Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 04/8/2026
(Chinhphu.vn) - Văn phòng Chính phủ vừa có Thông cáo báo chí chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 04/8/2026.
Chính sách huy động tiềm lực khoa học và công nghệ, kỹ thuật phục vụ hoạt động Công an nhân dân

Chính sách huy động tiềm lực KHCN phục vụ hoạt động Công an nhân dân.
Chính phủ ban hành Nghị định số 304/2026/NĐ-CP ngày 03/8/2026 huy động tiềm lực khoa học và công nghệ, kỹ thuật phục vụ hoạt động của Công an nhân dân.
Nghị định này quy định chi tiết khoản 2 Điều 33 Luật Công an nhân dân về huy động tiềm lực khoa học và công nghệ, kỹ thuật phục vụ hoạt động của Công an nhân dân.
Nghị định này không điều chỉnh các trường hợp sau đây: (*)
a) Huy động nguồn lực khi có tình trạng chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, khi có nguy cơ đe dọa an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội nhưng chưa đến mức ban bố tình trạng khẩn cấp, chống khủng bố, tham gia chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ và thực hiện công tác cảnh vệ; huy động người, phương tiện, thiết bị dân sự theo quy định của pháp luật về trật tự, an toàn giao thông đường bộ và pháp luật về cảnh sát cơ động; huy động phương tiện giao thông, thông tin liên lạc của cơ quan, tổ chức và cá nhân theo quy định của pháp luật về tổ chức cơ quan điều tra hình sự; huy động chuyên gia, nhà khoa học, cán bộ chuyên sâu trong trường hợp khẩn cấp để bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội trên không gian mạng theo quy định của pháp luật về an ninh mạng;
b) Huy động nguồn lực tham gia phát triển công nghiệp an ninh; huy động tiềm lực khoa học và công nghệ, kỹ thuật của cơ quan, tổ chức, cá nhân phục vụ cho hoạt động nghiên cứu, sản xuất, sử dụng mật mã để bảo vệ thông tin bí mật nhà nước theo quy định của pháp luật về cơ yếu;
c) Huy động tài sản bị trưng mua, tài sản bị tịch thu theo quy định của pháp luật dân sự; huy động tài sản trưng mua, trưng dụng theo quy định của pháp luật về trưng mua, trưng dụng tài sản; huy động tài sản trí tuệ được bắt buộc chuyển giao quyền sử dụng theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ;
d) Các trường hợp huy động nguồn lực được điều chỉnh bởi quy định của pháp luật chuyên ngành khác.
Nguyên tắc huy động
Nghị định nêu rõ: Việc huy động tiềm lực khoa học và công nghệ, kỹ thuật phục vụ hoạt động của Công an nhân dân phải tuân thủ thẩm quyền, trình tự theo quy định của Nghị định này và đúng mục đích được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt trong kế hoạch huy động hằng năm; phải sử dụng hiệu quả đối tượng được huy động và không làm gián đoạn hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan.
Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để cơ quan, tổ chức, cá nhân tự nguyện, thỏa thuận chuyển giao tiềm lực khoa học và công nghệ, kỹ thuật phục vụ hoạt động của Công an nhân dân; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân sở hữu tiềm lực khoa học và công nghệ, kỹ thuật được huy động; bồi thường kịp thời, hợp lý cho cơ quan, tổ chức, cá nhân sở hữu tiềm lực khoa học và công nghệ, kỹ thuật được huy động.
Tiềm lực khoa học và công nghệ, kỹ thuật của các cơ quan, tổ chức, cá nhân phù hợp với kế hoạch huy động được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đều được xem xét huy động phục vụ hoạt động của Công an nhân dân để bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật, trừ các trường hợp được quy định tại (*). Việc huy động tiềm lực khoa học và công nghệ, kỹ thuật do Bộ Quốc phòng quản lý phải được thống nhất bằng văn bản giữa Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Bộ trưởng Bộ Công an.
Cơ quan, tổ chức, cá nhân được huy động tiềm lực khoa học và công nghệ, kỹ thuật phục vụ hoạt động của Công an nhân dân phải tuân thủ quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước, pháp luật về sở hữu trí tuệ, pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân.
Phương thức huy động
Việc huy động tiềm lực khoa học và công nghệ, kỹ thuật phục vụ hoạt động của Công an nhân dân được thực hiện thông qua các phương thức sau đây:
1. Tự nguyện của cơ quan, tổ chức, cá nhân sở hữu tiềm lực khoa học và công nghệ, kỹ thuật.
2. Thỏa thuận giữa Bộ Công an và cơ quan, tổ chức, cá nhân sở hữu tiềm lực khoa học và công nghệ, kỹ thuật.
3. Quyết định của Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Công an và cơ quan, tổ chức sở hữu tiềm lực khoa học và công nghệ, kỹ thuật. Phương thức huy động này chỉ áp dụng đối với tài sản công được giao cơ quan, tổ chức quản lý, sử dụng và chỉ được sử dụng trong trường hợp không thực hiện được các phương thức huy động theo quy định tại khoản 1, 2 nêu trên. Bộ Công an báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định áp dụng phương thức huy động này.
Đối tượng được huy động
Đối tượng được huy động trong chuyển giao công nghệ, kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ theo quy định của pháp luật về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, công nghệ cao, chuyển giao công nghệ, dữ liệu và sở hữu trí tuệ bao gồm:
a) Công nghệ tiên tiến, công nghệ cao, công nghệ chiến lược, công nghệ lõi, công nghệ mới, công nghệ sạch;
b) Quyền sử dụng kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, chương trình máy tính, cơ sở dữ liệu, bí mật kinh doanh và các tài sản trí tuệ khác được bảo hộ theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ.
Đối tượng được huy động trong bảo đảm cơ sở vật chất, kỹ thuật cho cơ sở đào tạo, huấn luyện và nghiên cứu khoa học của Công an nhân dân bao gồm:
a) Cơ sở vật chất, hạ tầng nghiên cứu và phát triển công nghệ, phòng thí nghiệm, trạm thử nghiệm, trạm quan trắc; phương tiện, thiết bị kỹ thuật thiết yếu, đặc chủng;
b) Nhân sự vận hành cơ sở vật chất, hạ tầng nghiên cứu và phát triển công nghệ, phòng thí nghiệm, trạm thử nghiệm, trạm quan trắc; phương tiện, thiết bị kỹ thuật thiết yếu, đặc chủng.
Đối tượng được huy động trong bảo đảm tiềm lực thông tin, cơ sở dữ liệu, tư liệu khoa học và công nghệ, kỹ thuật của Công an nhân dân bao gồm:
a) Hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu, tư liệu về khoa học và công nghệ, kỹ thuật;
b) Nhân sự vận hành hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu, tư liệu về khoa học và công nghệ, kỹ thuật; nhân sự công nghệ thông tin, an ninh mạng, chuyển đổi số.
Đối tượng được huy động trong bổ sung lực lượng, đào tạo, bồi dưỡng nhân lực khoa học và công nghệ phục vụ hoạt động bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật bao gồm:
a) Tổng công trình sư, Kiến trúc sư trưởng về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; chuyên gia, nhà khoa học, nhân tài khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong nước và ngoài nước; nhà giáo giảng dạy trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; cá nhân khác hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo;
b) Nhân sự quản lý khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Chính sách đối với cá nhân được huy động
Nghị định nêu rõ: Trong thời gian huy động, cá nhân là cán bộ, công chức, viên chức được hưởng nguyên tiền lương, tiền thưởng và các chế độ, chính sách do cơ quan quản lý cá nhân chi trả, đồng thời được hưởng chi phí hỗ trợ theo thỏa thuận hợp đồng với Bộ Công an, tối đa bằng tiền lương đang hưởng; cá nhân không hưởng lương từ ngân sách nhà nước được hưởng thù lao theo thỏa thuận hợp đồng với Bộ Công an bảo đảm tương xứng với nhiệm vụ được giao, mặt bằng tiền lương tương ứng trên thị trường lao động và phù hợp với quy định của pháp luật về tuyển chọn, sử dụng Tổng công trình sư, Kiến trúc sư trưởng về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, về cơ chế, chính sách thu hút chuyên gia khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Trường hợp phải huy động làm thêm giờ, ngày nghỉ, ngày lễ, cá nhân được hưởng các chế độ, chính sách theo quy định của pháp luật về lao động.
Ngoài các chế độ, chính sách quy định nêu trên, cá nhân có thành tích xuất sắc được xem xét khen thưởng theo quy định của pháp luật về thi đua, khen thưởng.
Cá nhân bị thiệt hại về thân thể (bệnh tật, thương tật, hy sinh) trong thời gian thực hiện nhiệm vụ huy động được hưởng các chế độ về chi phí y tế, trợ cấp tai nạn, bảo hiểm rủi ro đặc thù theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội và an toàn, vệ sinh lao động hoặc xem xét công nhận thương binh, liệt sĩ theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng.
Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/10/2026.
Quy định về lựa chọn, công nhận, chính sách đối với người có uy tín trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số và chính sách thăm hỏi, chúc mừng, tặng quà, động viên, gặp mặt, biểu dương, tôn vinh đối với một số tổ chức, cá nhân người dân tộc thiểu số
Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 307/2026/NĐ-CP ngày 04/8/2026 quy định về lựa chọn, công nhận, chính sách đối với người có uy tín trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số và chính sách thăm hỏi, chúc mừng, tặng quà, động viên, gặp mặt, biểu dương, tôn vinh đối với một số tổ chức, cá nhân người dân tộc thiểu số.

Chính sách cho người có uy tín trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Ảnh: Báo Đắk Lắk
Nghị định này gồm 7 chương, 16 điều quy định tiêu chí lựa chọn, công nhận người có uy tín trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số (sau đây gọi tắt là người có uy tín); chính sách đối với người có uy tín; chính sách thăm hỏi, chúc mừng, tặng quà, động viên, gặp mặt, biểu dương, tôn vinh đối với một số tổ chức, cá nhân người dân tộc thiểu số; trình tự, thủ tục công nhận và đưa ra khỏi, thay thế, bổ sung danh sách người có uy tín; trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc tổ chức thực hiện Nghị định này.
Tiêu chí lựa chọn người có uy tín
Người có uy tín đáp ứng các tiêu chí sau đây:
1. Là công dân Việt Nam, không phân biệt tôn giáo, giới tính, cư trú tại địa phương; ưu tiên người dân tộc thiểu số.
2. Bản thân và gia đình gương mẫu chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
3. Là người tiêu biểu, có nhiều đóng góp trong các phong trào thi đua yêu nước, xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, bảo vệ an ninh trật tự, giữ gìn bản sắc văn hóa và xây dựng khối đại đoàn kết các dân tộc.
4. Hiểu biết về văn hóa truyền thống, phong tục, tập quán tốt đẹp của địa phương; có mối liên hệ chặt chẽ trong dòng họ, dân tộc và cộng đồng dân cư.
5. Có khả năng quy tụ, tập hợp, tuyên truyền, vận động người dân thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; được người dân trong cộng đồng tín nhiệm, tin tưởng, nghe và làm theo.
Người có uy tín được lựa chọn từ các đối tượng sau:
1. Già làng, trưởng dòng họ, người thường xuyên được đồng bào dân tộc thiểu số mời thực hiện các nghi lễ truyền thống hoặc nghi lễ tín ngưỡng tốt đẹp của cộng đồng, dân tộc, dòng họ, thôn.
2. Chức sắc, chức việc, nhà tu hành trong các tổ chức tôn giáo đã được Nhà nước công nhận.
3. Cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, chiến sĩ, công chức quốc phòng, công nhân và nhân viên quốc phòng, người làm việc trong các tổ chức cơ yếu thuộc Quân đội nhân dân, sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ và công nhân Công an nhân dân đã nghỉ hưu có quá trình công tác lâu năm, có cống hiến cho cộng đồng, dân tộc, đất nước.
4. Bí thư chi bộ, Trưởng thôn, Trưởng Ban công tác mặt trận thôn, Tổ trưởng Tổ bảo vệ an ninh, trật tự, Thôn đội trưởng.
5. Nhân sỹ, trí thức, doanh nhân, nghệ nhân, nhà giáo, thầy thuốc, lương y, công nhân, nông dân sản xuất giỏi, phụ nữ tiêu biểu, thanh niên tiêu biểu được đa số đồng bào tín nhiệm.
Điều kiện bình chọn người có uy tín
Nghị định quy định mỗi thôn thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số hoặc thôn của xã, phường, đặc khu (sau đây gọi chung là xã) thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số được lựa chọn, công nhận 01 người có uy tín.
Trường hợp thôn thành lập mới do sắp xếp, sáp nhập các thôn từ ngày 26/5/2026, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã tùy theo tình hình thực tế, quyết định số lượng người có uy tín của thôn mới nhưng không vượt quá tổng số người có uy tín của các thôn trước khi sáp nhập.
Chính sách đối với người có uy tín
Nghị định quy định người có uy tín được hưởng các chính sách sau:
1. Chính sách hỗ trợ về thông tin
Hằng năm, người có uy tín được tập huấn, bồi dưỡng, cung cấp thông tin theo hình thức phù hợp về chủ trương, chính sách, pháp luật, quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa; công tác dân tộc và chính sách dân tộc; kiến thức, kỹ năng khai thác, sử dụng, xử lý thông tin trên Internet, mạng xã hội và các kỹ năng hòa giải, tuyên truyền, vận động quần chúng.
Người có uy tín được cấp (không thu tiền):
a) Một ấn phẩm báo chí (01 tờ/người/kỳ/tháng) của cơ quan báo chí cấp trung ương có tôn chỉ, mục đích, nhiệm vụ thông tin, tuyên truyền chuyên sâu về công tác dân tộc, chính sách dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo.
b) Một ấn phẩm báo chí của tỉnh (01 tờ/người/kỳ/tháng) hoặc loại hình cung cấp thông tin khác do tỉnh quyết định.
Tùy vào tình hình thực tế, các tỉnh, các xã tổ chức các Đoàn người có uy tín tham quan, học tập, trao đổi kinh nghiệm trong và ngoài tỉnh về phát triển kinh tế - xã hội, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, giữ gìn bản sắc văn hóa và đoàn kết dân tộc.
Căn cứ vào điều kiện của địa phương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nghiên cứu, trình Hội đồng nhân dân cấp tỉnh ban hành các chính sách hỗ trợ về thông tin với số lượng, tần suất cao hơn; thông tin trên môi trường số hoặc các hình thức khác phù hợp.
2. Chính sách hỗ trợ vật chất, động viên tinh thần
Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố (gọi chung là tỉnh) chỉ đạo, tổ chức thực hiện chính sách hỗ trợ vật chất, động viên tinh thần người có uy tín như sau:
a) Thăm hỏi, tặng quà nhân dịp Tết Nguyên đán, Tết hoặc lễ hội truyền thống của các dân tộc thiểu số; tối đa 03 lần/người/năm; mức chi 1.000.000 đồng/người/lần.
b) Thăm hỏi, hỗ trợ người có uy tín bị ốm đau không quá 01 lần/năm. Mức chi theo thực tế, tối đa: 5.000.000 đồng/người khi điều trị bệnh tại cấp khám bệnh, chữa bệnh chuyên sâu; 3.000.000 đồng/người khi điều trị tại cấp khám chữa bệnh cơ bản; 1.000.000 đồng/người khi điều trị tại cấp khám bệnh, chữa bệnh ban đầu.
c) Thăm hỏi, hỗ trợ kịp thời hộ gia đình người có uy tín gặp khó khăn đột xuất do sự cố, thiên tai, hỏa hoạn bị thiệt hại về người (chết, mất tích, bị thương nặng) thì được thăm hỏi 5.000.000 đồng/người; bị thiệt hại về tài sản được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú xác nhận, xác định mức độ thiệt hại thì được thăm hỏi theo thực tế, tối đa 5.000.000 đồng/hộ/lần (không quá 10.000.000 đồng/hộ/năm).
d) Thăm viếng, động viên khi người có uy tín, thân nhân trong gia đình (con đẻ, con nuôi, vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, cha vợ, cha chồng, mẹ vợ, mẹ chồng) chết: 1.000.000 đồng/trường hợp.
Lãnh đạo chủ chốt, lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; đoàn công tác Hội đồng Dân tộc của Quốc hội; Bộ Dân tộc và Tôn giáo thăm, làm việc tại các địa phương:
a) Thăm hỏi, chúc mừng, tặng quà trị giá không quá 1.000.000 đồng/người có uy tín.
b) Thăm hỏi, hỗ trợ người có uy tín bị ốm đau, gia đình gặp khó khăn đột xuất do sự cố, thiên tai, hỏa hoạn bị thiệt hại về người hoặc tài sản, có thân nhân trong gia đình chết: 5.000.000 đồng/trường hợp.
3. Chính sách khen thưởng
Người có uy tín có thành tích xuất sắc trong lao động sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội, giữ gìn bản sắc văn hóa và xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc được biểu dương, khen thưởng theo quy định của Luật Thi đua, khen thưởng và các văn bản hướng dẫn hiện hành về thi đua, khen thưởng.
Định kỳ 5 năm/lần tổ chức Hội nghị biểu dương, tôn vinh, khen thưởng người có uy tín tiêu biểu đối với cấp trung ương và cấp tỉnh.
Ủy ban nhân dân cấp xã lựa chọn, quyết định hình thức, thời gian tổ chức các hoạt động biểu dương, tôn vinh, khen thưởng người có uy tín tiêu biểu trên địa bàn bảo đảm phù hợp với quy mô, số lượng người có uy tín và tình hình thực tiễn của địa phương.
4. Chính sách tiếp đón
Các đoàn đại biểu người có uy tín do địa phương tổ chức đến thăm, làm việc với lãnh đạo chủ chốt, lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Hội đồng Dân tộc của Quốc hội; Bộ Dân tộc và Tôn giáo và cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh vực công tác dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo cấp tỉnh được đón tiếp, tặng quà. Mức chi tặng quà không quá 1.000.000 đồng/đại biểu; chi đón tiếp thực hiện theo quy định hiện hành về chế độ chi tiếp khách trong nước.
Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 20/9/2026.
Phê duyệt Đề án "Phát triển hệ thống các trung tâm nghiên cứu, thử nghiệm, các phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia, tập trung cho công nghệ chiến lược"
Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng vừa ký Quyết định số 1483/QĐ-TTg ngày 04/8/2026 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án "Phát triển hệ thống các trung tâm nghiên cứu, thử nghiệm, các phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia, tập trung cho công nghệ chiến lược" (Đề án).

Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Phát triển hệ thống các trung tâm nghiên cứu, thử nghiệm, các phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia, tập trung cho công nghệ chiến lược".
Mục tiêu của Đề án nhằm phát triển hệ thống các trung tâm nghiên cứu, thử nghiệm, các phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia hiện đại, đồng bộ, kết nối và khai thác dùng chung trên phạm vi toàn quốc, tập trung vào các công nghệ chiến lược, công nghệ lõi và sản phẩm công nghệ chiến lược; trong đó một số lĩnh vực đạt trình độ tiên tiến trong khu vực và tiệm cận trình độ các nước phát triển. Từng bước hình thành năng lực quốc gia về nghiên cứu, thử nghiệm, đo lường, kiểm định, đánh giá sự phù hợp, sản xuất thử và thương mại hóa công nghệ; góp phần nâng cao năng lực hấp thụ, làm chủ, phát triển công nghệ chiến lược và tăng cường tự chủ công nghệ quốc gia.
Đến năm 2030, làm chủ tối thiểu 10 công nghệ lõi phục vụ trực tiếp sản phẩm công nghệ chiến lược
Phấn đấu đến năm 2030, nâng cấp, đầu tư mới và đưa vào vận hành tối thiểu 08 phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia ưu tiên định hướng trong các lĩnh vực công nghệ số, mạng di động thế hệ sau, robot và tự động hóa, sinh học và y sinh tiên tiến, năng lượng và vật liệu tiên tiến, an ninh mạng và lượng tử, biển, đại dương và lòng đất, hàng không và vũ trụ; tối thiểu 04 trung tâm nghiên cứu, thử nghiệm quốc gia ưu tiên định hướng trong các lĩnh vực thiết bị bay không người lái, sinh học và y sinh, vật liệu, đường sắt tốc độ cao và đường sắt đô thị.
Làm chủ tối thiểu 10 công nghệ lõi phục vụ trực tiếp sản phẩm công nghệ chiến lược và các bài toán lớn quốc gia.
Tăng trưởng trung bình tối thiểu 18%/năm về số lượng đơn đăng ký sáng chế và văn bằng bảo hộ công nghệ lõi, công nghệ chiến lược tính từ năm thứ ba kể từ khi đưa vào vận hành chính thức theo quy định.
Thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu và tài sản trí tuệ của các trung tâm nghiên cứu, thử nghiệm, các phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia; hình thành ít nhất 10 doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo hoặc doanh nghiệp khoa học và công nghệ có khả năng phát triển, làm chủ và thương mại hóa công nghệ lõi, công nghệ chiến lược, sản phẩm công nghệ chiến lược.
Hình thành và duy trì mối liên kết chặt chẽ giữa mỗi trung tâm nghiên cứu, thử nghiệm, phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia với ít nhất một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo hoặc cụm liên kết viện nghiên cứu, cơ sở giáo dục đại học, doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước; bảo đảm kết quả nghiên cứu, thử nghiệm gắn với nhu cầu thị trường, quốc phòng, an ninh; phát triển công nghệ lõi, công nghệ chiến lược, sản phẩm công nghệ chiến lược và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam.
Mục tiêu đến năm 2035, tiếp tục nâng cấp, đầu tư, hình thành hệ thống các trung tâm nghiên cứu, thử nghiệm, các phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia hiện đại; kết nối với các mạng lưới hạ tầng nghiên cứu tiên tiến trong khu vực và quốc tế; có một số trung tâm thử nghiệm, phòng thí nghiệm đạt trình độ hàng đầu trong khu vực về lĩnh vực công nghệ chiến lược.
Nâng cao năng lực làm chủ công nghệ lõi, công nghệ nền; cơ bản đáp ứng nhu cầu trong nước về nghiên cứu, phát triển, thử nghiệm, đánh giá và sản xuất thử đối với sản phẩm công nghệ chiến lược; thúc đẩy chuyển giao, thương mại hóa, hỗ trợ doanh nghiệp và lan tỏa công nghệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.
6 nhiệm vụ, giải pháp
Đề án đưa ra 06 nhiệm vụ và giải pháp cụ thể như sau: (1) Xây dựng các văn bản phục vụ công tác quản lý, vận hành; (2) Đổi mới cơ chế đầu tư về tài chính; (3) Quản trị, tổ chức vận hành và khai thác dùng chung; (4) Phát triển nguồn nhân lực; (5) Hợp tác quốc tế; (6) Giám sát, đánh giá hệ thống.
Về xây dựng các văn bản phục vụ công tác quản lý, vận hành, Đề án yêu cầu:
Xây dựng, ban hành tiêu chí lựa chọn các trung tâm nghiên cứu, thử nghiệm, các phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia, tập trung cho công nghệ chiến lược.
Xây dựng chỉ số đánh giá hiệu quả định lượng để giám sát, đánh giá kết quả đầu ra của hệ thống các trung tâm nghiên cứu, thử nghiệm, các phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia.
Xây dựng, ban hành quy định về hoạt động, cơ chế vận hành dùng chung của các trung tâm nghiên cứu, thử nghiệm, các phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia.
Đồng thời, rà soát và ban hành quy định về tổ chức, mô hình quản trị, cơ chế thành lập mới, tổ chức lại, giao quản lý và vận hành hệ thống; cơ chế cho phép các trung tâm nghiên cứu, thử nghiệm, các phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia được sử dụng các nguồn tài chính từ dịch vụ theo quy định để tái đầu tư và khoản chi hợp lý khác; cơ chế tuyển dụng, chi trả lương cho người lao động cơ hữu và chuyên gia làm việc tại hệ thống theo mức lương thỏa thuận, gắn với vị trí việc làm, nhiệm vụ được giao, kết quả thực hiện.
Về đổi mới cơ chế đầu tư và tài chính, Đề án nêu rõ: Thực hiện đầu tư theo vòng đời, bảo đảm đồng bộ hạ tầng, trang thiết bị, nguồn nhân lực và điều kiện quản lý, vận hành; việc lựa chọn, nâng cấp và đầu tư mới phải căn cứ yêu cầu phát triển công nghệ chiến lược, nhu cầu, khoảng trống năng lực, khả năng khai thác dùng chung và cam kết kết quả đầu ra; chỉ đầu tư mới khi hạ tầng hiện có không thể đáp ứng thông qua nâng cấp, kết nối, chia sẻ, khai thác dùng chung hoặc thuê dịch vụ.
Huy động, đa dạng hóa các nguồn lực đầu tư từ ngân sách trung ương, ngân sách địa phương, doanh nghiệp và các nguồn vốn hợp pháp khác; áp dụng cơ chế đồng đầu tư, phương thức đối tác công tư khi phù hợp và huy động doanh nghiệp công nghệ, doanh nghiệp dẫn dắt ngành tham gia đầu tư, đặt hàng nghiên cứu, thử nghiệm, khai thác kết quả nghiên cứu và tài sản trí tuệ theo quy định của pháp luật.
Sử dụng nguồn thu hợp pháp từ hoạt động của hệ thống để phục vụ vận hành, bảo trì, nâng cấp và tái đầu tư theo quy định của pháp luật.
Đặt hàng hoặc tài trợ nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược, nhiệm vụ xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn, thử nghiệm, đánh giá công nghệ mới cho các trung tâm nghiên cứu, thử nghiệm, các phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia có năng lực phù hợp.
Kế hoạch triển khai thực hiện kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại buổi làm việc về công tác chuẩn bị năm học 2026 - 2027 và tình hình triển khai thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo
Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu ký Quyết định số 1472/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại buổi làm việc về công tác chuẩn bị năm học 2026 - 2027 và tình hình triển khai thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.

Bảo đảm ngày khai giảng thực sự là ngày hội của học sinh và giáo viên
Chuyển mạnh từ tư duy "quản lý giáo dục" sang "quản trị phát triển giáo dục"
Mục tiêu của Kế hoạch là tổ chức quán triệt đầy đủ và thực hiện nghiêm túc, hiệu quả kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại buổi làm việc về công tác chuẩn bị năm học 2026 - 2027 và tình hình thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo tại Thông báo số 105-TB/VPTW ngày 24/6/2026 của Văn phòng Trung ương Đảng (Thông báo số 105-TB/VPTW) tạo sự thống nhất cao về nhận thức và hành động trong toàn hệ thống chính trị đối với sự nghiệp phát triển giáo dục và đào tạo.
Nâng cao nhận thức, quyết tâm mạnh mẽ và quan tâm thực chất trong công tác chuẩn bị các điều kiện bảo đảm cho năm học 2026 - 2027, bảo đảm ngày khai giảng thực sự là ngày hội của học sinh và giáo viên, trang trọng và thiết thực; không để xảy ra tình trạng thiếu giáo viên, thiếu sách giáo khoa hoặc cơ sở vật chất không an toàn.
Tạo chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức và hành động triển khai thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp đột phá phát triển giáo dục và đào tạo theo Nghị quyết số 71-NQ/TW, bảo đảm thực chất, hiệu quả; trọng tâm là chuyển mạnh từ tư duy "quản lý giáo dục" sang "quản trị phát triển giáo dục", gắn với đổi mới thể chế và tạo chuyển biến rõ nét trong các hoạt động giáo dục và đào tạo...
Kế hoạch yêu cầu các bộ, cơ quan ngang bộ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố theo chức năng, nhiệm vụ tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện có hiệu quả công tác chuẩn bị năm học mới 2026 - 2027 và các nhiệm vụ phát triển giáo dục và đào tạo thời gian tới được giao tại Thông báo số 105-TB/VPTW.
Tập trung hỗ trợ bữa ăn trưa, đồ dùng học tập, phương tiện đi lại cho học sinh
Về công tác chuẩn bị và tổ chức năm học mới 2026 - 2027, Kế hoạch giao Bộ Giáo dục và Đào tạo rà soát, chuẩn bị kỹ phương án tổ chức Lễ khai giảng năm học mới 2026-2027 và Lễ khánh thành các trường phổ thông nội trú liên cấp tại các xã biên giới đất liền vào ngày 5/9/2026.
Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan và các địa phương rà soát kỹ các vấn đề về bảo đảm điều kiện học tập của học sinh như: phòng học, phòng học bộ môn, sách giáo khoa, thiết bị dạy học tối thiểu, nước sạch, nhà vệ sinh, điện, internet, an toàn trường học, học sinh có nguy cơ bỏ học... Khuyến khích các địa phương chủ động sử dụng ngân sách địa phương và nguồn lực hợp pháp khác theo quy định để hỗ trợ thiết thực cho học sinh trong năm học mới, nhất là học sinh ở các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn, các khu công nghiệp, khu chế xuất; tập trung hỗ trợ bữa ăn trưa, bữa ăn bán trú, thiết bị, đồ dùng học tập, phương tiện đi lại cho học sinh. Kiên quyết không để học sinh do hoàn cảnh khó khăn mà không được đến trường.
Đồng thời, sửa đổi, hoàn thiện các quy định, tiêu chí, tiêu chuẩn công nhận trường chuẩn quốc gia; nghiên cứu cơ chế cho phép thí điểm nhiều mô hình quản trị đối với hệ thống trường công, trường tư trên cùng một địa bàn; nghiên cứu điều chuyển, giảm biên chế "quản lý giáo dục", tăng biên chế trực tiếp giảng dạy; tùy điều kiện cụ thể, có thể tổ chức các trường có nhiều điểm trường. Mọi phương án sắp xếp phải dựa trên đánh giá tác động về điều kiện địa lý, giao thông, số lượng học sinh, giáo viên, chất lượng giáo dục.
Tiếp tục hoàn thiện tiêu chuẩn các mô hình trường mới
Bộ Giáo dục và Đào tạo rà soát tiêu chuẩn, định mức giáo viên, phòng học phù hợp với điều kiện vùng miền, địa bàn dân cư; tiếp tục hoàn thiện quy hoạch, tiêu chuẩn và hoạt động của các mô hình trường mới; phối hợp với các địa phương huy động sự chung tay, góp sức của cả hệ thống chính trị nhằm hoàn thành đúng tiến độ việc xây dựng các trường phổ thông liên cấp nội trú tại các xã biên giới đất liền, bảo đảm đa mục tiêu về giáo dục, an sinh xã hội và quốc phòng, an ninh quốc gia; chủ trì, phối hợp với Bộ Nội vụ, Ban Tổ chức Trung ương và các địa phương rà soát, báo cáo tổng thể về số liệu thừa, thiếu giáo viên mầm non, phổ thông sau khi các địa phương thực hiện phân bổ biên chế theo Quyết định số 185-QĐ/TW ngày 2/6/2026 của Bộ Chính trị; đề xuất phương án giải quyết cho năm học 2026 - 2027, trong đó lưu ý địa phương nào còn biên chế giáo viên các cấp đã được cấp có thẩm quyền giao nhưng chưa thực hiện tuyển dụng phải sớm hoàn thành tuyển dụng để kịp cho năm học mới; trường hợp không thực hiện tuyển dụng thì phải có phương án bố trí hợp đồng, điều động, thuyên chuyển, biệt phái, dạy liên trường, liên cấp phù hợp với điều kiện thực tế, không để tình trạng có học sinh mà không có thầy, cô đứng lớp.
Chấn chỉnh các hiện tượng tiêu cực trong tuyển sinh, dạy thêm, học thêm, bệnh thành tích
Cùng với đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với cơ quan liên quan hoàn thiện hồ sơ báo cáo cấp có thẩm quyền cho ý kiến với Đề án cải cách chính sách tiền lương, sớm xếp lương nhà giáo ở mức cao nhất trong thang bậc lương sự nghiệp; có cơ chế đặc thù để thu hút các chuyên gia giỏi, nhà khoa học đầu ngành tham gia giảng dạy, nghiên cứu. Xây dựng cơ chế khuyến khích sinh viên loại giỏi, giáo viên giỏi ở thành phố, đô thị luân chuyển công tác về các trường ở địa bàn nông thôn, vùng khó khăn.
Hướng dẫn, quản lý, tăng cường kiểm tra việc công khai các khoản thu và mức thu đối với người học theo quy định; chấn chỉnh các hiện tượng tiêu cực trong tuyển sinh, dạy thêm, học thêm, bệnh thành tích; thiết lập đường dây nóng tiếp nhận phản ánh về lạm thu, tổ chức dạy thêm không đúng quy định và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm; chỉ đạo nâng cao chất lượng giờ học chính khóa, giảm áp lực thi cử; thực hiện điều chỉnh chương trình giáo dục phù hợp và cải thiện động lực của giáo viên.
Chủ trì, phối hợp với các địa phương và cơ quan có liên quan giải quyết tình trạng bạo lực học đường, chú trọng công tác giáo dục lịch sử dân tộc, đạo đức, lối sống lành mạnh cho học sinh, sinh viên, coi đây là nhiệm vụ trọng tâm của năm học 2026 - 2027; có giải pháp hiệu quả nhằm xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, kỷ cương, nhân văn; lấy phòng ngừa là chính, lấy giáo dục, cảm hóa, hỗ trợ học sinh, sinh viên là nền tảng, đồng thời xử lý nghiêm các hành vi vi phạm.
Bộ Nội vụ chủ trì, phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo, các bộ, cơ quan liên quan nghiên cứu việc phân cấp giao tổng biên chế cho địa phương tự chủ tuyển dụng và sử dụng dựa trên định mức thực tế học sinh/lớp; phối hợp với các địa phương khẩn trương rà soát thực trạng đội ngũ công chức quản lý về giáo dục và đào tạo cấp xã và đề xuất phương án xử lý.
Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố tập trung cao độ cho công tác chuẩn bị năm học 2026 - 2027; cam kết, chịu trách nhiệm chỉ đạo, chuẩn bị tốt các điều kiện cho năm học mới; bảo đảm đủ trường, lớp, sách giáo khoa, thiết bị dạy học tối thiểu và an toàn công trình trường học cho năm học mới 2026 - 2027. Chủ động rà soát các tòa nhà công vụ, trụ sở cơ quan nhà nước dôi dư để đề xuất, tổ chức chuyển đổi công năng thành cơ sở giáo dục, y tế.
Tăng cường kiểm tra lạm thu không đúng quy định
Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố chỉ đạo Sở Giáo dục và Đào tạo, các cơ sở giáo dục trên địa bàn không được ban hành thêm các loại hồ sơ, báo cáo hoặc yêu cầu giáo viên thực hiện các nhiệm vụ hành chính không đúng quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo; đẩy mạnh chuyển đổi số theo nguyên tắc mỗi dữ liệu chỉ nhập một lần, sử dụng nhiều lần; liên thông, chia sẻ dữ liệu giữa các hệ thống giúp giảm công việc hành chính cho giáo viên, dành nhiều thời gian hơn cho công tác giảng dạy, giáo dục học sinh và phát triển chuyên môn; không để việc triển khai chuyển đổi số, đổi mới giáo dục và đào tạo làm gia tăng gánh nặng giấy tờ, hồ sơ đối với giáo viên; người đứng đầu cơ quan, đơn vị để xảy ra tình trạng phát sinh hồ sơ, báo cáo trái quy định phải chịu trách nhiệm trước cấp có thẩm quyền.
Rà soát số lượng giáo viên thừa/thiếu từng môn học, cấp học; thực hiện điều động, thuyên chuyển, biệt phái và tuyển dụng hết số biên chế được giao, ưu tiên tăng cường giáo viên giảng dạy trực tiếp. Rà soát thực trạng, thực hiện bồi dưỡng, hướng dẫn, hỗ trợ nghiệp vụ cho đội ngũ công chức phụ trách giáo dục và đào tạo cấp xã.
Sắp xếp mạng lưới các cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông, thường xuyên công lập phù hợp với chính quyền địa phương hai cấp. Khi lập quy hoạch đô thị, nông thôn và xây dựng các khu dân cư mới phải quy hoạch, xây dựng đồng bộ các trường học, hạ tầng tương thích với quy mô dân số; tập trung tháo gỡ vướng mắc về quỹ đất, thủ tục đầu tư xây dựng trường học tại địa bàn tăng dân số cơ học, đô thị lớn, khu công nghiệp, vùng khó khăn, biên giới.
Rà soát, kiểm tra các địa bàn, trường học có nguy cơ cao về bạo lực, ma túy, thuốc lá điện tử để chỉ đạo, xử lý kịp thời trước khai giảng và bảo đảm an toàn cho học sinh trong suốt quá trình học tập.
Chấn chỉnh các hiện tượng tiêu cực trong dạy thêm, học thêm và bệnh thành tích; chỉ đạo Sở Giáo dục và Đào tạo và Ủy ban nhân dân cấp xã, hiệu trưởng các trường mầm non, phổ thông công khai số điện thoại tiếp nhận phản ánh; trường nào để xảy ra lạm thu, tổ chức dạy thêm, học thêm không đúng quy định thì hiệu trưởng và người đứng đầu cơ quan quản lý trực tiếp phải chịu trách nhiệm. Tăng cường kiểm tra, tiếp nhận phản ánh về lạm thu, tổ chức dạy thêm không đúng quy định và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm.
Tạo chuyển biến thực chất trong giáo dục nghề nghiệp
Theo định hướng phát triển giáo dục và đào tạo, thời gian tới các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố tiếp tục quán triệt, nâng cao nhận thức và đổi mới tư duy về giáo dục và đào tạo; tạo chuyển biến thực chất trong giáo dục nghề nghiệp và phân luồng; tập trung đổi mới giáo dục đại học, nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao; bảo đảm công bằng về giáo dục trong giai đoạn mới; bảo đảm an toàn trường học, phòng chống bạo lực học đường, thuốc lá điện tử, ma túy học đường và tăng cường sức khỏe tâm lý học sinh; cơ chế tài chính, đầu tư cho giáo dục và đào tạo; tăng cường công tác hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra, giám sát việc tổ chức thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW...
Kế hoạch truyền thông, quảng bá về ASEAN giai đoạn 2026 – 2030
Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà vừa ký Quyết định số 1477/QĐ-TTg ngày 04/8/2026 ban hành Kế hoạch truyền thông, quảng bá về ASEAN giai đoạn 2026 - 2030 (Kế hoạch).

Nâng cao nhận thức về vai trò chủ động, tích cực của Việt Nam trong ASEAN.
Kế hoạch truyền thông nhằm nâng cao nhận thức của cả hệ thống chính trị, người dân, doanh nghiệp và cộng đồng quốc tế, đặc biệt là các đối tác của ASEAN về Cộng đồng ASEAN, tạo đồng thuận xã hội và sự ủng hộ rộng rãi đối với tiến trình hợp tác ASEAN, phù hợp với chủ trương, đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước về nâng tầm đối ngoại, hội nhập quốc tế là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên.
Đồng thời, khẳng định vị trí, vai trò của ASEAN là không gian hợp tác chiến lược quan trọng của Việt Nam; nâng cao nhận thức về vai trò chủ động, tích cực, có trách nhiệm và từng bước tham gia kiến tạo của Việt Nam trong ASEAN cũng như các cơ chế hợp tác khu vực; nỗ lực của Việt Nam trong vươn lên đóng vai trò nòng cốt, dẫn dắt, hòa giải trong ASEAN, qua đó góp phần định vị hình ảnh Việt Nam là thành viên tích cực, có trách nhiệm và đóng góp hiệu quả vào sự phát triển chung của Cộng đồng ASEAN.
Tăng cường tuyên truyền, thúc đẩy ý thức về bản sắc ASEAN trong thế hệ trẻ và cộng đồng dân cư
Phát huy vai trò chủ thể của người dân, doanh nghiệp trong việc tham gia và hưởng lợi từ các thành quả của tiến trình xây dựng Cộng đồng ASEAN; góp phần kết nối lợi ích quốc gia với lợi ích khu vực, nâng cao vị thế và uy tín quốc tế của Việt Nam.
Góp phần xây dựng và lan tỏa hình ảnh Việt Nam là quốc gia năng động, đổi mới, hội nhập sâu rộng, có trách nhiệm và đóng góp tích cực vào hòa bình, ổn định và phát triển bền vững của khu vực ASEAN.
Bên cạnh đó, nâng cao nhận thức về Cộng đồng ASEAN và bản sắc ASEAN; phấn đấu trên 90% cán bộ, công chức, viên chức có hiểu biết cơ bản về Cộng đồng Văn hóa - Xã hội ASEAN và lợi ích của quá trình xây dựng Cộng đồng ASEAN; tăng cường tuyên truyền, thúc đẩy ý thức về bản sắc ASEAN trong thế hệ trẻ và cộng đồng dân cư.
6 nội dung truyền thông
Kế hoạch nêu rõ: Công tác truyền thông được triển khai theo hướng phân tích chuyên sâu, làm rõ lợi ích thiết thực của Cộng đồng ASEAN đối với người dân, doanh nghiệp trong các lĩnh vực học tập, việc làm, du lịch, thương mại điện tử, chuyển đổi số và giao lưu văn hóa; đồng thời truyền thông về Tầm nhìn Cộng đồng ASEAN 2045 với thông điệp "ASEAN: Tương lai chung của chúng ta", hướng tới xây dựng một Cộng đồng ASEAN tự cường, đổi mới, năng động và lấy người dân làm trung tâm; tăng cường truyền thông về các định hướng lớn của ASEAN trong giai đoạn mới, bảo đảm có trọng tâm, trọng điểm.
Trong giai đoạn 2026 - 2027, tập trung xây dựng, củng cố nhận thức và nâng cao mức độ quan tâm của người dân, doanh nghiệp và xã hội về Cộng đồng ASEAN, vai trò và đóng góp của Việt Nam trong ASEAN; giai đoạn 2028 - 2030 đẩy mạnh truyền thông chuyên sâu, quảng bá hình ảnh Việt Nam gắn với các lĩnh vực hợp tác ưu tiên của ASEAN và tăng cường ứng dụng công nghệ số, nền tảng số trong triển khai hoạt động truyền thông.
Kế hoạch đưa ra 06 nội dung truyền thông cụ thể gồm: (1) Truyền thông về ASEAN vì hòa bình, ổn định và hợp tác khu vực; (2) Truyền thông về ASEAN là không gian tăng trưởng, đổi mới sáng tạo và kết nối kinh tế; (3) Truyền thông về ASEAN lấy người dân làm trung tâm, phát huy bản sắc và tăng cường gắn kết xã hội; (4) Truyền thông về ASEAN kết nối toàn diện, hiện đại và bền vững; (5) Truyền thông về tăng cường thể chế và năng lực thích ứng của ASEAN; (6) Truyền thông về vai trò, vị thế và đóng góp của Việt Nam trong ASEAN.
Truyền thông về vai trò, vị thế và đóng góp của Việt Nam trong ASEAN
Đối với việc truyền thông về vai trò, vị thế và đóng góp của Việt Nam trong ASEAN, Kế hoạch yêu cầu:
Thông điệp truyền thông: Việt Nam là thành viên chủ động, tích cực, có trách nhiệm; cùng ASEAN xây dựng Cộng đồng đoàn kết, tự cường, phát triển bền vững và nâng cao vị thế của khu vực trên trường quốc tế.
Nội dung trọng tâm cần nêu bật được quá trình tham gia và những đóng góp của Việt Nam trong xây dựng, phát triển Cộng đồng ASEAN; vai trò của Việt Nam trong duy trì đoàn kết nội khối, thúc đẩy hợp tác, củng cố vai trò trung tâm của ASEAN và tăng cường quan hệ giữa ASEAN với các đối tác.
Các sáng kiến, đề xuất và đóng góp của Việt Nam trong các lĩnh vực hợp tác ASEAN, nhất là các lĩnh vực phù hợp với ưu tiên phát triển của đất nước như chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo, tăng trưởng xanh, phát triển bền vững, phát triển nguồn nhân lực, thu hẹp khoảng cách phát triển và ứng phó các thách thức mới nổi.
Vai trò của Việt Nam trong thúc đẩy đối thoại, xây dựng lòng tin, giải quyết các vấn đề khu vực bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế; đóng góp của Việt Nam trong các cơ chế hợp tác chính trị - an ninh, kinh tế, văn hóa - xã hội và các cơ chế do ASEAN dẫn dắt.
Những cơ hội, lợi ích thiết thực mà ASEAN mang lại cho người dân, doanh nghiệp, địa phương Việt Nam; các kết quả hợp tác nổi bật trong thương mại, đầu tư, du lịch, giáo dục, lao động, khoa học - công nghệ, chuyển đổi số và giao lưu nhân dân.
Đồng thời, quảng bá hình ảnh đất nước, con người, văn hóa Việt Nam gắn với các giá trị chung của ASEAN; các hoạt động giao lưu văn hóa, thể thao, du lịch, hợp tác giáo dục và kết nối nhân dân trong khuôn khổ ASEAN nhằm tăng cường hiểu biết, gắn kết và xây dựng bản sắc cộng đồng.
Vị thế, uy tín quốc tế của Việt Nam thông qua quá trình tham gia ASEAN; làm rõ ASEAN là một trong những không gian chiến lược quan trọng để Việt Nam mở rộng quan hệ đối ngoại, nâng cao năng lực hội nhập quốc tế và đóng góp vào hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực và trên thế giới.
Về hình thức truyền thông, Kế hoạch yêu cầu thực hiện truyền thông trên các phương tiện thông tin đại chúng và nền tảng số; tổ chức các hoạt động sự kiện truyền thông, quảng bá; cung cấp thông tin, tập huấn, nâng cao năng lực; xây dựng, phát hành ấn phẩm và sản phẩm truyền thông; tổ chức các cuộc thi, giải thưởng, các hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch; tổ chức hoạt động báo chí, phóng viên và hợp tác truyền thông.
Danh mục dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước trong lĩnh vực khoa học và công nghệ
Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng ký Quyết định số 1481/QĐ-TTg ngày 4/8/2026 ban hành Danh mục dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước trong lĩnh vực khoa học và công nghệ.

Theo Quyết định, Danh mục quy định cụ thể các dịch vụ theo 6 nhóm lĩnh vực:
1- Nhóm khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo gồm 5 dịch vụ: Dịch vụ hỗ trợ hoạt động của tổ chức trung gian của thị trường khoa học và công nghệ; Dịch vụ đánh giá trình độ, năng lực công nghệ và hỗ trợ xây dựng lộ trình đổi mới công nghệ; Dịch vụ hỗ trợ ươm tạo công nghệ; Dịch vụ cung cấp hạ tầng kỹ thuật, phòng thí nghiệm, thiết bị dùng chung, không gian làm việc chung và cơ sở ươm tạo cho đổi mới sáng tạo, doanh nghiệp khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo; Dịch vụ đánh giá hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
2- Nhóm sở hữu trí tuệ gồm 4 dịch vụ: Dịch vụ tư vấn, hỗ trợ đăng ký, quản lý, khai thác chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu chứng nhận, nhãn hiệu tập thể; Dịch vụ hỗ trợ đánh giá tình trạng kỹ thuật của sáng chế trong công tác quản lý và triển khai nhiệm vụ khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, nhận chuyển giao công nghệ có sử dụng ngân sách nhà nước; Dịch vụ hỗ trợ tra cứu, cung cấp thông tin, đánh giá sơ bộ về khả năng bảo hộ của đối tượng quyền sở hữu công nghiệp phục vụ quản lý nhà nước; Dịch vụ hỗ trợ pháp lý và tư vấn cho tổ chức, cá nhân tham gia hợp tác quốc tế để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ.
3- Nhóm tiêu chuẩn đo lường chất lượng gồm 3 dịch vụ: Dịch vụ xây dựng tiêu chuẩn quốc gia; xây dựng quy chuẩn kỹ thuật; Dịch vụ hướng dẫn áp dụng tiêu chuẩn quốc gia, quy chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn khu vực, tiêu chuẩn nước ngoài; Dịch vụ duy trì, bảo quản và sử dụng hệ thống chuẩn đo lường; xây dựng văn bản kỹ thuật đo lường.
4- Nhóm năng lượng nguyên tử, an toàn bức xạ và hạt nhân gồm 5 dịch vụ: Dịch vụ ứng phó và xử lý sự cố bức xạ cấp tỉnh, cấp quốc gia; Dịch vụ ứng phó và xử lý sự cố hạt nhân cấp tỉnh, cấp quốc gia; Dịch vụ quan trắc và cảnh báo phóng xạ môi trường quốc gia; Dịch vụ duy trì, bảo quản và sử dụng hệ thống phòng chuẩn quốc gia trong lĩnh vực đo lường bức xạ và hạt nhân; Dịch vụ kiểm định, hiệu chuẩn thiết bị ghi đo bức xạ (thuộc các đơn vị sự nghiệp công lập).
5- Nhóm viễn thông, internet gồm 3 dịch vụ: Dịch vụ đo kiểm chất lượng dịch vụ viễn thông (theo quy chuẩn chất lượng) phục vụ quản lý nhà nước; Dịch vụ đo kiểm sản phẩm, hàng hóa có khả năng mất an toàn thuộc lĩnh vực viễn thông phục vụ quản lý nhà nước về chất lượng sản phẩm viễn thông; Dịch vụ thu thập, xử lý dữ liệu nghiệp vụ phục vụ giám sát, điều tiết thị trường viễn thông.
6- Nhóm chuyển đổi số gồm 2 dịch vụ: Dịch vụ đánh giá sản phẩm, dịch vụ công nghệ số thuộc Danh mục sản phẩm, dịch vụ công nghệ số trọng điểm theo quy định của pháp luật; Dịch vụ hỗ trợ phát triển, thiết kế, sản xuất thử nghiệm, đo kiểm, đánh giá sản phẩm chip bán dẫn.
Quyết định nêu rõ, bãi bỏ các dịch vụ sau thuộc Danh mục dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước trong lĩnh vực thông tin và truyền thông ban hành kèm theo Quyết định số 469/QĐ-TTg ngày 28/2/2025 của Thủ tướng Chính phủ gồm:
1. Mục 1, 2 và 3 phần II: Nhóm dịch vụ viễn thông, Internet.
2. Điểm b mục 1 phần III: Dịch vụ đo lường, cung cấp thông tin phục vụ đánh giá việc cung cấp, sử dụng thông tin điện tử và dịch vụ công trực tuyến của cơ quan nhà nước.
3. Mục 2 phần III: Dịch vụ đánh giá sản phẩm, dịch vụ công nghệ thông tin, công nghệ số thuộc Danh mục sản phẩm, dịch vụ công nghệ thông tin, công nghệ số trọng điểm theo quy định của pháp luật.
Quyết định có hiệu lực thi hành kể từ ngày 4/8/2026, thay thế Quyết định số 2099/QĐ-TTg ngày 27/12/2017 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Danh mục dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Khoa học và Công nghệ.
Bộ Khoa học và Công nghệ có trách nhiệm ban hành hoặc sửa đổi, bổ sung định mức kinh tế - kỹ thuật, định mức chi phí (nếu có) làm cơ sở ban hành đơn giá, giá dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước tại Danh mục kèm theo Quyết định này theo quy định của pháp luật về giá và quy định của pháp luật khác có liên quan để làm cơ sở giao nhiệm vụ, đặt hàng hoặc đấu thầu cung ứng dịch vụ sự nghiệp công theo quy định tại Nghị định số 32/2019/NĐ-CP ngày 10/4/2019 của Chính phủ.
Đồng thời, ban hành tiêu chí, tiêu chuẩn chất lượng dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước; cơ chế giám sát, đánh giá, kiểm định chất lượng và quy chế kiểm tra, nghiệm thu dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước thuộc bộ, cơ quan trung ương; hiệu quả hoạt động của đơn vị sự nghiệp công theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 36 Nghị định số 60/2021/NĐ-CP ngày 21/6/2021.
Kiện toàn nhân sự Ủy ban Quốc gia về người cao tuổi
Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà vừa ký Quyết định số 1482/QĐ-TTg ngày 04/8/2026 của Thủ tướng Chính phủ về việc kiện toàn thành viên Ủy ban Quốc gia về người cao tuổi.
Cụ thể, Thủ tướng Chính phủ quyết định kiện toàn thành viên Ủy ban Quốc gia về người cao tuổi Việt Nam như sau:
Phân công Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh, làm Ủy viên Ủy ban Quốc gia về người cao tuổi Việt Nam thay bà Đặng Hoàng Oanh, Thứ trưởng Bộ Tư pháp, quy định tại khoản 3 Điều 1 Quyết định số 2219/QĐ-TTg ngày 07/10/2025 của Thủ tướng Chính phủ về việc kiện toàn Ủy ban Quốc gia người cao tuổi Việt Nam.
Phân công Thứ trưởng Bộ Xây dựng Lê Anh Tuấn, làm Ủy viên Ủy ban Quốc gia về người cao tuổi Việt Nam thay ông Nguyễn Văn Sinh, Thứ trưởng Bộ Xây dựng, quy định tại khoản 3 Điều 1 Quyết định số 2219/QĐ-TTg ngày 07/10/2025 của Thủ tướng Chính phủ về việc kiện toàn Ủy ban Quốc gia người cao tuổi Việt Nam.
Phân công Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Cao Xuân Thạo, làm Ủy viên Ủy ban Quốc gia về người cao tuổi Việt Nam thay ông Hoàng Công Thủy, Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, quy định tại khoản 3 Điều 1 Quyết định số 2219/QĐ-TTg ngày 07/10/2025 của Thủ tướng Chính phủ về việc kiện toàn Ủy ban Quốc gia người cao tuổi Việt Nam.
Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ban hành (04/8/2026).
Phê chuẩn kết quả bầu, miễn nhiệm chức vụ Chủ tịch UBND thành phố Huế
Ngày 04/8/2026, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng ký các Quyết định phê chuẩn kết quả bầu, miễn nhiệm chức vụ Chủ tịch UBND thành phố Huế nhiệm kỳ 2026-2031.
Cụ thể, tại Quyết định số 1479/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn kết quả bầu chức vụ Chủ tịch UBND thành phố Huế nhiệm kỳ 2026-2031 đối với ông Lê Trí Thanh, Phó Bí thư Thành ủy Huế nhiệm kỳ 2025-2030.
Đồng thời, tại Quyết định số 1478/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn kết quả miễn nhiệm chức vụ Chủ tịch UBND thành phố Huế nhiệm kỳ 2026 – 2031 đối với ông Nguyễn Khắc Toàn.
Phê chuẩn kết quả bầu, miễn nhiệm chức vụ Phó Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng
Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng vừa ký các Quyết định phê chuẩn kết quả bầu, miễn nhiệm chức vụ Phó Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng nhiệm kỳ 2026 - 2031.
Cụ thể, tại Quyết định số 1486/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn kết quả bầu chức vụ Phó Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng nhiệm kỳ 2026 - 2031 đối với ông Lương Tuấn Hùng, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Giám đốc Sở Xây dựng.
Bên cạnh đó, tại Quyết định số 1485/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn kết quả miễn nhiệm chức vụ Phó Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng nhiệm kỳ 2026 - 2031 đối với ông Vũ Đình Quang./.