(Chinhphu.vn) - Thông cáo báo chí về thông tin chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

Triển khai thi hành Luật Cảnh sát biển Việt Nam năm 2018

Luật Cảnh sát biển Việt Nam số 33/2018/QH14 được Quối hội khóa XIV thông qua tại Kỳ họp thứ 6 ngày 19/11/2018, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2019. Để bảo đảm thi hành Luật Cảnh sát biển Việt Nam năm 2018, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật này.

Theo đó, tháng 3/2019, các bộ, ngành và UBND cấp tỉnh tổ chức kiểm tra, rà soát văn bản quy phạm pháp luật về Cảnh sát biển Việt Nam và văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan, báo cáo về Bộ Quốc phòng để tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ; đề xuất sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ, ban hành mới các văn bản quy phạm pháp luật để phù hợp với Luật.

Bộ Quốc phòng chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật triển khai thi hành Luật có hiệu lực đồng thời với Luật Cảnh sát biển Việt Nam từ ngày 1/7/2019; xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt các Đề án triển khai thực hiện Luật theo Kế hoạch này. Trong đó, Bộ Quốc phòng chủ trì xây dựng Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Cảnh sát biển Việt Nam (Điều 25, 26, 29, 31, 34); Nghị định quy định việc quản lý, sử dụng và danh mục các phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ của Cảnh sát biển Việt Nam (Điều 15); Thông tư của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định quy trình tuần tra, kiểm tra, kiểm soát của Cảnh sát biển Việt Nam (Điều 13); Thông tư của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định điều kiện, tiêu chuẩn tuyển chọn công dân vào Cảnh sát biển Việt Nam (Điều 35); Quyết định của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ban hành quy định về trang bị của Cảnh sát biển Việt Nam (Điều 33); Quyết định của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ban hành Quy chế phối hợp giữa cảnh sát biển Việt Nam và các lực lượng thuộc Bộ Quốc phòng (Điều 22).

Năm 2019 và các năm tiếp theo, Bộ Quốc phòng chủ trì tổ chức truyên truyền, phổ biến Luật và các văn bản quy định chi tiết thi hành với nội dung, hình thức phù hợp cho từng đối tượng nhằm nâng cao nhận thức pháp luật và trách nhiệm xây dựng Cảnh sát biển Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; tương xứng với vị trí, vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn của Cảnh sát biển Việt Nam trong tình hình mới, nhất là tại địa bàn các tỉnh, thành phố ven biển, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa.

Tổ chức tập huấn Luật cho cán bộ chủ trì bộ, ngành trung ương, địa phương, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân và cán bộ có liên quan nhằm nâng cao trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức triển khai đồng bộ, sâu rộng, thiết thực và hiệu quả.

Từ năm 2020 đến năm 2025, Bộ Quốc phòng chủ trì xây dựng Đề án, Kế hoạch củng cố, sắp xếp, cơ cấu lại trung tâm Đào tạo và Bồi dưỡng nghiệp vụ Cảnh sát biển Việt Nam hiện có để cụ thể hóa quan điểm của Đảng tại Nghị quyết hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 (Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22/10/2018).

Kế hoạch triển khai thi hành Luật Công an nhân dân năm 2018

Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật Công an nhân dân năm 2018.

Mục tiêu của Kế hoạch nhằm phân công nhiệm vụ cụ thể cho các bộ, ngành, địa phương triển khai thi hành Luật Công an nhân dân năm 2018 bảo đảm kịp thời, thống nhất, hiệu quả.

Theo Kế hoạch, trong năm 2019 và 2020, Bộ Công an chủ trì biên soạn, in, cấp phát tài liệu, tuyên truyền, phổ biến Luật Công an nhân dân năm 2018 cho cán bộ, chiến sĩ trong Công an nhân dân, cán bộ, công chức và nhân dân; xây dựng và triển khai kế hoạch tập huấn chuyên sâu về Luật Công an nhân dân năm 2018 cho cán bộ lãnh đạo chủ chốt, báo cáo viên pháp luật Công an các cấp, các học viện, nhà trường trong Công an nhân dân.

Cùng với đó, Bộ Thông tin và Truyền thông chủ trì, phối hợp với Bộ Công an, Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật của Chính phủ, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo, hướng dẫn các cơ quan báo chí, phát thanh, truyền hình ở Trung ương và địa phương tuyên truyền, phổ biến Luật Công an nhân dân năm 2018 và các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, biện pháp thi hành.

Các bộ, ngành có liên quan, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm tổ chức tuyên truyền, phổ biến Luật Công an nhân dân năm 2018 trong cơ quan, đơn vị, địa phương.

Để quy định chi tiết, biện pháp thi hành Luật Công an nhân dân năm 2018, Thủ tướng Chính phủ phân công Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp, Bộ Nội vụ, Bộ Quốc phòng và các bộ, ngành có liên quan xây dựng Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định cụ thể chức vụ, chức danh của sĩ quan Công an nhân dân có cấp bậc hàm cao nhất là Trung tướng, Thiếu tướng chưa được quy định cụ thể trong Luật Công an nhân dân năm 2018; Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Công an nhân dân năm 2018 (khoản 4 Điều 33, khoản 3 Điều 39, điểm b khoản 1 Điều 41, điểm a khoản 3 Điều 41, các khoản 6,7 Điều 41, khoản 3 Điều 42); Nghị định quy định về thực hiện nghĩa vụ tham gia Công an nhân dân; Nghị định thay thế Nghị định số 77/2010/NĐ-CP ngày 12/7/2010; Nghị định về phát triển công nghiệp an ninh...

Đồng thời, Bộ Công an xây dựng, ban hành Thông tư quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc Trung ương; Công an xã, phường, thị trấn và các đơn vị còn lại trong Công an nhân dân năm 2018.

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ Công an rà soát, sửa đổi, bổ sung, ban hành mới các thông tư, văn bản cần thiết khác của Bộ trưởng Bộ Công an quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Công an nhân dân năm 2018.

Các bộ, ngành, HĐND, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình xây dựng kế hoạch cụ thể triển khai thi hành Luật Công an nhân dân năm 2018; tổ chức kiểm tra, rà soát, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến Luật Công an nhân dân năm 2018 gửi kết quả về Bộ Công an để tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ; đề xuất sửa đổi, bổ sung thay thế, bãi bỏ, ban hành mới các văn bản quy phạm pháp luật cho phù hợp với Luật Công an nhân dân năm 2018.

Cung ứng dịch vụ truyền hình tuyên truyền về đối ngoại, phòng, chống thiên tai

Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án cung ứng các dịch vụ truyền hình tuyên truyền về đối ngoại; về phòng, chống, giảm nhẹ thiên tai, hiểm họa phục vụ cộng đồng; về nông nghiệp - nông thôn giai đoạn 2018-2020.

Mục tiêu chung của Đề án là thực hiện thông tin tuyên truyền thông qua các chương trình truyền hình nhằm quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam, tạo cầu nối thông tin từ trong nước với người Việt Nam ở nước ngoài và bạn bè quốc tế; nâng cao nhận thức và trang bị kỹ năng cho người dân trong việc chủ động phòng, chống thiên tai, nâng cao kiến thức và kỹ năng sống an toàn, giảm thiểu các nguy cơ về hiểm họa cho cộng đồng, giảm thiểu tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu.

Nâng cao nhận thức của nhân dân ở các vùng nông thôn về chính sách, pháp luật của nhà nước đối với lĩnh vực nông nghiệp, phổ biến kiến thức, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật, giới thiệu mô hình sản xuất nông nghiệp điển hình...

Đề án cũng đưa ra các mục tiêu cụ thể về dịch vụ truyền hình đối ngoại; dịch vụ truyền hình phòng, chống thiên tai, hiểm họa phục vụ cộng đồng; dịch vụ truyền hình nông nghiệp - nông thôn. Trong đó, về dịch vụ truyền hình đối ngoại xây dựng dịch vụ truyền hình đối ngoại trên 1 kênh truyền hình chuyên biệt phục vụ kiều bào nhằm quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam, thông điệp từ Việt Nam ra thế giới và gắn kết người Việt trên khắp thế giới.

Xây dựng dịch vụ truyền hình phòng, chống thiên tai, hiểm họa phục vụ cộng đồng trên 1 kênh truyền hình chuyên biệt nhằm cung cấp kịp thời và chính xác các tin tức thời sự để giúp người dân và cơ quan quản lý phòng, chống có hiệu quả thiên tai, giảm thiểu hậu quả đối với đời sống kinh tế-xã hội.

Đồng thời xây dựng dịch vụ truyền hình nông nghiệp - nông thôn trên 1 kênh truyền hình chuyên biệt nhằm tuyên truyền, phổ biến các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước, các chỉ đạo của Chính phủ liên quan đến nông nghiệp, nông dân, nông thôn; phản ánh tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, đóng góp thông tin phản hồi từ thực tiễn, góp phần xây dựng và hoàn thiện chính sách phục vụ nông nghiệp, nông dân, nông thôn.

Theo Đề án, quy mô dịch vụ truyền hình đối ngoại, hàng năm trung bình sản xuất và phát sóng các chương trình với thời lượng sản xuất mới là 1.364 giờ, cả giai đoạn là 4.092 giờ; dịch vụ truyền hình phòng, chống, giảm nhẹ thiên tai, hiểm họa phục vụ cộng đồng hàng năm trung bình sản xuất và phát sóng các chương trình với thời lượng sản xuất mới là 1.365 giờ, cả giai đoạn là 4.096 giờ; dịch vụ truyền hình nông nghiệp-nông thôn, hàng năm trung bình sản xuất và phát sóng các chương trình với thời lượng sản xuất mới là 1.268 giờ, cả giai đoạn là 3.804 giờ.

Nhiệm vụ điều chỉnh quy hoạch chung TP. Đà Nẵng

Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng vừa ký quyết định phê duyệt Nhiệm vụ điều chỉnh quy hoạch chung thành phố Đà Nẵng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Phạm vi nghiên cứu trực tiếp gồm toàn bộ địa giới hành chính thành phố Đà Nẵng với tổng diện tích 128.543 ha; phạm vi nghiên cứu gián tiếp gồm khu vực các địa phương và vùng kinh tế liền kề với thành phố Đà Nẵng.

Dự báo đến năm 2020 dân số thành phố Đà Nẵng khoảng 1,6 triệu người (cả quy đổi), trong đó dân số chính thức đô thị khoảng 1,3 triệu người; dự báo đến năm 2030 dân số thành phố Đà Nẵng khoảng 2,5 triệu người (cả quy đổi), trong đó dân số chính thức đô thị khoảng 2,3 triệu người

Một trong những yêu cầu trọng tâm nghiên cứu trong nội dung điều chỉnh quy hoạch chung thành phố Đà Nẵng là soát tổng thể về nội dung quy hoạch chung đã được phê duyệt năm 2013, trên cơ sở: Đánh giá tình hình thực tiễn phát triển của thành phố Đà Nẵng; đánh giá các quy hoạch trên địa bàn thành phố Đà Nẵng đã được lập và phê duyệt; rà soát định hướng phát triển không gian đô thị, quy hoạch sử dụng đất, việc đầu tư hạ tầng kỹ thuật và xã hội của thành phố.

Bên cạnh đó, dự báo các nhu cầu phát triển trong giai đoạn mới, trong bối cảnh phát triển của khu vực, các cơ hội phát triển mới, đảm bảo định hướng phát triển cần phải hài hòa với yêu cầu chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển, phát triển thành phố thông minh, thành phố phát triển bền vững.

Đề xuất các giải pháp chiến lược để khắc phục các tồn tại bất cập về quá tải hạ tầng kỹ thuật, đặc biệt hạ tầng giao thông, hạ tầng xã hội; các vấn đề môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu; đề xuất các giải pháp cụ thể về kiểm soát phát triển không gian đô thị, công trình cao tầng; bố trí các không gian công cộng cho dân cư đô thị và khách du lịch; đầu tư hệ thống hạ tầng xã hội theo hướng chất lượng cao và hiện đại.

Nghiên cứu, đề xuất các giải pháp về hạ tầng kỹ thuật như đấu nối các tuyến đường cao tốc, đường quốc lộ; xác định hướng tuyến các đường sắt cao tốc Bắc Nam đi qua thành phố, đường sắt quốc gia, đường sắt đô thị, hệ thống các tuyến vận tải đường biển, đường sông; phát triển hệ thống hạ tầng đầu mối khu vực như: cấp nước sạch, cấp điện, thông tin liên lạc, xử lý nước thải, chất thải rắn và bảo vệ môi trường.

Nghiên cứu đề xuất các khu vực tạo điểm nhấn kiến trúc để tạo bản sắc riêng cho thành phố Đà Nẵng. Đề xuất các quy định quản lý, hướng dẫn kiểm soát phát triển, làm cơ sở xây dựng quy chế quản lý quy hoạch kiến trúc trên địa bàn thành phố phù hợp theo từng giai đoạn, từng bước xây dựng hình ảnh đặc trưng cho quy hoạch kiến trúc đô thị thành phố Đà Nẵng.

Phấn đấu trở thành thành phố xanh, hiện đại - thông minh

Về đánh giá thực trạng phát triển đô thị, trong đó, căn cứ tầm nhìn theo quy hoạch chung năm 2013 là “xây dựng và phát triển thành phố Đà Nẵng trở thành thành phố đặc biệt cấp quốc gia, hướng tới đô thị cấp quốc tế và phát triển bền vững”; để xây dựng tầm nhìn mới theo ý tưởng “Đà Nẵng phấn đấu trở thành thành phố xanh, hiện đại - thông minh, mang tính toàn cầu và có bản sắc, với các đặc trưng: Thành phố xanh; thành phố hiện đại - thông minh: có kết cấu hạ tầng kỹ thuật và cơ chế quản lý hiện đại, ứng dụng các công nghệ hiện đại trên nền tảng cách mạng công nghiệp 4.0; thành phố toàn cầu: có khả năng và sức hút kết nối toàn cầu; thành phố có bản sắc riêng: đáng sống và đáng nhớ”.

Bên cạnh đó, đánh giá lợi thế và hạn chế do vị trí địa lý của thành phố; đánh giá bối cảnh tương quan quốc tế và khu vực, bối cảnh tương quan trong nước, bối cảnh vùng. Đánh giá xu thế phát triển của chuỗi đô thị ven biển tại miền Trung đối với quy hoạch và phát triển của thành phố Đà Nẵng; đánh giá hiện trạng phát triển kinh tế thành phố Đà Nẵng thông qua các chỉ số kinh tế đô thị. Xác định cơ cấu nghề nghiệp, tỷ lệ dân số, lao động, tình hình phân bố dân cư, thu nhập, các hiện tượng dịch cư, các vấn đề do đô thị hóa.

Đồng thời, phân tích, đánh giá về hiện trạng sử dụng đất. Phân tích cấu trúc phân bố các chức năng chính, cấu trúc cảnh quan, các khu vực nổi bật như cửa ngõ đô thị, các khu trung tâm, quảng trường, khu cây xanh, khu vui chơi giải trí, khu chức năng đặc thù, không gian ven biển. Đánh giá thực trạng phát triển của đô thị về đô thị hóa, không gian xanh, điểm nhấn kiến trúc, quản lý đô thị...

Đánh giá hiện trạng các hệ thống hạ tầng kỹ thuật và bảo vệ môi trường bao gồm giao thông, cao độ nền và thoát nước mưa, cấp điện, chiếu sáng và thông tin liên lạc, cấp nước, thoát nước thải và quản lý chất thải rắn, quản lý nghĩa trang, bảo vệ môi trường… trong phạm vi nghiên cứu lập quy hoạch. Xác định những vấn đề còn tồn tại về hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị để đáp ứng tiêu chuẩn đô thị loại I./.


Bùi Anh Thơ