(Chinhphu.vn) – Thông cáo báo chí của VPCP về thông tin chỉ đạo điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

Nhiều chính sách thúc đẩy liên kết vùng

Thủ tướng Chính phủ vừa có văn bản trả lời chất vấn đại biểu Quốc hội Lê Công Đỉnh, Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Long An về các chính sách thúc đẩy, triển khai liên kết vùng.

Văn bản cho biết, thời gian qua Đảng, Nhà nước và Chính phủ đã có nhiều cơ chế, chính sách thúc đẩy, triển khai liên kết vùng, kết quả ban đầu đã mang lại với nhiều chuyển biến tích cực.

Cụ thể, về khung khổ pháp lý, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành 3 Quyết định về: (i) Thành lập Tổ chức điều phối phát triển các vùng kinh tế trọng điểm giai đoạn 2015-2020 (Quyết định số 941/QĐ-TTg ngày 25/6/2015); (ii) Thành lập Ban chỉ đạo, Hội đồng vùng kinh tế trọng điểm giai đoạn 2015-2020 (Quyết định số 2059/QĐ-TTg ngày 24/11/2015); (iii) Quy chế tổ chức hoạt động và phối hợp của Tổ chức điều phối phát triển các vùng kinh tế trọng điểm giai đoạn 2015-2020 (Quyết định số 2360/QĐ-TTg ngày 22/12/2015). Gần đây, Luật Quy hoạch đã được Quốc hội khóa XIV, kỳ họp thứ 4 thông qua và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2019, theo đó quy hoạch vùng sẽ được lập để phù hợp với quy định của Luật Quy hoạch.

Trên cơ sở bộ máy hoạt động được thành lập, các vùng đã chủ động lên kế hoạch điều phối cho từng vùng kinh tế trọng điểm giai đoạn 2016-2020 và đang triển khai kế hoạch này hàng năm. Các vùng đã có các hoạt động thiết thực, phối hợp cùng nhau trong phát triển kinh tế xã hội, cụ thể: Phối hợp lập danh sách các dự án ưu tiên đầu tư có tính liên vùng (vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc); tổ chức các hội thảo về vấn đề liên kết hậu cần của vùng, liên kết các khu công nghiệp, khu kinh tế (vùng kinh tế trọng điểm miền Trung); thành lập các Tổ điều phối chuyên đề cấp vùng (vùng kinh tế trọng điểm phía Nam); thống nhất thông qua kế hoạch liên kết phối hợp toàn vùng giai đoạn 2016-2020 (vùng kinh tế trọng điểm Đồng bằng sông Cửu Long). Thông qua các hoạt động trên, các vùng và các địa phương đã nâng cao nhận thức rõ rệt về vai trò của liên kết vùng trong phát triển kinh tế - xã hội.

Về thí điểm liên kết vùng, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 593/QĐ-TTg ngày 6/4/2016 về Quy chế thí điểm liên kết phát triển kinh tế - xã hội vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Đồng thời, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định 2220/QĐ-TTg ngày 17/11/2016 về kế hoạch triển khai thực hiện Quyết định số 593/QĐ-TTg ngày 6/4/2016. Hiện nay, các địa phương và các bộ, ngành đang tích cực triển khai, xây dựng và ban hành kế hoạch hành động để thực hiện các nhiệm vụ được giao để thực hiện liên kết phát triển kinh tế - xã hội vùng ĐBSCL, cụ thể trên các lĩnh vực quy hoạch, đầu tư, sản xuất, liên kết ứng phó với biến đổi khí hậu, xúc tiến đầu tư.

Vấn đề về quy hoạch vùng ĐBSCL, ngày 29/4/2016, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt danh mục Dự án “Chống chịu khí hậu tổng hợp và sinh kế bền vững vùng ĐBSCL” với tổng mức đầu tư là 384,979 triệu USD, vay vốn Ngân hàng Thế giới.

Theo đó, Bộ Kế hoạch và Đầu tư được giao thực hiện “Đề án phát triển tổng thể kết cấu hạ tầng thích ứng với biến đổi khí hậu phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội vùng ĐBSCL” nằm trong Hợp phần 1 của Dự án với tổng mức vốn đầu tư của Tiểu dự án 6 là 10,5 triệu USD. Thông qua Đề án này, Bộ Kế hoạch và Đầu tư sẽ tổ chức lập Quy hoạch vùng ĐBSCL giai đoạn 2021-2030 theo phương pháp tích hợp đa ngành. Quy hoạch vùng ĐBSCL mới sẽ tạo ra một khung chiến lược toàn diện cho vùng ĐBSCL, làm cơ sở để triển khai các chương trình, dự án đầu tư phát triển đồng bộ hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, hạ tầng sản xuất cũng như việc khai thác, sử dụng hiệu quả các nguồn lực trên cơ sở phát huy những tiềm năng, lợi thế của vùng ĐBSCL trong điều kiện biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nhanh, bền vững. Thời gian hoàn thành quy hoạch theo phương pháp tích hợp đa ngành vùng ĐBSCL dự kiến trong năm 2019.

Trên cơ sở kết quả của Hội nghị về phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng với biến đổi khí hậu ngày 26 - 27/9/2017, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 120/NQ-CP ngày 17/11/2017 về phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng với biến đổi khí hậu. Nghị quyết đã đề cập khá toàn diện các vấn đề mang tính chiến lược, căn bản, lâu dài đối với phát triển ĐBSCL, đưa ra các giải pháp tổng thể về quy hoạch, tổ chức không gian, cơ cấu kinh tế, liên kết vùng và huy động nguồn lực cho phát triển, đồng thời giao nhiệm vụ cụ thể cho các Bộ, ngành, địa phương. Nghị quyết này là cơ sở pháp lý để các bộ, ngành cụ thể hóa bằng kế hoạch hành động cụ thể, giúp việc liên kết Vùng được triển khai hiệu quả và thực chất hơn.

Ngoài ra, hiện Bộ Kế hoạch và Đầu tư được giao xây dựng Nghị định về phát triển vùng kinh tế động lực (theo Nghị quyết số 27/NQ-CP ngày 21/2/2017 của Chính phủ về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 05-NQ/TW ngày 1/11/2016 và Nghị quyết Quốc hội số 24/2016/QH14 ngày 08/11/2016). Nghị định này sẽ tạo thêm cơ chế cho các vùng có điều kiện, lợi thế đặc thù để phát triển kinh tế vùng và thực hiện liên kết vùng.

Bỏ chính sách hỗ trợ trực tiếp cho người dân thuộc hộ nghèo ở vùng khó khăn

Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định 25/2018/QĐ-TTg bãi bỏ Quyết định số 102/2009/QĐ-TTg ngày 7/8/2009 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ trực tiếp cho người dân thuộc hộ nghèo ở vùng khó khăn.

Các địa phương được sử dụng nguồn kinh phí thực hiện Quyết định số 102/2009/QĐ-TTg đã được bố trí ổn định trong dự toán chi thường xuyên thời kỳ ổn định ngân sách địa phương 2017 - 2020 để chi trả thay phần ngân sách trung ương hỗ trợ để thực hiện chính sách an sinh xã hội trên địa bàn theo quy định tại Quyết định 579/QĐ-TTg ngày 28/4/2017 của Thủ tướng Chính phủ về nguyên tắc hỗ trợ có mục tiêu từ ngân sách trung ương cho ngân sách địa phương thực hiện các chính sách an sinh xã hội giai đoạn 2017 - 2020.

Theo Ủy ban Dân tộc, với nguồn kinh phí được giao, các địa phương đã triển khai xuống các cấp cơ sở để hỗ trợ trực tiếp cho đồng bào nhất là hình thức hỗ trợ tiền mặt. Người dân hộ nghèo đã sử dụng số tiền hỗ trợ để mua sắm những vật dụng cần thiết cho đời sống hoặc những dụng cụ lao động, vật tư để phục vụ cho sản xuất. Đối với các tỉnh lựa chọn hình thức hỗ trợ trực tiếp bằng hiện vật hầu hết đã hỗ trợ theo đúng danh mục hỗ trợ hiện vật như: Giống cây trồng, vật nuôi, thuốc thú y, muối iốt.

Qua 8 năm thực hiện, chính sách hỗ trợ trực tiếp cho người dân thuộc hộ nghèo ở vùng khó khăn đã hỗ trợ trên 40 triệu lượt người, góp phần thiết thực trong việc cải thiện đời sống của người dân thuộc hộ nghèo và phát triển kinh tế xã hội ở vùng khó khăn. Những kết quả đạt được trong quá trình thực hiện chính sách có ý nghĩa sâu sắc, tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc và miền núi nói chung và vùng khó khăn nói riêng.

Tuy nhiên, do những thay đổi về cơ chế chính sách, sự chuyển mình của nền kinh tế, các chính sách theo Quyết định 102/2009/QĐ-TTg không còn phù hợp cần được điều chỉnh cho phù hợp với tình hình thực tế hiện nay. Do giai đoạn trước chính sách thiết kế là hỗ trợ trực tiếp bằng hình thức cho không nên chỉ thích hợp trong thời gian ngắn hạn, hiệu quả lâu dài còn hạn chế và thiếu tính bền vững; xuất hiện một bộ phận người dân trông chờ ỷ lại vào chính sách của nhà nước, không có ý thức tự vươn lên thoát nghèo. Chính sách hỗ trợ thực hiện trong thời gian dài, nhưng định mức hỗ trợ không được điều chỉnh, còn quá thấp, chưa đủ mạnh để hỗ trợ phát triển sản xuất, xóa đói giảm nghèo ở vùng khó khăn, chưa đạt mục tiêu chính sách đề ra. Hiện nay, bên cạnh chính sách hỗ trợ trực tiếp cho người nghèo vùng khó khăn, đã có các chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất khác cho người nghèo vùng khó khăn (Chương trình mục tiêu quốc gia, các chính sách do Ủy ban Dân tộc quản lý...) càng làm cho hiệu quả và ý nghĩa của chính sách hỗ trợ trực tiếp theo Quyết định 102/2009/QĐ-TTg ngày càng không có ý nghĩa trên thực tế.

Chủ trương của Chính phủ hiện nay là rà soát, tích hợp, bãi bỏ chính sách giảm nghèo giai đoạn 2017 - 2020 nhằm giảm chính sách hỗ trợ cho không, tăng chính sách hỗ trợ có điều kiện gắn với đối tượng, địa bàn và thời hạn thụ hưởng, tăng cơ hội tiếp cận chính sách và khuyến khích sự tích cực, chủ động tham gia của người nghèo; ưu tiên tăng nguồn lực đầu tư phát triển vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số, huyện nghèo, xã nghèo, xã, thôn bản đặc biệt khó khăn… Từ những yêu cầu này, kết hợp với đề xuất kiến nghị của các địa phương, việc bãi bỏ Quyết định 102 trong giai đoạn này là cần thiết, để lồng ghép nguồn lực thực hiện các chương trình chính sách dân tộc khác, đặc biệt là các chương trình, chính sách đang thực hiện tại vùng đặc biệt khó khăn nhưng chưa được bố trí vốn.

Thủ tướng trả lời chất vấn về dự án đường tránh sân bay Liên Khương - QL27

Thủ tướng Chính phủ vừa có văn bản trả lời chất vấn của Đại biểu Nguyễn Tạo, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Lâm Đồng.

Tại Kỳ họp thứ 5, Quốc hội Khóa XIV, Đại biểu Nguyễn Tạo, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Lâm Đồng có chất vấn Thủ tướng về việc xử lý vốn cho dự án đường tránh sân bay Liên Khương - Quốc lộ 27 để công trình sớm được tiếp tục triển khai thi công nhằm hạn chế tình trạng xuống cấp gây lãng phí cho ngân sách Nhà nước.

Trả lời chất vấn trên, Thủ tướng Chính phủ cho biết, xác định vai trò quan trọng của các tuyến quốc lộ qua địa bàn tỉnh Lâm Đồng, đặc biệt là quốc lộ 27; Chính phủ đã có Tờ trình số 168/TTr-CP ngày 10/5/2018 báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội đề nghị thông qua phương án sử dụng số vốn 15.000 tỷ đồng từ nguồn vốn dự phòng của Kế hoạch trung hạn vốn ngân sách nhà nước giai đoạn 2016-2020 cho các dự án đường sắt quan trọng và các dự án đường bộ quan trọng, cấp bách, trong đó đã bao gồm Quốc lộ 27 đoạn tránh sân bay Liên Khương với kinh phí dự kiến khoảng 193 tỷ đồng để hoàn thành dứt điểm, sớm đưa dự án vào khai thác, phát huy hiệu quả vốn đầu tư.

Sau khi được Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua, Thủ tướng Chính phủ sẽ quyết định giao vốn và chỉ đạo Bộ Giao thông vận tải triển khai dự án theo quy định.

Hà Nội: Chuyển 4 đơn vị sự nghiệp thành công ty cổ phần

Thủ tướng Chính phủ đồng ý chuyển 4 đơn vị sự nghiệp công lập thuộc UBND TP. Hà Nội thành công ty cổ phần, Nhà nước nắm giữ dưới 50% vốn điều lệ hoặc không nắm giữ cổ phần, thực hiện trong giai đoạn 2018 - 2020.

4 đơn vị trên gồm: Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường Hà Nội, Trung tâm Đào tạo Công nghệ thông tin và Tryền thông Hà Nội, Nhà Khách UBND TP. Hà Nội, Trung tâm kiểm định kỹ thuật an toàn Hà Nội.

Thủ tướng Chính phủ cũng yêu cầu UBND TP. Hà Nội thực hiện cổ phần hóa Trung tâm Đăng kiểm xe cơ giới Hà Nội theo đúng chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại công văn số 1023/TTg-ĐMDN ngày 13/7/2017 và quy định của pháp luật hiện hành.

UBND TP. Hà Nội chỉ đạo 5 đơn vị sự nghiệp công lập trên thực hiện rà soát, xử lý đất đai và triển khai cổ phần hóa theo đúng quy định tại Quyết định số 22/2015/QĐ-TTg ngày 22/6/2015 về chuyển đơn vị sự nghiệp công lập thành công ty cổ phần, Quyết định số 31/2017/QĐ-TTg ngày 17/7/2017 về tiêu chí, danh mục ngành, lĩnh vực thực hiện chuyển đơn vị sự nghiệp công lập thành công ty cổ phần và các văn bản pháp luật liên quan, bảo đảm phương án tiếp tục cung cấp dịch vụ với chất lượng tốt; trình Thủ tướng Chính phủ phương án chuyển đổi các đơn vị sự nghiệp công lập trên thành công ty cổ phần.

Sau khi cổ phần hóa, UBND TP. Hà Nội là cơ quan đại diện chủ sở hữu phần vốn nhà nước tại các công ty cổ phần (nếu còn vốn nhà nước).

Hà Nam xây dựng sản phẩm du lịch đặc thù mang dấu ấn địa phương

Tỉnh Hà Nam cần đẩy mạnh thu hút đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng khu du lịch, nâng cao năng lực lưu trú, phát triển nguồn nhân lực du lịch. Xây dựng sản phẩm du lịch đặc thù mang dấu ấn địa phương, tăng cường liên kết hợp tác, đẩy mạnh công tác truyền thông quảng bá. Phấn đấu đến năm 2020 thu hút được 2 triệu khách du lịch.

Đó là nội dung tại Thông báo kết luận của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc tại buổi làm việc với lãnh đạo tỉnh Hà Nam.

Cũng tại Thông báo này, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Tỉnh tập trung triển khai thực hiện đồng bộ, hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp đề ra trong Nghị quyết của Đảng, Quốc hội và Chính phủ; rà soát, đánh giá tình hình và kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh, phấn đấu hoàn thành vượt mức các mục tiêu, nhiệm vụ đề ra cho năm 2018, tạo nền tảng vững chắc cho những năm tiếp theo. Tập trung quản lý chặt chẽ quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch đô thị; quy hoạch và quản lý khoáng sản trên địa bàn tỉnh (việc đấu thầu khai thác, hiệu quả sử dụng tài nguyên khoáng sản), đảm bảo môi trường sinh thái, cảnh quan. Tiếp tục nghiên cứu các cơ chế, giải pháp đột phá khai thác tiềm năng, lợi thế, phấn đấu đến cuối năm 2019 tỉnh Hà Nam tự cân đối được ngân sách.

Đẩy mạnh phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với đô thị hóa, xây dựng nông thôn mới phát triển bền vững. Đổi mới phương thức thu hút đầu tư, tăng cường xã hội hóa, huy động các nguồn vốn đầu tư ngoài ngân sách, thực hiện đa dạng hóa các hình thức đầu tư, sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho đầu tư phát triển. Phát triển mạnh các khu công nghiệp hiện có, theo hướng công nghệ cao, thân thiện với môi trường.

Đổi mới mô hình sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, tiếp tục thí điểm tích tụ ruộng đất để sản xuất hàng hóa, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, xây dựng các hợp tác xã nông nghiệp sản xuất nông sản sạch; thúc đẩy phát triển đàn bò sữa, bò thịt, bò sinh sản... gắn với các dự án chế biến nông sản. Đồng thời tiếp tục mở rộng, phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm hàng hóa.

Bên cạnh đó, đẩy mạnh cải cách hành chính, trọng tâm là cải cách thủ tục hành chính phục vụ người dân và doanh nghiệp; nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh. Xây dựng đội ngũ cán bộ đủ uy tín, năng lực, phẩm chất, bảo đảm đáp ứng yêu cầu công việc; nâng cao chất lượng và trách nhiệm cán bộ, công chức trong thực thi nhiệm vụ, công vụ, nhất là trách nhiệm người đứng đầu; cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, tăng sức hấp dẫn đầu tư cho tỉnh Hà Nam, thu hút các doanh nghiệp công nghiệp lớn, có sản phẩm giá trị gia tăng cao của khu vực và thế giới tới đầu tư. Tập trung phát triển doanh nghiệp, khuyến khích đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp, chuyển đổi hộ kinh doanh cá thể sang doanh nghiệp. Phấn đấu đến năm 2020 tăng gấp 2 lần số doanh nghiệp (so với số hiện nay là 5.150 doanh nghiệp).

Thực hiện tốt chế độ, chính sách đối với người có công, bảo đảm an sinh xã hội. Chú trọng phát triển nguồn nhân lực trình độ cao; quan tâm công tác đào tạo nghề và chăm lo đời sống cho công nhân, giải quyết việc làm cho người lao động. Tăng cường phối hợp chặt chẽ với các cơ quan trong việc triển khai xây dựng thiết chế công đoàn cho công nhân, người lao động tại khu chế xuất, khu công nghiệp; ưu tiên quy hoạch quỹ đất, tạo điều kiện thuận lợi, cơ chế chính sách ưu đãi, thực hiện nhiều giải pháp huy động nguồn vốn xã hội hóa để thu hút đầu tư phát triển nhà ở, hạ tầng phúc lợi công cộng cho công nhân, người lao động tại các khu công nghiệp.

Không phát triển thêm các nhà máy xi-măng

Thủ tướng Chính phủ cũng yêu cầu Tỉnh triển khai xây dựng hệ thống xử lý nước thải, khói bụi để giảm thiểu ô nhiễm môi trường ở các làng nghề, cụm công nghiệp, khu dân cư; thu hút đầu tư, xã hội hóa cho công tác bảo vệ môi trường. Không phát triển thêm các nhà máy xi-măng trên địa bàn tỉnh. Bảo vệ nguồn nước sông Nhuệ - sông Đáy. Làm tốt công tác tiếp dân, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo, phòng chống tham nhũng, lãng phí. Bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, môi trường an toàn để doanh nghiệp và người dân đầu tư, sản xuất kinh doanh.

Tỉnh tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ năng lực, phẩm chất và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; cải cách chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và người lao động trong doanh nghiệp; cải cách chính sách bảo hiểm xã hội.

Về giảm thiểu ô nhiễm môi trường nước sông Nhuệ và đẩy nhanh tiến độ thực hiện các chương trình, dự án bảo vệ môi trường lưu vực sông Nhuệ - Đáy, Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp các bộ, cơ quan có liên quan khẩn trương trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Chương trình mục tiêu về xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng thuộc đối tượng công ích giai đoạn 2016 - 2020”.

Về tiến độ thi công cơ sở II của Bệnh viện Bạch Mai và Bệnh viện Việt Đức tại tỉnh Hà Nam, Bộ Y tế thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại văn bản số 4317/VPCP-KGVX ngày 10/5/2018, trong đó cần làm rõ nguyên nhân và trách nhiệm của Bộ Y tế trong việc để chậm tiến độ dự án, yêu cầu Bộ Y tế tập trung chỉ đạo đưa các dự án này vào sử dụng trước tháng 7 năm 2019.

Tổ chức Hội nghị xây dựng NTM tại các thôn, bản khó khăn

Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ, Trưởng Ban Chỉ đạo các Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2016 - 2020 đồng ý với đề nghị của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc tổ chức Hội nghị toàn quốc về xây dựng nông thôn mới tại các thôn, bản khó khăn gắn với giảm nghèo bền vững (Hội nghị).

Theo dự kiến, Hội nghị trên được tổ chức vào giữa tháng 7/2018 tại UBND tỉnh Điện Biên.

Để chuẩn bị nội dung Hội nghị đảm bảo chất lượng, Phó Thủ tướng giao Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Ủy ban Dân tộc và Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên chuẩn bị nội dung báo cáo, chương trình, kịch bản để tổ chức Hội nghị đảm bảo hiệu quả, thiết thực.

Xuất cấp gạo cho tỉnh Kon Tum

Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ vừa ký quyết định giao Bộ Tài chính xuất cấp không thu tiền 160,590 tấn gạo từ nguồn dự trữ quốc gia cho tỉnh Kon Tum để hỗ trợ cứu đói cho nhân dân trong thời gian giáp hạt năm 2018.

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu UBND tỉnh Kon Tum tiếp nhận và sử dụng số gạo được cấp bảo đảm hỗ trợ kịp thời, đúng đối tượng theo quy định./.