In bài viết

3 kịch bản biến đổi khí hậu mới nhất cho Việt Nam

(Chinhphu.vn) - Kịch bản biến đổi khí hậu phiên bản cập nhật năm 2025 đưa ra 3 kịch bản tương ứng với các mức phát thải và phát triển kinh tế - xã hội khác nhau. Đây là hệ thống thông tin khoa học nhằm hỗ trợ các nhà quản lý và người sử dụng đánh giá rủi ro, đưa ra quyết định trong bối cảnh khí hậu biến đổi.

12/10/2026 17:07
3 kịch bản biến đổi khí hậu mới nhất cho Việt Nam- Ảnh 1.

Bản đồ trực tuyến thể hiện nguy cơ ngập của tỉnh Cà Mau đến năm 2100 và bảng thông tin kịch bản nước biển dâng

Bộ Nông nghiệp và Môi trường vừa công bố Kịch bản biến đổi khí hậu (BĐKH) cho Việt Nam phiên bản cập nhật năm 2025. Đây là hệ thống thông tin khoa học phục vụ công tác quản lý, hoạch định chính sách, quy hoạch, đánh giá rủi ro và chủ động thích ứng với BĐKH.

Kịch bản năm 2025 kế thừa kết quả của các phiên bản trước, đồng thời cập nhật những thành tựu nghiên cứu khoa học mới nhất của Ủy ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC), nhằm hỗ trợ các ngành, lĩnh vực và địa phương lựa chọn giải pháp ứng phó phù hợp.

PGS.TS. Phạm Thị Thanh Ngà, Viện trưởng Viện Khoa học Khí tượng thủy văn, Môi trường và Biển, đại diện đơn vị đầu mối xây dựng kịch bản, cho biết phiên bản cập nhật năm 2025 có nhiều đổi mới về nội dung và cấu trúc, gồm 8 chương và các phụ lục chuyên sâu. Đáng chú ý, phiên bản này bổ sung kịch bản khí hậu đô thị, kịch bản theo mức độ nóng lên toàn cầu (GWL), đánh giá nguy cơ ngập và hướng dẫn khai thác, qua đó tăng tính chi tiết và khả năng ứng dụng.

Kịch bản BĐKH cho Việt Nam lựa chọn 3 kịch bản phát thải và phát triển kinh tế - xã hội chính:

Kịch bản phát thải thấp (SSP1-2.6): Gắn với định hướng phát triển bền vững, giảm mạnh phát thải khí nhà kính, hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng 0. 

Kịch bản phát thải trung bình (SSP2-4.5): Phản ánh xu hướng phát triển và triển khai các chính sách giảm nhẹ phát thải khí nhà kính ở mức trung bình. 

Kịch bản phát thải cao (SSP3-7.0): Phản ánh xu hướng phát thải cao trong điều kiện thiếu những chính sách ứng phó khí hậu bổ sung đủ mạnh.

Tương ứng với các kịch bản này và những ngưỡng nóng lên toàn cầu, các nhà khoa học đưa ra dự tính về sự thay đổi nhiệt độ, lượng mưa, nắng nóng, rét đậm, rét hại, hạn hán và mực nước biển dâng.

Về nhiệt độ, nhiệt độ tối cao có xu hướng gia tăng. Ở ngưỡng nóng lên toàn cầu 1,5°C, mức tăng phổ biến từ 1 - 1,5°C. Khi nhiệt độ trung bình toàn cầu tăng 4°C, nhiệt độ tối cao tại Việt Nam có thể tăng 3 - 4°C.

Số ngày nắng nóng có nhiệt độ trên 35°C được dự tính tăng 10 - 30 ngày ở ngưỡng nóng lên toàn cầu 1,5°C và tăng 30 - 50 ngày ở các ngưỡng 3 - 4°C. Tại nhiều khu vực Trung Bộ và Nam Bộ, mức tăng có thể vượt 50 ngày/năm.

Ngược lại, số ngày rét đậm, rét hại có xu hướng giảm mạnh. Tại Bắc Bộ, số ngày rét đậm, rét hại được dự tính giảm 20 - 30 ngày ở ngưỡng nóng lên toàn cầu 3°C và giảm 30 - 40 ngày ở ngưỡng 4°C.

Về hạn hán, ở các ngưỡng nóng lên toàn cầu từ 1,5 - 4°C, hạn hán có xu hướng gia tăng đáng kể tại Bắc Bộ cả về tần suất và cường độ, trong khi khu vực phía Nam có xu hướng giảm nhẹ, cho thấy sự phân hóa về tác động của BĐKH giữa các vùng.

Về lượng mưa, mức biến đổi có sự phân hóa rõ rệt theo mùa và khu vực. Trong mùa xuân, lượng mưa có xu hướng giảm trên phần lớn diện tích cả nước.

Về nước biển dâng, đến năm 2100, mực nước biển dâng trung bình theo các kịch bản được dự tính dao động từ 46,1 cm ở kịch bản phát thải thấp đến 63,7 cm ở kịch bản phát thải cao.

Theo số liệu trong bản thảo, mức nước biển dâng trung vị tại khu vực Quảng Ninh được dự tính đạt 60,2 cm; Cà Mau đạt 64,3 cm; khu vực quần đảo Hoàng Sa đạt 63,7 cm và quần đảo Trường Sa đạt 67,4 cm.

Lựa chọn kịch bản phù hợp với mục tiêu sử dụng

Theo các chuyên gia, kịch bản biến đổi khí hậu không phải dự báo, mà đưa ra giả định có cơ sở khoa học và có tính tin cậy về xu hướng trong tương lai của khí hậu. Do đó, việc sử dụng hiệu quả kịch bản đòi hỏi lựa chọn kịch bản phù hợp với mục tiêu sử dụng. Đối với quy hoạch và thiết kế gắn với các mốc thời gian cụ thể. Kịch bản khuyến nghị sử dụng thông tin theo các SSP; trong khi đánh giá rủi ro và xây dựng lộ trình thích ứng linh hoạt có thể khai thác thông tin theo các ngưỡng nóng lên toàn cầu.

Khi lựa chọn kịch bản phục vụ quy hoạch, người dùng cần nắm rõ nguyên tắc phân kỳ và nguyên tắc không hối tiếc.

Các dự án, công trình có vòng đời trung hạn (10-20 năm) có thể áp dụng kịch bản thấp hoặc trung bình. Các dự án dài hạn (30-50 năm) như quy hoạch vùng, giao thông, năng lượng cần đối chiếu kết hợp giữa kịch bản trung bình và cao. Các công trình trọng yếu, vĩnh cửu có niên hạn trên 50 năm (như đê biển, cảng biển) bắt buộc sử dụng kịch bản cao nhằm mục đích chủ động chuẩn bị cho tình huống bất lợi nhất.

Giai đoạn trước năm 2050, mức tăng nhiệt độ toàn cầu chênh lệnh không đáng kể trong khoảng 1,5 độ C nên diễn biến các kịch bản phát thải không khác nhau. Tuy nhiên, sau năm 2050, các kịch bản bắt đầu rẽ nhánh và phân kỳ rõ rệt do hệ quả tích lũy lâu dài từ các chính sách phát triển kinh tế - xã hội và mức độ cắt giảm phát thải khí nhà kính toàn cầu. Đến năm 2100, mức tăng nhiệt độ toàn cầu có sự chênh lệch rất lớn giữa các kịch bản, kéo theo diễn biến các hình thế thời tiết cực đoan và mực nước biển dâng cũng khác biệt. 

Thu Cúc