, Xây dựng và các cơ quan chức năng, các cơ quan trong hệ thống chính trị, các tổ chức chính trị xã hội trên địa bàn (Mặt trận tổ quốc Việt Nam, Hội cựu chiến binh, Phụ nữ, Thanh niên, …) thành lập Tổ công tác kiểm tra, xác minh việc chuyển mục đích sử dụng (khoảng 16 ha) rừng đặc dụng Đèo Cả để thực hiện Dự án khai thác khoáng sản đất, san lấp vật liệu xây dựng thông thường phục vụ thi công dự án Hầm đường bộ Đèo Cả của Công ty cổ phần tập đoàn Hải Thạch, kiến nghị Thủ tướng Chính phủ biện pháp giải quyết theo quy định của pháp luật.

Phó Thủ tướng cũng yêu cầu UBND tỉnh Phú Yên khẩn trương rà soát lại hiện trạng và tính toán hiệu quả kinh tế - xã hội của các dự án có liên quan đến chuyển mục đích sử dụng rừng và đất rừng trên địa bàn toàn tỉnh, trao đổi, thống nhất với các Bộ: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tài nguyên và Môi trường và các cơ quan liên quan để xem xét xử lý các tồn tại, vướng mắc theo thẩm quyền, đúng quy định của pháp luật.

Riêng Dự án khu du lịch liên hợp cao cấp New City Việt Nam, yêu cầu Thanh tra Chính phủ tiếp tục kiểm tra có kết luận rõ đúng sai về dư luận báo chí phản ảnh (trong đó Báo Tuổi trẻ nêu phá hàng trăm ha rừng xây sân golf, khách sạn, resort nhưng đến nay vẫn chưa có hồ sơ xin phép Thủ tướng Chính phủ cho chuyển mục đích sử dụng đất theo quy định…)

UBND tỉnh Phú Yên chủ động cung cấp thông tin về việc xử lý, tuyên truyền, vận động nhân dân địa phương hiểu và ủng hộ; chủ động cung cấp thông tin kịp thời cho các cơ quan báo, đài, tránh thông tin thất thiệt, phiến diện.

Thái Nguyên cần tập trung phát triển các lĩnh vực có thế mạnh

Văn phòng Chính phủ vừa có thông báo kết luận của Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh tại buổi làm việc với lãnh đạo tỉnh Thái Nguyên.

Trong 8 tháng đầu năm 2017, kinh tế - xã hội của tỉnh Thái Nguyên tiếp tục chuyển biến tích cực: Tăng trưởng kinh tế đạt 14,1%; giá trị sản xuất công nghiệp tăng 18,1%; xuất khẩu ước đạt 15,43 tỷ USD, tăng 26,7%; thu ngân sách đạt 8.409 tỷ đồng, tăng 34,8%, trong đó thu nội địa tăng 38%; khách du lịch đạt trên 1,7 triệu lượt (trên 32 nghìn lượt khách quốc tế). Thu hút đầu tư nước ngoài (FDI) tăng mạnh với tổng vốn đăng ký trên 7,2 tỷ USD. Các dự án sử dụng nguồn vốn ODA trên địa bàn tỉnh được tích cực triển khai, tiến độ giải ngân tốt, đáp ứng yêu cầu của nhà tài trợ...

Tuy nhiên, Thái Nguyên còn có những bất cập, hạn chế, điểm nghẽn cản trở tốc độ phát triển như: chưa phát huy tốt lợi thế so sánh, tiềm năng để phục vụ nhu cầu phát triển; du lịch - dịch vụ chưa phát triển tương xứng với tiềm năng, lợi thế; kết cấu hạ tầng kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học - công nghệ, giao thông chưa đồng bộ, chất lượng chưa cao, nhất là ở địa bàn huyện, xã nông thôn và miền núi; liên kết vùng còn hạn chế...

Để phát huy kết quả đã đạt được, khắc phục tồn tại, hạn chế, phấn đấu quyết liệt hoàn thành các mục tiêu đề ra, Phó Thủ tướng yêu cầu tỉnh Thái Nguyên cải cách cơ chế, thể chế, cải thiện môi trường đầu tư theo tinh thần Chính phủ đồng hành cùng doanh nghiệp như đã đề ra trong các Nghị quyết số 19-2017/NQ-CP ngày 06/2/2017, Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 16/5/2016, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư tiếp cận và triển khai dự án, phát triển sản xuất kinh doanh, đóng góp vào sự phát triển của tỉnh nói riêng và cả nước nói chung. Tiếp nhận ý kiến của người dân và doanh nghiệp, giải quyết hiệu quả những vấn đề nổi cộm, bức xúc trong xã hội.

Đồng thời có các giải pháp thiết thực, phù hợp để phấn đấu đạt và vượt các chỉ tiêu kinh tế - xã hội đã đề ra cho năm 2017, góp phần vào tăng trưởng GDP 6,7% của cả nước, tạo nền tảng cho các năm tiếp theo. Đẩy mạnh công tác phối hợp, liên kết với các ngành, địa phương liên quan, đặc biệt là vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc. Tập trung phát triển các lĩnh vực có thế mạnh, mang tính đột phá như: Xuất nhập khẩu, công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp luyện kim, khai khoáng, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao…

Tăng cường thu hút đầu tư trong và ngoài nước

Phó Thủ tướng yêu cầu tỉnh Thái Nguyên tăng cường thu hút đầu tư trong và ngoài nước nhất là các dự án FDI chất lượng cao, công nghệ cao, thân thiện với môi trường, tạo nguồn thu cho ngân sách; không tiếp nhận những dự án có công nghệ lạc hậu; gắn kết doanh nghiệp địa phương với doanh nghiệp FDI. Lựa chọn phát triển các sản phẩm công nghiệp có giá trị gia tăng cao, các sản phẩm công nghệ cao, nhất là các sản phẩm điện tử, sản phẩm công nghệ thông tin, các dịch vụ tư vấn, dịch vụ kỹ thuật cao... ứng dụng mạnh mẽ khoa học công nghệ trong sản xuất, kinh doanh.

Thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội, công tác giải quyết việc làm, chăm lo đối với người có công, người nghèo, đối tượng bảo trợ xã hội, đồng bào dân tộc...; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, giải quyết việc làm cho lao động ở vùng nông thôn và các khu tái định cư; tăng cường xây dựng thiết chế văn hóa cho công nhân trong các khu công nghiệp; khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, đẩy mạnh công tác bảo vệ môi trường đô thị, khu công nghiệp.

Tỉnh Thái Nguyên cần đẩy nhanh tiến độ thực hiện, giải ngân vốn đầu tư các nguồn vốn chương trình mục tiêu quốc gia, nhất là đầu tư tư nhân và FDI, ODA. Đối với các dự án ODA đang triển khai, cần chỉ đạo quyết liệt để tháo gỡ khó khăn, nhất là công tác giải phóng mặt bằng, ưu tiên bố trí đủ vốn đối ứng; chủ động làm việc với nhà đầu tư, phối hợp với các Bộ ngành để tháo gỡ khó khăn vướng mắc, đưa các dự án sớm đi vào hoạt động. Rà soát tiến độ, xem xét điều chỉnh kế hoạch vốn đã phân bổ cho các chương trình, dự án không có khả năng giải ngân sang các chương trình, dự án có khả năng giải ngân tốt, ưu tiên các chương trình, dự án kết thúc Hiệp định năm 2017.

Năm APEC 2017, tỉnh Thái Nguyên đẩy mạnh hơn nữa công tác xúc tiến, quảng bá tiềm năng, lợi thế của tỉnh, thu hút huy động các nguồn vốn đầu tư ngoài ngân sách nhà nước. Chú trọng kiểm soát chất lượng dịch vụ, nâng cao tính chuyên nghiệp; bảo đảm an toàn, an ninh, vệ sinh môi trường, phát triển dịch vụ du lịch thu hút khách du lịch quốc tế; thúc đẩy chế biến, xuất khẩu nông, lâm, thủy sản; tuyên truyền, giám sát và thực hiện các biện pháp phòng chống các dịch bệnh, bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm từ cấp tỉnh đến cấp xã./.