(Chinhphu.vn) – Đầu tư vốn Nhà nước vào doanh nghiệp là việc Nhà nước sử dụng vốn từ ngân sách Nhà nước hoặc vốn từ các quỹ do Nhà nước quản lý để đầu tư vào doanh nghiệp.

Ông Trần Thanh Bằng (TPHCM) đề nghị cơ quan chức năng giải đáp vấn đề sau:

Khoản 44, Điều 4 Luật Đấu thầu 43/2013/QH13 quy định “44. Vốn Nhà nước bao gồm vốn ngân sách Nhà nước; công trái quốc gia, trái phiếu chính phủ, trái phiếu chính quyền địa phương; vốn hỗ trợ phát triển chính thức, vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ; vốn từ quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp; vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước; vốn tín dụng do Chính phủ bảo lãnh; vốn vay được bảo đảm bằng tài sản của Nhà nước; vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp Nhà nước; giá trị quyền sử dụng đất”.

Trường hợp A là tập đoàn kinh tế Nhà nước (100% vốn Nhà nước) có sở hữu 90% cổ phần của công ty B (B là công ty cổ phần). Công ty B sở hữu 51% số cổ phần của công ty C. Khi công ty C thực hiện đầu tư (vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp, không vay thương mại) thì nguồn vốn này không phải vốn Nhà nước.

Ông Bằng hỏi, ông hiểu như vậy có đúng không?

Về vấn đề này, Bộ Tài chính có ý kiến như sau:

Tại Khoản 3, Điều 3 Luật số 69/2014/QH13 ngày 26/11/2014 của Quốc hội về quản lý, sử dụng vốn Nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp quy định:

“3. Đầu tư vốn Nhà nước vào doanh nghiệp là việc Nhà nước sử dụng vốn từ ngân sách Nhà nước hoặc vốn từ các quỹ do Nhà nước quản lý để đầu tư vào doanh nghiệp”.

Tại Khoản 1, Khoản 5, Điều 4 Nghị định số 91/2015/NĐ-CP ngày 13/10/2015 của Chính phủ về đầu tư vốn Nhà nước vào doanh nghiệp và quản lý, sử dụng vốn, tài sản tại doanh nghiệp quy định:

“1. Cơ quan đại diện chủ sở hữu là các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ (sau đây gọi là Bộ quản lý ngành); UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi là UBND cấp tỉnh) hoặc tổ chức được thành lập theo quy định của pháp luật.

… 5. Vốn của Nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp khác là vốn Nhà nước đầu tư tại công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên do cơ quan đại diện chủ sở hữu làm chủ sở hữu phần vốn góp”.

Căn cứ vào quy định nêu trên và theo nội dung câu hỏi của ông Bằng nêu trên thì Công ty B là công ty cổ phần, khi công ty B góp 51% cổ phần tại công ty C, phần vốn góp này là vốn của công ty cổ phần B đầu tư tại công ty cổ phần C (không phải vốn của Nhà nước đầu tư tại công ty cổ phần C).

Chinhphu.vn

Từ khóa: Vốn Nhà nước , dự án , công ty cổ phần , chủ sở hữu