In bài viết

Gia đình trí thức cách mạng hiến ba tuổi xuân cho Tổ quốc

(Chinhphu.vn) - Lịch sử vệ quốc vĩ đại của dân tộc Việt Nam được viết nên bởi xương máu và tinh thần kiên trung của biết bao thế hệ, trong đó có một gia đình trí thức cách mạng: Giáo sư Tôn Thất Dương Kỵ và hiền thê Trần Xuân Huệ Phương, với ba người con ưu tú - ba liệt sĩ ngã xuống khi tuổi đời còn rất trẻ.

26/07/2026 08:09

Sự hy sinh cao cả ấy chính là minh chứng cho tinh thần "quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh", sẵn sàng hiến dâng tuổi trẻ, tình yêu và cả mạng sống để đổi lấy nền hòa bình, độc lập cho Tổ quốc và hạnh phúc cho nhân dân.

Từ chốn hoàng cung đến giảng đường yêu nước

Giáo sư Tôn Thất Dương Kỵ sinh ngày 19/1/1914, tại xã Thủy Vân, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên. Ông xuất thân trong một gia đình dòng dõi hoàng tộc nhà Nguyễn, thân phụ là cụ Tôn Thất Thể Linh, hậu duệ đời thứ tư của hoàng đế Gia Long, từng giữ chức Chủ sự Bộ Lễ. Mồ côi cha từ năm 9 tuổi, ông đã vượt qua nghịch cảnh bằng nghị lực phi thường để trở thành một trí thức uyên bác đương thời. Trước Thế chiến II, dưới bút danh Mãn Khánh, ông nổi danh với các bài khảo luận Văn - Sử - Địa trên tạp chí Tri Tân. Năm 1936, chuyên khảo "Vấn đề di dân lập làng ở miền Trung" của ông giành giải nhất văn chương toàn miền Trung.

Từ bỏ cuộc sống an nhàn, ông chọn dùng tri thức làm vũ khí cách mạng. Trên bục giảng các ngôi trường danh tiếng từ Quốc học Huế vào đến Marie Curie, Đại học Vạn Hạnh, Đại học Văn khoa Sài Gòn… ông đã khéo léo nhen nhóm lòng yêu nước và tinh thần tự tôn dân tộc vào tâm hồn thế hệ trẻ. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, với vai trò Thư ký Hội Trí thức cứu quốc Thừa Thiên - Huế, ông được Đảng giao nhiệm vụ làm công tác trí vận từ năm 1947, hoạt động bí mật giữa lòng đô thị.

Ngôi nhà của ông và hiền thê Trần Xuân Huệ Phương (cháu nội Đề đốc Trần Xuân Soạn) đã trở thành một cơ sở cách mạng kiên cố. Để đấu tranh đòi hòa bình và hiệp thương, ông đồng sáng lập tạp chí Tiến Hóa (1949) và tập văn Ngày Mai (1954), chấp nhận việc liên tục bị kẻ thù đàn áp, bắt giam. Năm 1964, ông bí mật tham dự Đại hội Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam lần thứ hai dưới bí danh Dương Kỳ Nam, được bầu vào Ủy ban Trung ương Mặt trận và trực tiếp lãnh đạo phong trào Dân tộc tự quyết tại Sài Gòn.

Năm 1965, do lo sợ tầm ảnh hưởng của Giáo sư đối với phong trào đô thị đang dâng cao, chính quyền Sài Gòn đã bắt giữ và thực hiện lệnh trục xuất ông cùng bác sĩ Phạm Văn Huyền, nhà báo Phi Bằng ra miền Bắc qua cầu Hiền Lương. Sau đó, Giáo sư được bí mật đưa về miền Nam hoạt động và tham gia chuẩn bị cho việc thành lập Liên minh các lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Việt Nam. Khi Liên minh ra đời, ông được cử làm Tổng thư ký Ủy ban Trung ương Liên minh các lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Việt Nam.

Gia đình ly tán, bà Huệ Phương kiên cường gánh vác vai trò trụ cột, vừa nuôi dạy 9 người con khôn lớn, vừa điều hành nhà in Phương Quỳnh. Dưới vỏ bọc in tài liệu cho chính quyền Sài Gòn, nhà in này thực chất là nơi bí mật sản xuất tài liệu cách mạng, làm thẻ căn cước giả, giấy miễn quân dịch, đồng thời là nơi che giấu cán bộ, kho lưu trữ vũ khí và truyền đơn phục vụ các chiến dịch nội thành Sài Gòn. Ngay cả khi chính quyền Sài Gòn tuyên án tử hình vắng mặt Giáo sư và tịch biên tài sản năm 1968, bà Huệ Phương vẫn mưu trí phối hợp với các luật sư để bảo vệ vẹn nguyên sản nghiệp. Tinh thần tận hiến bền bỉ và ý chí bất khuất của hai đấng sinh thành đã trở thành ngọn đuốc soi đường cho các thế hệ con cháu tiếp bước trong cuộc kháng chiến cam go của dân tộc.

Gia đình trí thức cách mạng hiến ba tuổi xuân cho Tổ quốc- Ảnh 1.

Liệt sĩ Nguyễn Phước Quỳnh Diệu (1946-1969)

Gác lại tiếng vĩ cầm, dấn thân vào "vành đai lửa"

Sinh trưởng trong gia đình cách mạng, nơi mà lòng yêu nước được coi như gia bảo quý giá nhất, ông Nguyễn Phước Quỳnh Diệu (con trai Giáo sư Tôn Thất Dương Kỵ) sớm bộc lộ tư chất thông minh và lòng tự tôn dân tộc. Những năm tháng tuổi thơ chứng kiến sự dấn thân của cha mẹ đã hun đúc nên ý chí kiên cường cùng lòng yêu nước trong tâm hồn người thanh niên trẻ.

Năm 1957, khi gia đình chuyển vào Sài Gòn, ông nỗ lực học tập và bộc lộ tài năng âm nhạc thiên bẩm. Thấu hiểu đam mê của con, bà Huệ Phương đã mua cho ông cây đàn violin mang từ châu Âu về. Ông theo học vĩ cầm tại Trường Quốc gia Âm nhạc (nay là Nhạc viện Thành phố Hồ Chí Minh) và nhanh chóng trở thành nhạc công triển vọng trong dàn nhạc của trường. Thế nhưng, tiếng gọi của non sông đang lầm than đã thôi thúc người nghệ sĩ tài hoa rời con đường nghệ thuật để bước vào cuộc kháng chiến cứu nước.

Để bảo vệ tuyệt đối bí mật, ông chủ động lấy bí danh là Năm Hải. Những năm 1964 - 1969, ông trở thành cán bộ cốt cán của Thành Đoàn Sài Gòn - Gia Định, hoạt động sôi nổi, trực tiếp tham gia phong trào đấu tranh của sinh viên, học sinh nội đô. Cùng với bầu nhiệt huyết của tuổi trẻ, ông đã dùng chính tiếng đàn violin cùng những bài diễn thuyết để tập hợp thanh niên rải truyền đơn, biểu tình đòi hòa bình. Trước chiến dịch Mậu Thân 1968, khi phong trào bị đàn áp khốc liệt, ông lặng lẽ thoát ly ra vùng căn cứ ven đô - "vành đai lửa" bám trụ quanh Sài Gòn. Tại đây, ông cùng đồng đội sống dưới hầm công sự, ăn cơm vắt, chịu đựng nhiều gian khổ nhưng tinh thần lạc quan và niềm tin chiến thắng chưa bao giờ tắt.

Ngày 31/1/1969, ông bị giặc bắt trong một trận càn quét áp sát nội đô. Người chị gái của ông, bà Tôn Nữ Quỳnh Trân, xúc động nhớ lại ngày định mệnh đó: "Ngày Quỳnh Diệu bị bắt, tôi có hẹn với Diệu. Hồi đó "hẹn" được gọi là "móc". Điểm hẹn nằm ở đường Hai Bà Trưng, đối diện với Nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi, nay là Công viên Lê Văn Tám. Tôi đợi rất lâu, đến lúc trời gần tối mà cũng không thấy Quỳnh Diệu đến. Tôi linh cảm điều chẳng lành bởi trong nguyên tắc hoạt động bí mật thời ấy khi có móc là phải đến đúng hẹn, nếu ai không đến là có vấn đề. Mấy ngày sau, đồng đội cũng hoàn toàn mất liên lạc với Quỳnh Diệu. Mẹ tôi đã cho người tìm kiếm Quỳnh Diệu nhiều nơi nhưng đều bặt vô âm tín".

Sau này, qua lời kể của ông Tôn - một đồng đội vừa ra tù, gia đình mới biết ông Nguyễn Phước Quỳnh Diệu bị bắt đưa về Tổng nha Cảnh sát Quốc gia. Kẻ thù tra tấn ông vô cùng dã man ngay trước mặt đồng đội nhằm khuất phục ý chí, nhưng ông vẫn kiên cường giữ vững khí tiết, không nửa lời khai báo. Chúng tách hai người ra để đối chất; đồng đội chỉ còn nghe thấy tiếng còi cấp cứu của xe cứu thương dồn dập trước khi ông anh dũng hy sinh sau ba ngày chịu đòn tra tấn tàn khốc.

Người nghệ sĩ tài hoa ấy ngã xuống khi mới 23 tuổi, để lại lý tưởng và hoài bão nghệ thuật dang dở, cùng nỗi xót xa khôn nguôi khi đứa con thơ bước vào đời mà thiếu vắng vòng tay cha.

Gia đình trí thức cách mạng hiến ba tuổi xuân cho Tổ quốc- Ảnh 2.

Liệt sĩ Nguyễn Thị Loan (1931-1973)

Đóa sen kiên trung giữa ngục tù Côn Đảo

Liệt sĩ Nguyễn Thị Loan (tự Anh, bí danh Năm Nga) sinh tại làng Tân Quy Đông, tỉnh Sa Đéc (nay thuộc tỉnh Đồng Tháp). Giác ngộ cách mạng từ năm 1956, dưới vỏ bọc một nữ giáo viên Sài Gòn mưu trí và nề nếp, bà hoạt động bí mật và trở thành cán bộ xuất sắc của Thành Đoàn, giữ chức Phó Bí thư liên quận 1 và 3. Tháng 3/1960, giữa những ngày đen tối của phong trào nội đô, bà bị địch bắt giam tại bót Ngô Quyền khét tiếng. Dù chịu đủ cực hình tra tấn tàn độc, người phụ trách phong trào các trường nữ trung học Đức Trí, Gia Long ấy vẫn kiên quyết giữ vững lòng trung với tổ chức, đồng đội, đồng bào.

Ra tù, bà lập tức thoát ly ra chiến khu, bám trụ tại cứ S11 giữa vùng nước lũ miền Tây, hoạt động tích cực trong Ban Nữ Thanh và bộ phận Trí Trẻ của Khu Đoàn. Bằng sự chân thành, giản dị và bền bỉ, bà đã gieo mầm và xây dựng hàng loạt cơ sở cách mạng trung kiên trong giới trí thức trẻ và bác sĩ Sài Gòn.

Năm 1968, bà kết duyên cùng ông Nguyễn Phước Quỳnh Diệu và sinh ra con trai Nguyễn Anh Bảo. Thế nhưng, hạnh phúc ngắn chẳng tày gang. Khi con vừa lọt lòng, người chồng thân yêu của bà đã bị giặc tra tấn đến hy sinh. Nén nỗi đau xé lòng, để bảo vệ giọt máu cách mạng, bà gửi lại đứa con thơ dại nhờ chị ruột chăm sóc và làm giấy khai sinh giả cho con rồi tiếp tục dấn thân vào cuộc kháng chiến. Sau đó, bà lại sa vào tay giặc. Bị luân chuyển qua các nhà tù từ Thủ Đức, Tân Hiệp đến Côn Đảo, bà luôn sát cánh cùng tập thể nữ tù binh đấu tranh chống chào cờ, đòi cải thiện chế độ lao tù. Tại Trại 4 Côn Đảo, quân địch dùng đủ ngón đòn tàn độc tra tấn. Dù cơ thể gầy mòn, liên tục ngất lịm vì những cơn hen suyễn nặng, nhưng cứ mỗi lần tỉnh lại, bà lại kiên cường tiếp tục đấu tranh. Những cực hình tra tấn của nhà tù đế quốc đã tàn phá nặng nề thân thể bà. Thế nhưng, sức mạnh giúp người mẹ ấy vượt qua làn roi vọt, bệnh tật và nỗi nhớ thương quay quắt chính là niềm mong mỏi cháy bỏng về ngày đoàn tụ-ngày bà được ôm đứa con thơ vốn khát sữa mẹ từ lúc chào đời.

Thế nhưng ngày 4/10/1973, khi Hiệp định Paris đã được ký kết, hòa bình đã cận kề, bà trút hơi thở cuối cùng tại phòng giữ tù của bệnh viện Sài Gòn. Giấc mơ gặp lại con thơ mãi mãi còn dang dở. Liệt sĩ Nguyễn Thị Loan được ba mẹ của bà Đỗ Ngọc Trinh - đồng đội của bà, cử người đóng giả thân nhân đến nhận thi hài và chôn cất tại Nghĩa trang Đô Thành. Sau ngày 30/4/1975, gia đình bà Đỗ Ngọc Trinh đã báo tin cho người thân của bà Nguyễn Thị Loan. Bản thân bà Đỗ Ngọc Trinh đã đứng ra làm thủ tục đưa hài cốt bà Nguyễn Thị Loan về Nghĩa trang Thành phố Hồ Chí Minh tại Thủ Đức, trước khi di dời về Nghĩa trang Liệt sĩ Thành phố Hồ Chí Minh ngày nay.

Gia đình trí thức cách mạng hiến ba tuổi xuân cho Tổ quốc- Ảnh 3.

Liệt sĩ Trần Quang Long (1941-1968)

"Tiếng hát từ lòng đất" và tập di cảo thơ thấm máu

Bên cạnh người con trai và người con dâu kiên trung, gia đình Giáo sư Tôn Thất Dương Kỵ còn tự hào có một người con rể tài hoa: Nhà thơ, nhà giáo, liệt sĩ Trần Quang Long (chồng của bà Huyền Tôn Nữ Quỳnh Như, con gái của Giáo sư). Sinh năm 1941, tại Huế, ông tốt nghiệp Ban Việt văn Trường Đại học Sư phạm Huế và trở thành thầy giáo giảng dạy tại các trường trung học danh tiếng ở Quy Nhơn, Cần Thơ.

Trần Quang Long được biết đến như một thủ lĩnh tinh thần, một trong những tác giả tiêu biểu nhất trong dòng văn nghệ yêu nước tiến bộ của miền Nam thời chống Mỹ. Đối với ông, thơ văn là vũ khí sắc bén chiến đấu trực diện với kẻ thù, hâm nóng nhiệt huyết yêu nước của tuổi trẻ học đường. Trên cương vị Ủy viên văn nghệ Tổng hội Sinh viên Sài Gòn và Chủ tịch sáng lập Hội Sinh viên sáng tác, ông chủ trương biên tập nhiều tờ báo chiến đấu như Sinh Viên Huế, Đất Mới, Sinh Viên Sài Gòn... Những bài thơ rực lửa của ông như "Thưa mẹ, trái tim", "Tiếng hát từ lòng đất" có sức lay động mạnh mẽ, thức tỉnh hàng triệu học sinh, sinh viên gác bút nghiên lên đường chiến đấu.

Cuộc đời hoạt động của ông Trần Quang Long luôn đối mặt với những lần bị bắt bớ, giam cầm. Lần thứ nhất, khi đang là sinh viên tại Huế (năm 1963 – 1964), ông bị chính quyền Mỹ - ngụy bắt giam vì đóng vai trò chủ chốt trong phong trào báo chí học đường chống chế độ độc tài Ngô Đình Diệm và Nguyễn Khánh. Sau khi ra tù, ông đi dạy học ở Quy Nhơn và tiếp tục đấu tranh. Mùa hè năm 1966, ông tham gia tổ chức biểu tình, bị địch bắn gãy chân và bị bắt giam lần thứ hai tại nhà tù Pleiku. Chịu đựng đủ cực hình tra tấn, người trí thức trẻ ấy vẫn một lòng một dạ kiên trung, khước từ mọi sự dụ dỗ, chiêu hàng của địch. Sau khi ra tù, ông lại tiếp tục hoạt động cách mạng.

Đằng sau hình ảnh một chiến sĩ kiên cường trên mặt trận văn hóa, nhà thơ Trần Quang Long còn có một tình yêu lãng mạn và nồng thắm với người vợ hiền - bà Huyền Tôn Nữ Quỳnh Như. Đám cưới của họ diễn ra ngày 5/8/1967. Tháng 2/1968, giữa lúc người vợ trẻ đang mang thai cận kề ngày sinh nở nhưng vẫn bị giam cầm trong ngục tối, còn bản thân ông lại bị kẻ thù lùng sục ráo riết, nhà thơ Trần Quang Long đã phải đưa ra một quyết định thắt lòng: rời Sài Gòn, thoát ly ra vùng giải phóng. Trước lúc lên đường, ông gửi lại cho vợ những lời từ biệt đầy xót xa nhưng kiên định: "Anh mong chóng thanh bình để về nhìn mặt con chúng mình... Em từng đồng ý với anh là sẵn sàng chịu đựng cho những ý nghĩa cao đẹp, phải không em?"

Ngày 10/5/1968, bà Quỳnh Như hạ sinh một bé trai và đặt tên là Trần Xuân Thắng - cái tên gửi gắm ước vọng về mùa xuân chiến thắng mà nhà thơ Trần Quang Long đã dự cảm. Nơi chiến khu Tây Ninh gian khổ, người cha vẫn ngày đêm đau đáu hướng về đô thành, mong ngóng ngày hòa bình để được ôm đứa con thơ vào lòng và tận tay trao tặng người vợ hiền tập thơ như đã hẹn. Thế nhưng, lời hẹn ấy mãi mãi lỡ dở. Ngày 11/10/1968, trong một trận oanh kích dữ dội của máy bay B-52 Mỹ vào căn cứ Ban Tuyên huấn Trung ương Cục miền Nam, người nghệ sĩ - chiến sĩ tài hoa ấy đã anh dũng hy sinh khi vừa tròn 27 tuổi. Ông ngã xuống giữa tuổi thanh xuân rực rỡ nhất, khi chưa một lần được nhìn mặt đứa con yêu dấu. Đau đớn thay, nơi buồng giam tối tăm, người vợ trẻ vẫn khắc khoải đợi tin chồng mà không hề biết "cánh chim câu đã bay về miền mây trắng".

Gia đình trí thức cách mạng hiến ba tuổi xuân cho Tổ quốc- Ảnh 4.

Gia đình Giáo sư Tôn Thất Dương Kỵ trao tặng kỷ vật của liệt sĩ Nguyễn Phước Quỳnh Diệu cho Bảo tàng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Ảnh: VGP/Thu Hoàn

Di sản gia tộc thiêng liêng cho hôm nay và mai sau

Đối với gia đình Giáo sư Tôn Thất Dương Kỵ, dù chiến tranh đã lùi xa hơn nửa thế kỷ, những di sản thiêng liêng vẫn luôn được nâng niu, gìn giữ như một phần máu thịt, thờ phụng sâu thẳm trong tâm hồn.

Tiếp nối con đường khoa học của người cha kính yêu, bà Tôn Nữ Quỳnh Trân đã dành nhiều thời gian để tập hợp, hệ thống hóa toàn bộ di sản gia đình. Đó là các công trình nghiên cứu uyên bác, những bài giảng tâm huyết của cha, cùng những lá thư tình sắt son của cha mẹ. Trong hành trình ấy, ông Nguyễn Phước Quỳnh Vinh cùng vợ đã hỗ trợ đắc lực việc đánh máy, vẽ bản đồ phục vụ công trình nghiên cứu quý giá của Giáo sư về chủ quyền Hoàng Sa – Trường Sa. Đặc biệt, qua bao lần đổi chỗ ở, ông Quỳnh Vinh vẫn ôm theo cây đàn violin - kỷ vật thiêng liêng của người anh trai liệt sĩ Nguyễn Phước Quỳnh Diệu. Mới đây, gia đình đã dành nhiều tâm huyết xuất bản thành công bộ sách tập hợp các công trình nghiên cứu giá trị của Giáo sư.

Bà Huyền Tôn Nữ Quỳnh Như đã kiên cường vượt qua nỗi đau mất mát to lớn khi liệt sĩ Trần Quang Long hy sinh, một mình nuôi dạy con trai khôn lớn. Suốt cuộc đời, bà nâng niu những kỷ vật của chồng như báu vật. Khi bà tạ thế, người con trai Trần Xuân Thắng thay mẹ giữ gìn những kỷ vật thiêng liêng ấy gần như nguyên vẹn. Đặc biệt trong số đó là cuốn di cảo thơ "Những ngày tháng Tám" bị mảnh bom xuyên qua, vẫn còn vương vết máu của người cha ngã xuống tại chiến trường Tây Ninh. Giọt máu ấy hòa cùng nét mực, để lại cho hậu thế một chứng tích bất tử về một thế hệ trí thức đã hiến dâng cả tình yêu và xương máu cho độc lập của Tổ quốc. Ông Trần Xuân Thắng còn dành thời gian sưu tầm từng bài viết, tư liệu về cha để lưu giữ trên trang cá nhân "như một góc thiêng trong gia đình".

Nỗi niềm ấy cũng da diết trong lòng ông Nguyễn Anh Bảo - giọt máu duy nhất của hai liệt sĩ Nguyễn Phước Quỳnh Diệu và Nguyễn Thị Loan. Mồ côi cha từ lúc 5 tháng tuổi, lại phải xa mẹ từ khi còn trứng nước, ông chưa một lần được biết mặt đấng sinh thành. Mọi ký ức về cha mẹ chỉ được mường tượng qua lời kể của họ hàng, đồng đội của cha mẹ. Thế nhưng, sợi dây huyết thống vô hình chưa bao giờ đứt gãy. Nhờ sự chu đáo của người dì, những kỷ vật của người mẹ liệt sĩ đã được gìn giữ để trao lại cho vợ chồng ông. Trân quý cuộc đời ngắn ngủi nhưng hào hùng của cha mẹ, vợ chồng ông nâng niu từng món đồ nhỏ: từ mẫu thêu, kim đan cho đến chiếc áo len sơ sinh do chính tay người mẹ đan trong nhà tù chờ ngày con chào đời.

Truyền thống vẻ vang của gia đình Giáo sư Tôn Thất Dương Kỵ đã trở thành biểu tượng ngời sáng về lòng yêu nước, tinh thần tận hiến cho Tổ quốc, trong đó ba người con ưu tú vĩnh viễn nằm lại ở tuổi thanh xuân đẹp nhất, là lời nhắc nhở thiêng liêng: Hòa bình hôm nay không hiển nhiên có sẵn mà được đánh đổi bằng biết bao máu xương, bằng hạnh phúc lứa đôi dang dở, bằng sự chia ly, mất mát to lớn và những giọt nước mắt lặng thầm của người ở lại. Sự cống hiến cao cả của họ mãi thắp lên ngọn lửa lý tưởng cho các thế hệ hôm nay, mai sau trước lịch sử dân tộc./.

Thu Hoàn