Ban hành Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số phiên bản 1.0
(Chinhphu.vn) - Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng ký Quyết định số 1425/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số (phiên bản 1.0).

Theo Quyết định, Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số là căn cứ để xây dựng, phát triển, nâng cấp và vận hành hạ tầng số, hệ thống số, hệ thống thông tin, nền tảng số, cơ sở dữ liệu và dịch vụ số của các cơ quan, tổ chức trong toàn bộ hệ thống chính trị; bảo đảm đồng bộ, thống nhất, kết nối, liên thông, chia sẻ, sử dụng chung, kế thừa tối đa các thành phần hiện có phù hợp, tránh đầu tư phân tán, trùng lặp, lãng phí, và đáp ứng yêu cầu phát triển, ứng dụng các công nghệ mới trong tương lai.
Hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội, phục vụ người dân, doanh nghiệp
Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số (phiên bản 1.0) (gọi tắt là Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số) được xây dựng nhằm khái quát mô hình kiến trúc số tổng thể cho quốc gia, trong đó xác định những thành phần dùng chung, cơ bản nhất cho các cơ quan trong hệ thống chính trị các cấp; bảo đảm an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu, bảo vệ dữ liệu cá nhân và quyền riêng tư trong quá trình kết nối, chia sẻ, khai thác dữ liệu số; bảo đảm kết nối, chia sẻ, dùng chung tài nguyên, dữ liệu; tránh trùng lặp đầu tư trên quy mô quốc gia; đồng thời hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội, phục vụ người dân, doanh nghiệp; thống nhất các Khung kiến trúc, kiến trúc hiện có; phát triển các nền tảng số, cơ sở dữ liệu dùng chung quốc gia; giúp tránh đầu tư trùng lặp, tiết kiệm chi phí; tăng tính minh bạch thông qua dữ liệu mở, tăng cường trách nhiệm giải trình và sự tham gia của xã hội; tăng mức độ hài lòng của người dân và doanh nghiệp.
Phạm vi áp dụng
Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số áp dụng đối với:
Việc xây dựng, cập nhật, quản lý và tổ chức triển khai Khung kiến trúc số của cơ quan Đảng, Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Khung kiến trúc Chính phủ số (được tổ chức triển khai thông qua Khung kiến trúc Chính phủ số cấp bộ và Khung kiến trúc Chính quyền số cấp tỉnh) và Khung kiến trúc số của các cơ quan, tổ chức khác trong hệ thống chính trị.
Việc đầu tư, xây dựng, nâng cấp, phát triển, vận hành, kết nối, chia sẻ, khai thác và sử dụng chung hạ tầng số, hệ thống số, hệ thống thông tin, nền tảng số, cơ sở dữ liệu và dịch vụ số theo quy định của pháp luật.
7 nguyên tắc cốt lõi của Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số
Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số kế thừa đầy đủ các nội dung của 7 nguyên tắc cốt lõi tại Quy định số 05-QĐ/BCĐTW; đồng thời cập nhật, bổ sung để phù hợp với quy định của pháp luật có liên quan và yêu cầu triển khai trong giai đoạn tới, cụ thể như sau:
Nguyên tắc 1. Quản trị trên cơ sở định lượng, đo lường và kiểm chứng được kết quả
Mục tiêu cao nhất và thước đo thành công của từng hợp phần trong Mô hình là tạo ra kết quả thực chất, có thể định lượng, đo lường và kiểm chứng được.
Nguyên tắc 2. Lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu theo thời gian thực
Dữ liệu được quản trị thống nhất trên phạm vi quốc gia theo nguyên tắc "đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung"; được chuẩn hóa, kết nối, chia sẻ, khai thác và điều phối theo quy định của pháp luật.
Nguyên tắc 3. Vận hành thông minh và tự động hóa trên cơ sở ưu tiên ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI First)
Mô hình được thiết kế theo hướng ưu tiên xem xét, tích hợp trí tuệ nhân tạo và công nghệ tự động hóa vào các quy trình nghiệp vụ phù hợp, trên cơ sở đáp ứng điều kiện pháp lý, dữ liệu, kỹ thuật, an toàn và quản trị rủi ro.
Nguyên tắc 4. Phân cấp, phân quyền mạnh mẽ trên nền tảng số
Trung ương tập trung vào vai trò kiến tạo thể chế, ban hành các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, xây dựng và vận hành các nền tảng số dùng chung, đồng thời thực hiện chức năng giám sát việc tổ chức thực hiện dựa trên dữ liệu.
Nguyên tắc 5. Lấy người dùng làm trung tâm với hệ sinh thái dịch vụ hợp nhất
Kiên quyết chấm dứt tình trạng phân mảnh, rời rạc trong trải nghiệm của người dân và doanh nghiệp khi tương tác với cơ quan nhà nước, cổng Dịch vụ công quốc gia và ứng dụng định danh điện tử VNelD phải được phát triển thành hệ sinh thái thống nhất, đồng bộ, liên thông, liền mạch với thiết kế bao trùm, bảo đảm khả năng tiếp cận cho mọi đối tượng, nhất là người yếu thế; tích hợp các tính năng hỗ trợ cần thiết như hướng dẫn bằng giọng nói, hỗ trợ ngôn ngữ dân tộc thiểu số.
Nguyên tắc 6. Bảo đảm an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu và quyền riêng tư là yêu cầu tiên quyết, xuyên suốt
Bảo đảm an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu và quyền riêng tư phải được xác định là yêu cầu tiên quyết, xuyên suốt trong toàn bộ vòng đời của hạ tầng số, hệ thống số, hệ thống thông tin, nền tảng số, cơ sở dữ liệu và dịch vụ số, từ giai đoạn thiết kế, xây dựng, triển khai, vận hành, nâng cấp đến kết thúc sử dụng.
Nguyên tắc 7. Thúc đẩy phát triển dữ liệu mở, nâng cao tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và đổi mới sáng tạo
Các nguyên tắc gắn bó chặt chẽ, bổ trợ lẫn nhau, tạo thành một thể thống nhất. Trong đó, bảo đảm an ninh mạng (Nguyên tắc 6) là nền tảng để các nguyên tắc còn lại có thể được triển khai một cách tin cậy và bền vững. Trên nền tảng an toàn đó, lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu (Nguyên tắc 2) chỉ khả thi khi có hệ thống vận hành thông minh, tự động thu thập dữ liệu (Nguyên tắc 3). Dữ liệu thu thập được cho phép Trung ương giám sát hiệu quả, từ đó phân cấp, phân quyền cho địa phương (Nguyên tắc 4). Hiệu quả của việc phân quyền và toàn bộ mô hình được đo lường bằng kết quả thực chất (Nguyên tắc 1), hướng đến sự hài lòng cho người dân và doanh nghiệp thông qua một hệ sinh thái hợp nhất, lấy người dùng làm trung tâm (Nguyên tắc 5). Niềm tin của người dùng đối với hệ sinh thái lại được củng cố bởi sự bảo đảm về an ninh mạng (Nguyên tắc 6). Trên cơ sở đó, việc công khai, chia sẻ, mở dữ liệu (Nguyên tắc 7) không chỉ tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình mà còn thúc đẩy đổi mới sáng tạo, khai thác tối đa giá trị từ dữ liệu, tạo thành một vòng tuần hoàn khép kín và liên tục được hoàn thiện./.