Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu ký Quyết định số 959/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành Danh mục và phân công cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản quy định chi tiết thi hành các luật, nghị quyết được Quốc hội khóa XVI thông qua tại Kỳ họp thứ Nhất.

Phân công soạn thảo văn bản quy định chi tiết thi hành 9 luật, nghị quyết
Cụ thể, Thủ tướng Chính phủ phân công các Bộ, ngành, cơ quan liên quan chủ trì soạn thảo 34 văn bản quy định chi tiết thi hành 7 luật, 2 nghị quyết được Quốc hội khóa XVI thông qua tại Kỳ họp thứ Nhất.
Để hướng dẫn Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng có hiệu lực từ ngày 1/10/2026, Thủ tướng Chính phủ phân công các Bộ, ngành, cơ quan liên quan chủ trì soạn thảo 2 Nghị định, 1 quyết định và 17 thông tư.
Nhằm hướng dẫn Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý có hiệu lực từ ngày 1/1/2027, Thủ tướng Chính phủ phân công Bộ Tư pháp chủ trì soạn thảo 1 Nghị định, 1 Thông tư quy định chi tiết một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý và 1 Thông tư liên tịch thay thế Thông tư liên tịch số 10/2018/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC-TANDTC-VKSNDTC ngày 29/6/2018 và Thông tư liên tịch số 29/2025/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC-TANDTC-VKSNDTC ngày 31/12/2025.
Thủ tướng Chính phủ phân công Bộ Tư pháp chủ trì soạn thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch và Bộ Ngoại giao chủ trì soạn thảo Thông tư của Bộ trưởng Bộ Ngoại giao hướng dẫn việc đăng ký, quản lý hộ tịch tại Cơ quan đại diện để hướng dẫn Luật Hộ tịch số 03/2026/QH16 có hiệu lực từ 1/3/2027.
Áp dụng thủ tục rút gọn đối với một số văn bản
Thủ tướng Chính phủ cho phép áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn đối với các văn bản được xác định cụ thể tại mục Ghi chú nêu tại Danh mục kèm theo Quyết định này. Các bộ, cơ quan ngang bộ chịu trách nhiệm về đề xuất ban hành văn bản theo trình tự, thủ tục rút gọn và bảo đảm lấy ý kiến các cơ quan, đơn vị có liên quan, đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản.
Đồng thời, các bộ, cơ quan ngang bộ chịu trách nhiệm về nội dung đề xuất ban hành văn bản quy định chi tiết, bảo đảm quy định đầy đủ, chính xác và đúng thẩm quyền quy định các nội dung được giao quy định chi tiết; tổ chức soạn thảo các văn bản quy định chi tiết trong Danh mục bảo đảm chất lượng, tiến độ để ban hành văn bản có hiệu lực đồng thời với luật, nghị quyết hoặc nội dung giao quy định chi tiết.
Đồng thời, chủ động rà soát, xây dựng, ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản để sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật quy định biện pháp cụ thể để bảo đảm kịp thời tổ chức, hướng dẫn thi hành các luật, nghị quyết được Quốc hội khóa XVI thông qua tại Kỳ họp thứ Nhất.
Trường hợp cần thiết, căn cứ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, các bộ, cơ quan ngang bộ báo cáo lãnh đạo Chính phủ phụ trách ngành, lĩnh vực xem xét, quyết định điều chỉnh Danh mục văn bản quy định chi tiết đối với văn bản thuộc thẩm quyền của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; việc sửa đổi tên gọi, phạm vi điều chỉnh của văn bản đã có trong Danh mục ban hành kèm theo Quyết định này có thể được thực hiện đồng thời với việc trình dự thảo văn bản quy phạm pháp luật.
Việc điều chỉnh Danh mục văn bản quy định chi tiết luật, pháp lệnh phải bảo đảm thực hiện nghiêm chủ trương về hạn chế ban hành nhiều văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành và biện pháp cụ thể để tổ chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật theo Kết luận số 09-KL/TW ngày 10 tháng 3 năm 2026 của Bộ Chính trị về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ chủ trì soạn thảo văn bản quy định chi tiết trực tiếp phụ trách, chỉ đạo và chịu trách nhiệm trước Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về chất lượng, tiến độ soạn thảo, ban hành văn bản quy định chi tiết theo Quyết định này; thực hiện nghiêm trách nhiệm của người đứng đầu theo Công điện số 36/CĐ-TTg ngày 25 tháng 4 năm 2026 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết thi hành luật, pháp lệnh, nghị quyết và Công văn số 520/TTg-PL ngày 15 tháng 5 năm 2026 về việc khẩn trương ban hành các văn bản quy định chi tiết luật, nghị quyết của Quốc hội...
Văn phòng Chính phủ có Thông báo số 269/TB-VPCP kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu tại cuộc họp về tình hình triển khai hoạt động của Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL).
Tại cuộc họp, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu ghi nhận, đánh giá cao sự nỗ lực, tham gia của các bộ, ngành, địa phương đạt được một số kết quả ban đầu trong triển khai tổng rà soát hệ thống VBQPPL; phê bình một số bộ, ngành, địa phương chưa thực sự tích cực, chưa quan tâm đến việc chỉ đạo tổ chức thực hiện hoặc chưa thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ hoặc thực hiện còn mang tính hình thức, chưa bám sát kế hoạch của Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống VBQPPL (Ban Chỉ đạo) để bảo đảm mục đích, ý nghĩa, yêu cầu của tổng rà soát hệ thống VBQPPL.
Phó Thủ tướng cơ bản thống nhất với nội dung báo cáo của Bộ Tư pháp – Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo về các kết quả đã đạt được trong thời gian vừa qua, các nhiệm vụ trong thời gian tới và các đề xuất, kiến nghị của Bộ Tư pháp tại cuộc họp.
Người đứng đầu bộ, ngành, địa phương chịu trách nhiệm về tiến độ, chất lượng tổng rà soát hệ thống VBQPPL
Tổng rà soát hệ thống VBQPPL là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, đặc thù chưa có tiền lệ do Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo, để thực hiện có hiệu quả, thực chất nhiệm vụ tổng rà soát VBQPPL, Phó Thủ tướng yêu cầu các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng các ngành, cơ quan, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố:
Đề cao trách nhiệm, phát huy vai trò của người đứng đầu bộ, ngành, cơ quan, địa phương; Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng các ngành, cơ quan, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố chịu trách nhiệm trước Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về tiến độ, chất lượng tổng rà soát hệ thống VBQPPL tại bộ, ngành, địa phương mình; tập trung các nguồn lực để rà soát các quy định pháp luật hiện hành để quyết tâm tháo gỡ các vướng mắc, điểm nghẽn của thể chế, pháp luật, góp phần tăng trưởng kinh tế - xã hội đạt "2 con số".
Các Bộ, ngành, cơ quan, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố tập trung cao nhất trong việc chỉ đạo việc tổ chức thực hiện các nhiệm vụ tổng rà soát hệ thống VBQPPL theo Kế hoạch số 05/QĐ-BCĐ ngày 10/4/2026 của Ban Chỉ đạo, ưu tiên nguồn lực về thời gian, nhân lực, kinh phí, bám sát tiến độ.
Trong quá trình rà soát, các cơ quan chủ động đa dạng hóa phương thức lấy ý kiến, chú trọng lấy ý kiến góp ý, phản biện của người dân, doanh nghiệp, hiệp hội, đối tượng chịu sự tác động, cán bộ, công chức, bảo đảm thời hạn hoàn thành theo Kế hoạch của Ban Chỉ đạo và các chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.
Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo và các bộ, cơ quan, địa phương chú trọng truyền thông, thông tin rộng rãi về mục đích, yêu cầu, vai trò, ý nghĩa, tình hình tổng rà soát, hoàn thiện hệ thống VBQPPL. Quá trình rà soát và góp ý, hoàn thiện phải bảo đảm an toàn thông tin, bảo mật dữ liệu theo quy định, có phương thức phù hợp để tiếp nhận, trao đổi, nghiên cứu, tiếp thu ý kiến đóng góp của các tổ chức, doanh nghiệp, người dân, chuyên gia về các phản ánh vướng mắc và kết quả rà soát.
Tổng hợp, phân loại các kiến nghị về chính sách, vướng mắc phát sinh; nghiên cứu, rà soát trước ngày 05/6/2026
Phó Thủ tướng đề nghị Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an khẩn trương tổng hợp, phân loại các kiến nghị về chính sách, vướng mắc phát sinh qua thực tiễn thuộc phạm vi quản lý gửi các bộ, ngành, địa phương để nghiên cứu, rà soát trước ngày 05/6/2026.
Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp có văn bản hướng dẫn cụ thể, tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc của bộ, ngành và địa phương trong quá trình bố trí kinh phí, lập dự toán kinh phí, định mức chi thực hiện nhiệm vụ tổng rà soát hệ thống VBQPPL theo quy định của Nghị định số 289/2025/NĐ-CP của Chính phủ ngày 06/11/2025 và các quy định pháp luật có liên quan; khẩn trương giao bổ sung dự toán ngân sách cho các bộ, cơ quan, địa phương bảo đảm kinh phí thực hiện nhiệm vụ tổng rà soát; xử lý dứt điểm vướng mắc về kinh phí trước ngày 02/6/2026.
Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp kịp thời hướng dẫn, xử lý các khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình sử dụng các giải pháp trí tuệ nhân tạo hỗ trợ rà soát VBQPPL; hướng dẫn rõ về phạm vi, nguồn dữ liệu cho giải pháp trí tuệ nhân tạo để rà soát VBQPPL; công khai các giải pháp trí tuệ nhân tạo trên Cổng Pháp luật quốc gia.
Bộ Tư pháp tiếp tục phát huy vai trò của Cơ quan thường trực của Ban Chỉ đạo, chủ động phối hợp với Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội, các Bộ, ngành, địa phương và các cơ quan liên quan trong việc thực hiện các nhiệm vụ của Ban Chỉ đạo, trong đó lưu ý một số nội dung sau:
Khẩn trương hoàn thiện báo cáo của Đảng ủy Chính phủ trình Ban Bí thư ban hành văn bản quán triệt, chỉ đạo các cấp ủy, tổ chức đảng lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tổng rà soát hệ thống VBQPPL.
Xây dựng tiêu chí đánh giá kết quả rà soát; huy động đội ngũ chuyên gia thẩm định, đánh giá độc lập
Thường xuyên theo dõi, đôn đốc các bộ, cơ quan, địa phương chưa hoàn thành nhiệm vụ đúng hạn; tiếp tục hướng dẫn nghiệp vụ các bộ, ngành, địa phương tổ chức thực hiện tổng rà soát; xem xét trong trường hợp cần thiết thì tổ chức các đoàn công tác đến các bộ, ngành, địa phương để nắm bắt tình hình và kịp thời hướng dẫn trực tiếp; kịp thời báo cáo Trưởng Ban Chỉ đạo, các Phó trưởng Ban Chỉ đạo những vấn đề vượt thẩm quyền. Trường hợp cần thiết, đồng chí Bộ trưởng Bộ Tư pháp trực tiếp đôn đốc, phối hợp với Bộ trưởng, Thủ trưởng các cơ quan, địa phương chậm thực hiện nhiệm vụ.
Chú trọng, phát huy hiệu quả công tác thẩm định kết quả rà soát, đánh giá độc lập đối với báo cáo kết quả rà soát của các Bộ, ngành và địa phương. Để kết quả thẩm định, đánh giá đạt chất lượng, Bộ Tư pháp tập trung xây dựng tiêu chí đánh giá kết quả rà soát bảo đảm công khai, minh bạch; hoàn thiện các tổ công tác nghiên cứu trong từng lĩnh vực, huy động đội ngũ chuyên gia có chuyên môn sâu cũng như có kinh nghiệm thực tiễn tại các cơ quan, tổ chức, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam và các doanh nghiệp, tập đoàn, cán bộ, công chức tại một số bộ, cơ quan như Bộ Công an, Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp…;
Đồng thời, phối hợp chặt chẽ với Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội và các cơ quan liên quan, tổng hợp báo cáo Ban Chỉ đạo 02 tuần/lần về tình hình triển khai nhiệm vụ, trường hợp cần thiết báo cáo Trưởng Ban Chỉ đạo, Phó trưởng Ban Chỉ đạo xem xét, tổ chức họp, có thể kết hợp họp trực tuyến với địa phương để kịp thời xử lý các vấn đề phát sinh.
Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc ký Quyết định số 28/2026/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ quy định trình tự, thủ tục, thẩm quyền cấp và quản lý thẻ đi lại doanh nhân APEC.

Doanh nhân Việt Nam được cấp thẻ ABTC phải tôn trọng và tuân thủ các quy định của pháp luật về nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú và các quy định khác liên quan đến hoạt động của doanh nhân tại các nền kinh tế thành viên APEC.
Quyết định này quy định về đối tượng được cấp thẻ đi lại doanh nhân APEC (gọi tắt là thẻ ABTC) ; trình tự, thủ tục, thẩm quyền cấp và quản lý thẻ ABTC đối với doanh nhân Việt Nam; việc xét duyệt nhân sự, cấp chứng nhận tạm trú đối với doanh nhân nước ngoài sử dụng thẻ ABTC; trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân trong việc cấp, quản lý và sử dụng thẻ ABTC.
Điều kiện được xem xét cấp thẻ ABTC
Quyết định quy định điều kiện xem xét cấp thẻ ABTC như sau:
Điều kiện đối với cơ quan, tổ chức nơi doanh nhân đang làm việc: Có nhu cầu cử doanh nhân đi lại ngắn hạn tới các nền kinh tế thành viên APEC để thực hiện các hoạt động của cơ quan, tổ chức hoặc tham dự các hội nghị, hội thảo, cuộc họp.
Điều kiện đối với doanh nghiệp nơi doanh nhân đang làm việc:
Doanh nghiệp có thời gian hoạt động liên tục từ 24 tháng trở lên tính đến thời điểm đề nghị cho phép sử dụng thẻ ABTC, chấp hành đúng quy định của pháp luật về thương mại, thuế, hải quan, lao động, bảo hiểm xã hội và các quy định pháp luật khác tại thời điểm đề nghị cấp thẻ ABTC.
Có nhu cầu cử doanh nhân đi lại ngắn hạn đến các nền kinh tế thành viên APEC để thực hiện các hoạt động của doanh nghiệp.
Điều kiện đối với doanh nhân đề nghị cấp thẻ ABTC:
Từ đủ 18 tuổi trở lên, có đủ năng lực hành vi dân sự; có đăng ký thường trú tại Việt Nam trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 9 Quyết định này.
Đang làm việc tại cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp đề nghị từ 12 tháng trở lên tính đến thời điểm đề nghị cho phép sử dụng thẻ ABTC.
Đóng bảo hiểm xã hội tại cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp đề nghị theo chức vụ đề nghị cấp thẻ ABTC từ 06 tháng trở lên, trừ những đối tượng không thuộc diện phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.
Không thuộc các trường hợp tạm hoãn xuất cảnh theo quy định tại Luật Xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam.
Đối tượng được xem xét cấp thẻ ABTC
Quyết định quy định đối tượng được xem xét cấp thẻ ABTC như sau:
1. Đối với các doanh nghiệp do nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần có quyền biểu quyết:
a) Doanh nhân đang làm việc tại các tổ chức tín dụng, trừ quỹ tín dụng nhân dân: giữ chức vụ từ Phó Trưởng phòng hoặc tương đương trở lên; Kế toán trưởng.
b) Doanh nhân đang làm việc tại các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tài chính, chứng khoán, bảo hiểm: giữ chức vụ từ Phó Trưởng phòng hoặc tương đương trở lên; Kế toán trưởng.
c) Doanh nhân đang làm việc tại các tập đoàn, tổng công ty, công ty do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập và đơn vị thành viên của các tập đoàn, tổng công ty, công ty đó: giữ chức vụ từ Phó Trưởng phòng hoặc tương đương trở lên; Kế toán trưởng; Trợ lý, Thư ký của Chủ tịch Hội đồng thành viên, hoặc của Chủ tịch Hội đồng quản trị, hoặc của Chủ tịch Công ty hoặc của Tổng Giám đốc.
d) Doanh nhân đang làm việc tại các doanh nghiệp khác: giữ chức vụ từ Phó Trưởng phòng hoặc tương đương trở lên; Kế toán trưởng.
2. Đối với các tổ chức, doanh nghiệp do nhà nước không nắm giữ hoặc nắm giữ dưới 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần có quyền biểu quyết:
a) Doanh nhân đang làm việc tại các tổ chức tín dụng: giữ chức vụ từ Trưởng phòng hoặc tương đương trở lên; Kế toán trưởng.
b) Doanh nhân đang làm việc tại các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tài chính, chứng khoán, bảo hiểm: giữ chức vụ từ Trưởng phòng hoặc tương đương trở lên; Kế toán trưởng.
c) Doanh nhân đang làm việc tại Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam: giữ chức vụ từ Trưởng phòng hoặc tương đương trở lên; Kế toán trưởng.
d) Doanh nhân đang làm việc tại hợp tác xã hoặc liên hợp tác xã: giữ chức vụ Chủ tịch Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng quản trị, Tổng Giám đốc, Giám đốc, Kế toán trưởng.
đ) Doanh nhân đang làm việc tại các doanh nghiệp khác: giữ chức vụ từ Trưởng phòng hoặc tương đương trở lên; Kế toán trưởng.
3. Cán bộ, công chức có nhiệm vụ tham dự các hội nghị, hội thảo, cuộc họp và các hoạt động về hợp tác, phát triển kinh tế của APEC.
4. Trưởng đại diện, Phó Trưởng đại diện cơ quan đại diện thương mại Việt Nam tại các nền kinh tế thành viên APEC.
Trách nhiệm sử dụng thẻ ABTC
Quyết định nêu rõ doanh nhân Việt Nam được cấp thẻ ABTC có trách nhiệm:
Sử dụng thẻ trong việc đi lại để thực hiện các hoạt động của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp hoặc tham dự các hội nghị, hội thảo, cuộc họp tại các nền kinh tế thành viên APEC.
Giữ gìn và bảo quản thẻ; không được tự ý tẩy, xóa, sửa chữa hoặc làm sai lệch hình thức, thông tin ghi trên thẻ; không được dùng thẻ vào việc vi phạm pháp luật.
Tôn trọng và tuân thủ các quy định của pháp luật về nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú và các quy định khác liên quan đến hoạt động của doanh nhân tại các nền kinh tế thành viên APEC.
Trường hợp không còn giữ chức vụ trong văn bản đồng ý cho phép sử dụng thẻ ABTC nêu tại Điều 9 Quyết định này, doanh nhân phải có trách nhiệm nộp lại thẻ ABTC cho cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày không còn giữ chức vụ.
Doanh nhân nước ngoài sử dụng thẻ ABTC phải tuân thủ quy định của pháp luật về nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam.
Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2026; thay thế Quyết định số 09/2023/QĐ-TTg ngày 12/4/2023 của Thủ tướng Chính phủ quy định trình tự, thủ tục, thẩm quyền, cấp và quản lý thẻ đi lại doanh nhân APEC.
Doanh nhân đã được cấp thẻ ABTC trước ngày Quyết định này có hiệu lực thi hành thì tiếp tục được sử dụng thẻ đến khi hết giá trị sử dụng, trừ trường hợp quy định tại Điều 16 Quyết định này.
Doanh nhân nộp hồ sơ đề nghị cấp văn bản đồng ý cho phép sử dụng thẻ ABTC; hồ sơ đề nghị cấp mới thẻ ABTC, cấp lại thẻ ABTC trước ngày Quyết định này có hiệu lực mà đang trong quá trình xem xét, giải quyết thì tiếp tục được áp dụng quy định của Quyết định số 09/2023/QĐ-TTg ngày 12/4/2023 của Thủ tướng Chính phủ quy định trình tự, thủ tục, thẩm quyền, cấp và quản lý thẻ đi lại doanh nhân APEC để giải quyết.
Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu ký Quyết định số 966/QĐ-TTg phê duyệt Đề án phát triển một số cơ sở giáo dục đại học lớn ở vùng Đông Nam Bộ theo hướng đạt trình độ tiên tiến của nhóm các cơ sở giáo dục đại học hàng đầu trong khu vực châu Á.

Phát triển 4 cơ sở giáo dục đại học đạt trình độ tiên tiến của nhóm đại học hàng đầu châu Á
Mục tiêu của Đề án là phát triển Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học Việt Đức; cùng với Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh thành những trung tâm đào tạo nhân lực chất lượng cao, nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và chuyển giao công nghệ hàng đầu khu vực châu Á; là động lực phát triển giáo dục đại học và góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế của Thành phố Hồ Chí Minh và vùng Đông Nam Bộ.
Phấn đấu đưa một số trường đại học vào nhóm 100 châu Á
Mục tiêu đến năm 2035, Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh và Trường Đại học Việt Đức là những cơ sở giáo dục đại học công lập trọng điểm của vùng Đông Nam Bộ và cả nước, có hạ tầng kỹ thuật và cơ sở vật chất hiện đại, đạt tiêu chuẩn khu vực, phấn đấu duy trì vị thế thuộc nhóm trường hàng đầu khu vực châu Á trong những ngành, lĩnh vực thế mạnh của từng trường, trong đó:
- Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh là đại học đa ngành, đa lĩnh vực thuộc nhóm 100 cơ sở giáo dục đại học hàng đầu khu vực châu Á trong lĩnh vực kinh tế, kinh doanh và quản lý; góp phần xây dựng, phát triển Thành phố Hồ Chí Minh và vùng Đông Nam Bộ thành trung tâm kinh tế, tài chính, thương mại hàng đầu của cả nước và khu vực.
- Trường Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh là một cơ sở giáo dục đại học hàng đầu Việt Nam trong lĩnh vực khoa học sức khỏe, đáp ứng các tiêu chí, tiêu chuẩn của nhóm 100 cơ sở giáo dục đại học hàng đầu khu vực châu Á về đào tạo nguồn nhân lực y tế chất lượng cao, nghiên cứu khoa học, ứng dụng và chuyển giao công nghệ tiên tiến trong y học hiện đại đạt chuẩn quốc tế; góp phần nâng cao chất lượng y tế vùng Đông Nam Bộ và cả nước.
- Trường Đại học Việt Đức là một đại học nghiên cứu, hoạt động theo mô hình đại học nghiên cứu hàng đầu của Cộng hòa Liên bang Đức; là một trung tâm đào tạo, nghiên cứu kỹ thuật và đổi mới sáng tạo xuất sắc, đáp ứng các tiêu chí, tiêu chuẩn của nhóm 200 trường đại học hàng đầu khu vực châu Á về kỹ thuật - công nghệ chính xác và thông minh, vi mạch bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, khoa học dữ liệu và các lĩnh vực khoa học công nghệ, kỹ thuật then chốt, tạo động lực thu hút đầu tư và phát triển công nghệ cao cho Thành phố Hồ Chí Minh, vùng Đông Nam Bộ và cả nước.
Đưa Thành phố Hồ Chí Minh và vùng Đông Nam Bộ trở thành một trong những trung tâm tài chính, giáo dục, y tế hàng đầu của cả nước
Định hướng đến năm 2050, Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh và Trường Đại học Việt Đức duy trì chất lượng đào tạo, nghiên cứu và quản trị thuộc nhóm 100 cơ sở giáo dục đại học hàng đầu khu vực châu Á, cùng với Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, giữ vai trò nòng cốt trong đào tạo, nghiên cứu khoa học, phát triển và chuyển giao công nghệ ở những lĩnh vực có khả năng cạnh tranh ở tầm khu vực, đồng thời, là hạt nhân góp phần phát triển kinh tế - xã hội bền vững, đưa Thành phố Hồ Chí Minh và vùng Đông Nam Bộ trở thành một trong những trung tâm tài chính, giáo dục và y tế hàng đầu của cả nước và trong khu vực Đông Nam Á.
5 nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm
Đề án đưa ra 5 nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm để thực hiện các mục tiêu trên gồm: Hiện đại hóa hạ tầng kỹ thuật và cơ sở vật chất, mở rộng không gian phát triển của các cơ sở giáo dục đại học; xây dựng, phát triển đội ngũ đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế; đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo theo tiêu chuẩn quốc tế; nâng cao năng lực nghiên cứu, công bố quốc tế, thúc đẩy cơ chế liên kết, đặt hàng thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ; tăng cường phối hợp với địa phương, hợp tác với doanh nghiệp ở vùng Đông Nam Bộ trong đào tạo nhân lực chất lượng cao, giải quyết các vấn đề đặc thù của địa phương và đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững của vùng và cả nước.
Nâng cấp, mở rộng cơ sở vật chất
Trong đó, Đề án triển khai nâng cấp, mở rộng và hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật và cơ sở vật chất của Đại học Kinh tế tại Thành phố Hồ Chí Minh thành trung tâm đại học thông minh, kết nối giáo dục quốc tế; mở rộng diện tích của phân hiệu Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh tại tỉnh Vĩnh Long, phát triển phân hiệu Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh tại tỉnh Khánh Hoà với định hướng trở thành những trung tâm đào tạo kết nối toàn cầu, là trung tâm đào tạo và tư vấn, nghiên cứu và chuyển giao tri thức, công nghệ có tính hội nhập quốc tế cao.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong giảng dạy, nghiên cứu và quản trị có kiểm soát, bảo đảm an toàn, minh bạch, trách nhiệm giải trình và tuân thủ quy định về bảo vệ dữ liệu, đạo đức và liêm chính học thuật; phát triển tài nguyên giáo dục mở, kết nối, liên thông và chia sẻ cơ sở dữ liệu của nhà trường với cơ sở dữ liệu chuyên ngành về giáo dục đại học và Trung tâm dữ liệu quốc gia; phát triển đội ngũ cán bộ quản lý chuyên nghiệp, ngang tầm với các cơ sở giáo dục đại học hàng đầu trong khu vực châu Á, tăng cường năng lực quản trị đại học thông qua các khóa bồi dưỡng ngắn hạn, trao đổi kinh nghiệm với các trường đại học tiên tiến trên thế giới.
Đổi mới nội dung giảng dạy, đánh giá; thực hiện rà soát, cập nhật và tham chiếu chương trình đào tạo của các trường trong khu vực thuộc nhóm 100 trường đại học hàng đầu châu Á và quốc tế; thúc đẩy việc công nhận học phần, chương trình đào tạo của các trường hàng đầu trong khu vực; đẩy mạnh xây dựng các chương trình đào tạo đa ngành, liên ngành và tích hợp các nội dung kinh tế số hoặc theo các mục tiêu phát triển bền vững của Liên hợp quốc; tăng cường học phần trao đổi liên ngành giữa các chương trình đào tạo và giữa các cơ sở giáo dục đại học với nhau.
Xây dựng và phát triển chương trình đào tạo tài năng và chất lượng cao
Đề án xây dựng và phát triển chương trình đào tạo tài năng và chất lượng cao, chuyên sâu, đặc thù dựa trên thế mạnh của nhà trường, bảo đảm chuẩn đầu ra theo hướng đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động trong nước và quốc tế.
Triển khai các phương pháp giảng dạy hiện đại, phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của người học; tăng cường liên thông giữa các chương trình đào tạo trong nước và quốc tế, đẩy mạnh liên kết đào tạo với các trường đại học quốc tế uy tín; phát triển giáo trình, học liệu điện tử và các khóa học trực tuyến; xây dựng mô hình giáo dục đại học số.
Quốc tế hóa chương trình đào tạo
Quốc tế hóa chương trình đào tạo và môi trường học tập thông qua xây dựng các mối quan hệ hợp tác quốc tế, trao đổi giảng viên, sinh viên và triển khai các dự án nghiên cứu quốc tế; hiện đại hóa cơ sở vật chất đạt chuẩn quốc tế, tăng cường hợp tác đào tạo và trao đổi sinh viên với các trường đại học hàng đầu châu Á, thúc đẩy các dự án học tập và nghiên cứu chung tại Việt Nam và các quốc gia trong khu vực.../.