Cụ thể, theo Nghị định số 128/2024/NĐ-CP, một số thủ tục xúc tiến thương mại được điều chỉnh theo hướng các chương trình khuyến mại không thu tiền, có giá trị dưới 100 triệu đồng thì không phải nộp hồ sơ thông báo đến Sở Công Thương.
Tuy nhiên, tại khoản 2 Điều 6 Nghị định số 181/2025/NĐ-CP ngày 1/7/2025 quy định về "dịch vụ khuyến mại đáp ứng đủ điều kiện để xuất hóa đơn GTGT" và "dịch vụ khuyến mại không đáp ứng đủ điều kiện", song chưa làm rõ tiêu chí xác định thế nào là "đáp ứng đủ điều kiện" và "không đáp ứng đủ điều kiện".
Bà Tuệ An hỏi, đối với các chương trình tặng quà, ưu đãi do đại lý tự triển khai, đại lý có phải thực hiện thủ tục thông báo hoặc đăng ký khuyến mại với Sở Công Thương không? Khi xuất hóa đơn GTGT đối với quà tặng trong chương trình khuyến mại do đại lý tự thực hiện, đại lý được ghi giá tính thuế bằng 0 theo hình thức khuyến mại hợp pháp, hay phải xuất hóa đơn với giá tính thuế như hàng hóa biếu, tặng?
Bà An kiến nghị Bộ Tài chính làm rõ khái niệm "đủ điều kiện" trong trường hợp áp dụng đối với thương nhân phân phối (đại lý), đồng thời hướng dẫn cụ thể cách lập hóa đơn GTGT tương ứng, nhằm bảo đảm việc thực hiện đúng và thống nhất các quy định của pháp luật.
Về vấn đề này, Bộ Tài chính có ý kiến như sau:
Về giá tính thuế, tại điểm c khoản 1 Điều 7 Luật Thuế giá trị gia tăng quy định:
"c) Đối với hàng hóa, dịch vụ dùng để trao đổi, tiêu dùng nội bộ, biếu, tặng, cho là giá tính thuế giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ cùng loại hoặc tương đương tại thời điểm phát sinh các hoạt động này.
Đối với hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại theo quy định của pháp luật về thương mại, giá tính thuế được xác định bằng không (0);".
Tại khoản 2 Điều 6 Nghị định số 181/2025/NĐ-CP ngày 1/7/2025 của Chính phủ quy định:
"2. Đối với hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại theo quy định của pháp luật về thương mại, giá tính thuế được xác định bằng không (0), trừ trường hợp bán hàng, cung cấp dịch vụ với giá thấp hơn giá bán hàng, cung cấp dịch vụ trước đó, được áp dụng trong thời gian khuyến mại (khuyến mại bằng hình thức giảm giá) thì giá tính thuế là giá bán đã giảm áp dụng trong thời gian khuyến mại đã đăng ký hoặc thông báo theo quy định của pháp luật thương mại về hoạt động xúc tiến thương mại. Các hình thức khuyến mại của hàng hóa, dịch vụ khuyến mại có giá tính thuế bằng không (0) hoặc giá tính thuế của hàng hóa, dịch vụ bán ra không bao gồm giá trị của hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại, cụ thể như sau:
a) Đưa hàng mẫu, cung cấp dịch vụ mẫu để khách hàng dùng thử không phải trả tiền thì hàng mẫu, dịch vụ mẫu có giá tính thuế bằng không (0).
b) Tặng hàng hóa, cung cấp dịch vụ không thu tiền thì hàng hóa, dịch vụ tặng có giá tính thuế bằng không (0).
c) Bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ có kèm theo phiếu mua hàng hoá, phiếu sử dụng dịch vụ thì giá tính thuế của hàng hóa, dịch vụ không bao gồm giá trị phiếu mua hàng hoá, phiếu sử dụng dịch vụ.
d) Bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ có kèm theo phiếu dự thi cho khách hàng để chọn người trao thưởng theo thể lệ và giải thưởng đã công bố (hoặc các hình thức tổ chức thi và trao thưởng khác tương đương) thì giá tính thuế của hàng hóa, dịch vụ không bao gồm giá trị của hàng hóa, dịch vụ trúng thưởng theo phiếu dự thi (nếu có).
đ) Bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ kèm theo việc tham dự các chương trình mang tính may rủi mà việc tham gia chương trình gắn liền với việc mua hàng hóa, dịch vụ và việc trúng thưởng dựa trên sự may mắn của người tham gia theo thể lệ và giải thưởng đã công bố thì giá tính thuế của hàng hóa, dịch vụ không bao gồm giá trị của hàng hóa, dịch vụ dùng để trao thưởng.
e) Tổ chức chương trình khách hàng thường xuyên, theo đó việc tặng thưởng cho khách hàng căn cứ trên số lượng hoặc trị giá mua hàng hóa, dịch vụ mà khách hàng thực hiện được thể hiện dưới hình thức thẻ khách hàng, phiếu ghi nhận sự mua hàng hóa, dịch vụ hoặc các hình thức khác thì giá tính thuế không bao gồm giá trị của thẻ khách hàng, phiếu ghi nhận sự mua hàng hóa, dịch vụ hoặc các hình thức khác.
Trường hợp bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ quy định tại khoản này nhưng không thực hiện theo quy định về khuyến mại của pháp luật về thương mại thì giá tính thuế thực hiện như hàng hóa biếu, tặng, cho quy định tại khoản 1 Điều này".
Căn cứ quy định nêu trên, tại khoản 2 Điều 6 Nghị định số 181/2025/NĐ-CP không có khái niệm về "đủ điều kiện" như bà đề nghị. Đối với nội dung đề nghị hướng dẫn "Đại lý có phải thực hiện thủ tục thông báo/đăng ký khuyến mại với Sở Công thương không?" không thuộc chức năng, nhiệm vụ của Bộ Tài chính nên Bộ Tài chính không có ý kiến.
Về lập hoá đơn GTGT, căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 4 Nghị định số 123/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 (đã được sửa đổi, bổ sung tại điểm a khoản 3 Điều 1 Nghị định số 70/2025/NĐ-CP ngày 20/3/2025) của Chính phủ về nguyên tắc lập, quản lý, sử dụng hóa đơn, chứng từ;
Căn cứ quy định tại khoản 7 Điều 1 Nghị định số 70/2025/NĐ-CP ngày 20/3/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 123/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ về hóa đơn điện từ đối với hàng khuyến mại, cho, biểu, tặng;
Đề nghị bà nghiên cứu các quy định nêu trên để thực hiện theo đúng quy định.
Chinhphu.vn