Tải ứng dụng:
BÁO ĐIỆN TỬ CHÍNH PHỦ
Nghị định này quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, bao gồm kết hôn, nhận cha, mẹ, con, nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa người Việt Nam thường trú tại Việt Nam với nhau; công nhận việc kết hôn, nhận cha, mẹ, con, nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với nhau hoặc với người nước ngoài đã được tiến hành tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài.
Theo đó, hồ sơ đăng ký kết hôn của mỗi bên phải có các giấy tờ như: tờ khai đăng ký kết hôn; giấy xác nhận về tình trạng hôn nhân của mỗi bên do cơ quan có thẩm quyền của nước mà người xin kết hôn là công dân cấp chưa quá 6 tháng (có thể thay bằng giấy xác nhận lời tuyên thệ của đương sự là hiện tại họ không có vợ hoặc có chồng, phù hợp với pháp luật của nước mà người xin kết hôn là công dân); giấy xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền của Việt Nam hoặc nước ngoài cấp chưa quá 6 tháng; bản sao có công chứng hoặc chứng thực giấy chứng minh nhân dân, hộ chiếu hoặc giấy tờ thay thế như giấy thông hành hoặc thẻ cư trú (đối với người nước ngoài và công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài); bản sao có công chứng hoặc chứng thực sổ hộ khẩu, thẻ thường trú, thẻ tạm trú hoặc giấy xác nhận tạm trú (đối với người nước ngoài ở Việt Nam).
Ngoài ra, đối với công dân Việt Nam đang phục vụ trong các lực lượng vũ trang hoặc đang làm việc có liên quan trực tiếp đến bí mật của Nhà nước thì phải nộp giấy xác nhận của cơ quan, tổ chức quản lý ngành cấp Trung ương hoặc cấp tỉnh, xác nhận việc người đó kết hôn với người nước ngoài không ảnh hưởng đến việc bảo vệ bí mật Nhà nước hoặc không trái với quy định của ngành đó.
Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ và lệ phí, Sở Tư pháp có trách nhiệm thực hiện phỏng vấn trực tiếp tại trụ sở Sở Tư pháp đối với hai bên nam, nữ để kiểm tra, làm rõ về sự tự nguyện kết hôn của họ, về khả năng giao tiếp bằng ngôn ngữ chung và mức độ hiểu biết về hoàn cảnh của nhau; báo cáo kết quả phỏng vấn các bên đương sự, thẩm tra hồ sơ kết hôn và đề xuất ý kiến giải quyết việc đăng ký kết hôn, trình UBND cấp tỉnh quyết định.
Trường hợp đăng ký kết hôn tại Cơ quan Ngoại giao, Lãnh sự Việt Nam, việc phỏng vấn sẽ được thực hiện trực tiếp tại trụ sở Cơ quan Ngoại giao, Lãnh sự Việt Nam đó và người đứng đầu Cơ quan Ngoại giao, Lãnh sự Việt Nam sẽ ký Giấy chứng nhận kết hôn khi các bên đương sự đáp ứng đủ điều kiện kết hôn.
Với việc nuôi con nuôi, trẻ em được nhận làm con nuôi phải là trẻ em từ 15 tuổi trở xuống, đang sống tại các cơ sở nuôi dưỡng được thành lập hợp pháp tại Việt Nam.
Người nước ngoài được nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi nếu Việt Nam và nước nơi người xin nhận con nuôi thường trú cùng là thành viên của điều ước quốc tế hai bên hay nhiều bên về hợp tác nuôi con nuôi hoặc người đó có thời gian công tác, học tập, làm việc tại Việt Nam từ 6 tháng trở lên; có vợ, chồng, cha, mẹ là công dân Việt Nam hoặc người gốc Việt Nam; có quan hệ họ hàng, thân thích hoặc đang có con nuôi là anh, chị, em ruột của trẻ em được xin nhận làm con nuôi.
Trường hợp người nhận con nuôi không có đủ điều kiện trên nhưng xin nhận trẻ em khuyết tật, tàn tật, mất năng lực hành vi nhân sự, nạn nhân chất độc hóa học, nhiễm HIV/AIDS, mắc các bệnh hiểm nghèo khác thì vẫn được xem xét giải quyết.
Hồng Hải