
Bảo đảm cơ cấu hợp lý đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số trong cơ quan nhà nước.
Mục tiêu của Đề án nhằm tiếp tục nâng cao tỷ lệ, số lượng, chất lượng, bảo đảm cơ cấu hợp lý đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số trong cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, nhất là các cơ quan, đơn vị thực hiện chức năng, nhiệm vụ về công tác dân tộc, các địa phương vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; từng bước xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số có đủ phẩm chất, uy tín, năng lực, trình độ, chuyên nghiệp đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới; góp phần củng cố hệ thống chính trị cơ sở và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước nói chung và tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi nói riêng.
Đồng thời, gắn mục tiêu phát triển đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số với mục tiêu giảm nghèo đa chiều bền vững ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, thông qua phát triển nguồn nhân lực, nâng cao chất lượng và hiệu quả sử dụng đội ngũ cán bộ tại cơ sở.
Về tỷ lệ cán bộ người dân tộc thiểu số, Đề án đặt ra lộ trình phấn đấu giai đoạn từ 2026-2030 đạt 80% và từ giai đoạn 2030-2035 đạt 100% các tỷ lệ cụ thể sau đây:
Ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương: Tối thiểu là 3% đến 5% tổng số biên chế được giao của cấp tỉnh đối với tỉnh có tỷ lệ người dân tộc thiểu số chiếm từ 5% đến dưới 10% tổng dân số của tỉnh. Tối thiểu là 5% đến 10% tổng số biên chế được giao của cấp tỉnh đối với tỉnh có tỷ lệ người dân tộc thiểu số chiếm từ 10% đến dưới 30% tổng dân số của tỉnh.
Tối thiểu là 10% đến 15% tổng số biên chế được giao của cấp tỉnh đối với tỉnh có tỷ lệ người dân tộc thiểu số chiếm từ 30% đến dưới 50% tổng dân số của tỉnh. Tối thiểu là 15% đến 20% tổng số biên chế được giao của cấp tỉnh đối với tỉnh có tỷ lệ người dân tộc thiểu số chiếm từ 50% đến dưới 70% tổng dân số của tỉnh. Tối thiểu là 20% tổng số biên chế được giao của cấp tỉnh đối với tỉnh có tỷ lệ người dân tộc thiểu số trên 70% tổng dân số của tỉnh.
Ở xã, phường, đặc khu: Tối thiểu là 5% tổng số biên chế được giao của cấp xã đối với xã có tỷ lệ người dân tộc thiểu số chiếm từ 5% đến dưới 10% tổng dân số của xã. Tối thiểu là 5% đến 15% tổng số biên chế được giao của cấp xã đối với xã có tỷ lệ người dân tộc thiểu số chiếm từ 10% đến dưới 30% tổng dân số của xã.
Tối thiểu là 15% đến 25% tổng số biên chế được giao của cấp xã đối với xã có tỷ lệ người dân tộc thiểu số chiếm từ 30% đến dưới 50% tổng dân số của xã. Tối thiểu là 25% đến 35% tổng số biên chế được giao của cấp xã đối với xã có tỷ lệ người dân tộc thiểu số chiếm từ 50% đến dưới 70% tổng dân số của xã. Tối thiểu là 35% đến 50% tổng số biên chế được giao của cấp xã đối với xã có tỷ lệ người dân tộc thiểu số trên 70% tổng dân số của xã.
Ở cơ quan, đơn vị thực hiện chức năng, nhiệm vụ về công tác dân tộc:
Bộ Dân tộc và Tôn giáo tối thiểu là 20% đến 25% trên tổng số biên chế được giao.
Các Vụ, ban hoặc tổ chức, đơn vị tương đương thuộc bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có chức năng, nhiệm vụ về công tác dân tộc tối thiểu là 25% tổng số biên chế được giao.
Ban Dân tộc của Hội đồng nhân dân tỉnh, Sở Dân tộc và Tôn giáo: Tối thiểu là 20% tổng số thành viên Ban Dân tộc của Hội đồng nhân dân tỉnh; tối thiểu 20% tổng biên chế được giao của Sở Dân tộc và Tôn giáo đối với tỉnh có tỷ lệ người dân tộc thiểu số chiếm từ 5% đến dưới 10% tổng dân số của tỉnh.
Tối thiểu là 25% tổng số thành viên Ban Dân tộc của Hội đồng nhân dân tỉnh; tối thiểu 25% tổng biên chế được giao của Sở Dân tộc và Tôn giáo đối với tỉnh có tỷ lệ người dân tộc thiểu số chiếm từ 10% đến dưới 30% tổng dân số của tỉnh.
Tối thiểu là 30% tổng số thành viên Ban Dân tộc của Hội đồng nhân dân tỉnh; tối thiểu 30% tổng biên chế được giao của Sở Dân tộc và Tôn giáo đối với tỉnh có tỷ lệ người dân tộc thiểu số chiếm từ 30% đến dưới 50% tổng dân số của tỉnh.
Tối thiểu là 35% tổng số thành viên Ban Dân tộc của Hội đồng nhân dân tỉnh; tối thiểu 35% tổng biên chế được giao của Sở Dân tộc và Tôn giáo đối với tỉnh có tỷ lệ người dân tộc thiểu số chiếm từ 50% đến dưới 70% tổng dân số của tỉnh.
Tối thiểu là 40% tổng số thành viên Ban Dân tộc của Hội đồng nhân dân tỉnh; tối thiểu 40% tổng biên chế được giao của Sở Dân tộc và Tôn giáo đối với tỉnh có tỷ lệ người dân tộc thiểu số trên 70% tổng dân số của tỉnh.
Trường hợp không có Ban Dân tộc thuộc Hội đồng nhân dân tỉnh, Sở Dân tộc và Tôn giáo thì cấp có thẩm quyền ở địa phương căn cứ vào tình hình thực tế quyết định tỷ lệ cán bộ người dân tộc thiểu số tại các cơ quan, đơn vị được giao thực hiện chức năng, nhiệm vụ về công tác dân tộc.
Ban và Phòng chuyên môn thực hiện chức năng, nhiệm vụ về công tác dân tộc thuộc Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp xã ưu tiên bố trí cán bộ người dân tộc thiểu số thực hiện nhiệm vụ về công tác dân tộc.
Về mục tiêu cơ cấu cán bộ người dân tộc thiểu số, thực hiện theo lộ trình phấn đấu từ năm 2026 đến năm 2030 đạt 80% và từ năm 2030 đến năm 2035 đạt 100% các mục tiêu cụ thể sau đây:
Bảo đảm cơ cấu cán bộ người dân tộc thiểu số tương ứng với tỷ lệ người dân tộc thiểu số trong tổng dân số của tỉnh; phù hợp với cơ cấu của các thành phần dân tộc thiểu số ở địa phương.
Bảo đảm cơ cấu hợp lý cán bộ người dân tộc thiểu số giữ các chức danh lãnh đạo, quản lý các cấp. Trong đó, Bộ Dân tộc và Tôn giáo tối thiểu là 20% đến 25% trên tổng số chức danh lãnh đạo, quản lý. Vụ, ban hoặc tổ chức, đơn vị tương đương thuộc bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ban Dân tộc của Hội đồng nhân dân tỉnh, Sở Dân tộc và Tôn giáo phải có ít nhất 01 vị trí giữ chức danh cấp trưởng hoặc cấp phó hoặc 01 vị trí được quy hoạch giữ các chức danh lãnh đạo, quản lý là người dân tộc thiểu số.
Ở địa phương, tối thiểu là 10% ở cấp tỉnh, trên tổng số cán bộ người dân tộc thiểu số của tỉnh. Tối thiểu là 20% ở cấp xã trên tổng số cán bộ người dân tộc thiểu số của xã. Đối với đơn vị sự nghiệp công lập ở địa phương có từ 30% cán bộ người dân tộc thiểu số trở lên phải bảo đảm có viên chức quản lý người dân tộc thiểu số.
Bảo đảm cơ cấu cán bộ nữ người dân tộc thiểu số tối thiểu là 20% trong tổng số tỷ lệ tối thiểu cán bộ người dân tộc thiểu số.
Về chất lượng cán bộ người dân tộc thiểu số, phấn đấu từ năm 2026 đến năm 2030 đạt 80% và từ năm 2030 đến năm 2035 đạt 100% số cán bộ người dân tộc thiểu số được đào tạo, bồi dưỡng về trình độ chuyên môn, lý luận chính trị; kiến thức, kỹ năng quản lý nhà nước, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, kỹ năng số và phương thức quản lý hiện đại, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số quốc gia; bồi dưỡng về tin học, ngoại ngữ hoặc tiếng dân tộc thiểu số đáp ứng yêu cầu của vị trí việc làm theo quy định.
Để đạt được các mục tiêu nêu trên, Đề án đã đưa ra các nhiệm vụ, giải pháp cụ thể để các bộ, ngành, địa phương và các cơ quan liên quan triển khai thực hiện, bao gồm: hoàn thiện thể chế, cơ chế; tạo nguồn, tuyển dụng, sử dụng và bảo đảm cơ cấu; bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ, cán bộ; lãnh đạo, chỉ đạo, giám sát và theo dõi, đánh giá thực hiện…
Các nhiệm vụ trọng tâm triển khai Đề án