ADB nâng dự báo tăng trưởng Việt Nam, lưu ý áp lực tín dụng và lạm phát
(Chinhphu.vn) - Tăng trưởng kinh tế Việt Nam vượt kỳ vọng trong nửa đầu năm 2026, thúc đẩy ADB nâng dự báo GDP. Tuy nhiên, ADB khuyến nghị Việt Nam tiếp tục củng cố ổn định kinh tế vĩ mô, nâng hiệu quả đầu tư công và phát triển sâu hơn thị trường vốn.

ADB nâng dự báo tăng trưởng Việt Nam, cảnh báo áp lực tín dụng và lạm phát - Ảnh: chinhphu.vn
Nâng dự báo tăng trưởng nhưng cảnh báo áp lực tín dụng và lạm phát
Việc Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) nâng dự báo tăng trưởng kinh tế Việt Nam phản ánh kết quả tăng trưởng vượt kỳ vọng trong nửa đầu năm 2026.
Theo ấn phẩm Triển vọng Phát triển Châu Á (ADO) tháng 9/2026, động lực tăng trưởng của Việt Nam đến từ công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục mở rộng, tiêu dùng trong nước tăng mạnh và dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) được duy trì ổn định.
Lạm phát được dự báo ở mức 4,3% trong năm 2026 và 4% trong năm 2027. Theo ADB, áp lực cầu tiếp tục duy trì trong khi chi phí năng lượng và nhập khẩu gia tăng.
Giám đốc quốc gia ADB tại Việt Nam Shantanu Chakraborty cho biết: Kết quả kinh tế tích cực trong nửa đầu năm cho thấy khả năng chống chịu và tiềm năng duy trì đà tăng trưởng của nền kinh tế.
Theo ông Shantanu Chakraborty, để giữ vững xu hướng này và đạt được những bước tiến có chất lượng cao hơn, Việt Nam cần tiếp tục điều hành kinh tế vĩ mô thận trọng nhằm kiềm chế lạm phát, bảo đảm ổn định tài chính, đẩy nhanh cải cách cơ cấu, đồng thời bảo đảm nền kinh tế tiếp tục mở rộng dựa vào đầu tư mang lại những cải thiện về năng suất.
Ông Shantanu Chakraborty cho rằng, Việt Nam cần tiếp tục đơn giản hóa thủ tục hành chính, đồng thời bảo đảm môi trường và mức độ thuận lợi trong kinh doanh tương đương hoặc tốt hơn các nước láng giềng để tạo điều kiện cho dòng vốn chảy vào.
Về tăng trưởng toàn nền kinh tế, Chuyên gia kinh tế trưởng ADB tại Việt Nam Bùi Minh Giáp nhìn nhận, trụ cột đầu tiên là tăng trưởng dựa vào năng suất, đồng thời cảnh báo về sự phụ thuộc lớn vào tín dụng ngân hàng đang đặt ra những rủi ro đối với hệ thống tài chính.
Tổng dư nợ tín dụng ngân hàng tương đương 145% GDP vào cuối năm 2025, trong khi thị trường trái phiếu doanh nghiệp chiếm 10% GDP. Theo chuyên gia ADB, bộ đệm vốn tương đối mỏng và tình trạng chênh lệch kỳ hạn kéo dài hạn chế dư địa duy trì tăng trưởng tín dụng nhanh, đặc biệt đối với các dự án hạ tầng lớn cần nguồn vốn dài hạn.
Chuyên gia Bùi Minh Giáp khuyến nghị, cần mở rộng và đa dạng hóa các công cụ tài chính, phát triển chiều sâu thị trường và không chỉ dựa vào tín dụng ngân hàng mà cần có thêm các sản phẩm như trái phiếu và các sản phẩm tài chính khác.
Về tài sản số, ông Bùi Minh Giáp cho rằng đây là một công cụ để đa dạng hóa các sản phẩm tài chính, bên cạnh hoạt động cho vay ngân hàng.
Về đầu tư công, ông Bùi Minh Giáp cho rằng các dự án phải có tiêu chí rõ ràng. Theo ông, đầu tư công cần tập trung vào những dự án có tính dẫn dắt, tạo tác động đối với doanh nghiệp và các đối tượng khác, qua đó dẫn dắt đầu tư của khu vực tư nhân.
Theo ADB, đầu tư công tiếp tục là một động lực tăng trưởng. Gần 357.000 tỷ đồng đã được giải ngân trong nửa đầu năm 2026, cao hơn khoảng 38.000 tỷ đồng so với cùng kỳ năm trước; trong đó các dự án giao thông trọng điểm quốc gia chiếm khoảng 59.000 tỷ đồng.
Đến cuối tháng 7, giải ngân đầu tư công đạt 425.300 tỷ đồng, tương đương 41,9% kế hoạch năm. Vốn FDI thực hiện đạt 15,2 tỉ USD.
ADB cho rằng việc đẩy nhanh triển khai trong nửa cuối năm sẽ tiếp tục tạo động lực cho ngành xây dựng và nhu cầu trong nước. Tuy nhiên, việc phụ thuộc nhiều hơn vào nguồn vốn ngân hàng có thể làm gia tăng rủi ro thanh khoản, chênh lệch kỳ hạn và tập trung tín dụng.
Vì vậy, khả năng duy trì tăng trưởng dựa vào đầu tư sẽ phụ thuộc vào việc các dự án có tạo ra mức tăng năng suất và dòng tiền đủ lớn để trả các khoản nợ liên quan hay không.
FDI hướng tới giá trị gia tăng, thị trường vốn cần được mở rộng
Theo ADB, cần tập trung nhiều hơn vào năng suất, đặc biệt là năng suất trong nước. Việc thu hút FDI không chỉ nhằm tăng quy mô dòng vốn, mà cần quan tâm nguồn vốn được sử dụng vào đâu và những tài sản có chất lượng nào được tạo ra.
Ông Shantanu Chakraborty cho biết lượng lớn FDI đang đổ vào lĩnh vực sản xuất, trong khi ông không cho rằng có nhiều FDI đang được đầu tư vào cơ sở hạ tầng.
Theo ông Shantanu Chakraborty, Việt Nam cần có tính dự báo dài hạn về môi trường và chính sách để các nhà đầu tư yên tâm đầu tư trong 20 năm, hướng tới tạo dựng các tài sản trong nước, thay vì chỉ tập trung vào hoạt động lắp ráp rồi xuất khẩu.
Cùng quan điểm, chuyên gia kinh tế trưởng ADB tại Việt Nam Bùi Minh Giáp cũng cho rằng lợi thế về lao động giá rẻ của Việt Nam, trong khi đó, năng suất là một điểm nghẽn cần được giải quyết.
Ông Bùi Minh Giáp cho rằng Việt Nam cần dựa trên các tiêu chí như chuyển giao công nghệ, nâng cao năng lực lao động Việt Nam và để lại nhiều giá trị gia tăng trong nước hơn, có chuyển giao công nghệ, nâng cao năng lực lao động và tạo ra hệ sinh thái xung quanh FDI, trong đó doanh nghiệp Việt Nam được tham gia thực chất hơn.
Nhìn tổng thể, ADB đánh giá triển vọng tăng trưởng của Việt Nam đã được cải thiện nhờ công nghiệp chế biến, chế tạo tăng trưởng mạnh, nhu cầu trong nước vững vàng, FDI duy trì ổn định và các chính sách hỗ trợ tăng trưởng.
Tuy nhiên, các rủi ro vĩ mô cũng hiện hữu rõ hơn, theo ADB, thách thức chính sách là duy trì tăng trưởng cao, đồng thời bảo đảm ổn định và nâng cao chất lượng tăng trưởng. Các ưu tiên gồm phát triển thị trường vốn theo chiều sâu và đẩy mạnh cải cách cơ cấu nhằm nâng cao năng suất, củng cố khu vực kinh tế tư nhân.
Anh Minh