Chính phủ ban hành Nghị quyết số 23/NQ-CP về phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 01 năm 2026, trong đó yêu cầu các địa phương chuẩn bị chu đáo cho nhân dân đón Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026; quan tâm, hỗ trợ, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho các tầng lớp Nhân dân, bảo đảm mỗi người, mỗi nhà đều được vui Xuân, đón Tết.

Tập trung thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm phát triển kinh tế - xã hội năm 2026
Nghị quyết nêu rõ, thời gian tới, dự báo tình hình thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường; căng thẳng địa chính trị, xung đột quân sự, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn tiếp tục kéo dài; tăng trưởng kinh tế, thương mại, đầu tư toàn cầu chậm, tiềm ẩn nhiều rủi ro... Đối với nước ta, năm 2026 là năm đầu tiên thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, chúng ta vừa tập trung thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm phát triển kinh tế - xã hội năm 2026, trong đó có chỉ tiêu tăng trưởng đạt 2 con số, vừa phải tiếp tục sắp xếp tổ chức bộ máy, nhất là đơn vị sự nghiệp công lập; tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, làm tốt công tác chăm lo đời sống, chuẩn bị Tết cho Nhân dân, vừa tiếp tục xử lý khó khăn, vướng mắc, tồn tại kéo dài và ứng phó kịp thời, hiệu quả với những vấn đề phát sinh.
Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương rà soát kỹ lưỡng các nhiệm vụ trong tháng 2 và quý I năm 2026 để ưu tiên nguồn lực, tập trung chỉ đạo, thực hiện hiệu quả, tạo đà cho những tháng tiếp theo; trong đó chú trọng những nội dung sau:
Khẩn trương soạn thảo, trình ban hành các văn bản quy định chi tiết các luật, nghị quyết có hiệu lực từ ngày 01/3/2026
Quán triệt sâu sắc, đầy đủ, kịp thời Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, các Nghị quyết, Kết luận của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội; thực hiện đồng bộ, quyết liệt, hiệu quả Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, 09 Nghị quyết chuyên đề đột phá, chiến lược của Bộ Chính trị về phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; hội nhập quốc tế; đổi mới công tác xây dựng và thực thi pháp luật; phát triển kinh tế tư nhân, kinh tế nhà nước; bảo đảm an ninh năng lượng; phát triển giáo dục và đào tạo; tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân; phát triển văn hóa Việt Nam; các Nghị quyết số 01/NQ-CP, Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 08 tháng 01 năm 2026 của Chính phủ; khẩn trương ban hành các Chương trình, Kế hoạch hành động, các văn bản cụ thể để triển khai thực hiện. Tập trung chuẩn bị các đề án trong Chương trình làm việc của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Chương trình công tác của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ năm 2026, bảo đảm tiến độ và chất lượng.
Khẩn trương hoàn thiện hồ sơ dự án luật, nghị quyết trong Chương trình lập pháp năm 2026, nhất là 34 hồ sơ, tài liệu, dự án luật, nghị quyết trình tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI bảo đảm chất lượng, đúng tiến độ; chủ động làm việc, phối hợp chặt chẽ với các cơ quan liên quan của Quốc hội trong việc giải trình, tiếp thu ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Đẩy nhanh tiến độ soạn thảo, ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền xem xét, ban hành các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành luật, nghị quyết được Quốc hội thông qua, tập trung giải quyết dứt điểm tình trạng chậm ban hành văn bản quy định chi tiết các luật, nghị quyết của Quốc hội đã có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2026 trở về trước; khẩn trương soạn thảo, trình ban hành các văn bản quy định chi tiết các luật, nghị quyết có hiệu lực từ ngày 01 tháng 3 năm 2026.
Để góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả và bảo đảm ban hành đầy đủ, kịp thời các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành các luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ yêu cầu các đồng chí Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan được giao nhiệm vụ chủ trì xây dựng dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết:
Đối với hồ sơ dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết trình Chính phủ, ngoài các tài liệu theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, yêu cầu đồng chí Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan được giao chủ trì soạn thảo báo cáo cụ thể về những nội dung dự kiến giao Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các bộ, cơ quan ngang bộ ban hành văn bản quy định chi tiết, trong đó báo cáo rõ về nội dung giao quy định, thẩm quyền ban hành, cơ quan chủ trì soạn thảo, những nội dung cơ bản và dự kiến thời hạn trình, ban hành văn bản quy định chi tiết; dự kiến thời điểm có hiệu lực của luật, pháp lệnh, nghị quyết; hồ sơ trình Chính phủ phải kèm theo dự thảo các văn bản quy định chi tiết thuộc thẩm quyền ban hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ (nghị định của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ hoặc hình thức văn bản phù hợp theo quy định).
Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ trực tiếp chỉ đạo và chịu trách nhiệm về nội dung dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết, các văn bản quy định chi tiết, biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành; kịp thời trình, ban hành các văn bản thuộc thẩm quyền của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và chủ động ban hành các văn bản thuộc thẩm quyền của mình, bảo đảm chất lượng, thời hạn theo quy định; thực hiện nghiêm quy định tại khoản 2 Điều 57 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật về việc rà soát, công bố văn bản quy định chi tiết, quy định biện pháp cụ thể để tổ chức, hướng dẫn thi hành văn bản tiếp tục có hiệu lực để tránh tạo khoảng trống pháp lý.
Theo dõi sát diễn biến tình hình, điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt
Theo dõi sát diễn biến tình hình, điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, kịp thời, hiệu quả, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa mở rộng hợp lý, có trọng tâm, trọng điểm và các chính sách vĩ mô khác, góp phần giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế, phấn đấu tăng trưởng GDP quý I năm 2026 đạt khoảng 8%, cả năm đạt từ 10% trở lên. Điều hành lãi suất, tỷ giá, tín dụng phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô, thị trường và mục tiêu chính sách tiền tệ nhằm kiểm soát lạm phát, góp phần giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, ổn định thị trường tiền tệ, ngoại tệ, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế bền vững, bảo đảm thanh khoản và an toàn hệ thống các tổ chức tín dụng; tăng cường kiểm tra, thanh tra, chỉ đạo các tổ chức tín dụng kiểm soát chặt chẽ nợ xấu, chất lượng tín dụng; hướng tín dụng vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên, các động lực tăng trưởng. Quản lý và thúc đẩy phát triển thị trường chứng khoán, trái phiếu doanh nghiệp ổn định, an toàn, hiệu quả.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tập trung nghiên cứu để ổn định kinh tế vĩ mô (lãi suất, tỷ giá, dự trữ ngoại tệ, lạm phát), đề xuất kịp thời giải pháp hiệu quả, báo cáo Thủ tướng Chính phủ vào thứ 7 hằng tuần.
Tăng cường kỷ luật, kỷ cương tài chính, ngân sách nhà nước, chống thất thu, mở rộng cơ sở thu, nhất là từ thương mại điện tử, dịch vụ ăn uống, các cửa hàng bán lẻ...; phấn đấu thu ngân sách nhà nước năm 2026 vượt ít nhất 10% so với thực hiện năm 2025. Tiếp tục thực hiện hiệu quả các chính sách miễn, giảm, gia hạn thuế, phí, lệ phí, tiền thuê đất hỗ trợ người dân, doanh nghiệp. Điều hành linh hoạt kỳ hạn, khối lượng, lãi suất phát hành trái phiếu chính phủ. Tiếp tục triển khai quyết liệt, hiệu quả các giải pháp thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công, thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia, bảo đảm giải ngân 100% kế hoạch vốn đầu tư công năm 2026 được Thủ tướng Chính phủ giao.
Khẩn trương đưa vào hoạt động các thị trường giao dịch tài sản mã hóa, vàng, bất động sản trước ngày 28/02/2026
Khẩn trương thành lập, vận hành đồng bộ và phát huy hiệu quả Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam, thu hút nguồn vốn đầu tư từ các định chế tài chính, ngân hàng và quỹ đầu tư toàn cầu. Triển khai thí điểm vận hành sàn giao dịch tài sản mã hóa; khẩn trương đưa vào hoạt động các thị trường giao dịch tài sản mã hóa, vàng, bất động sản trước ngày 28 tháng 02 năm 2026, bảo đảm an toàn, lành mạnh, công khai, minh bạch. Tiếp tục thực hiện các giải pháp phát triển thị trường bất động sản an toàn, lành mạnh, bền vững. Phát huy hiệu quả Quỹ Nhà ở quốc gia, đẩy mạnh xây dựng nhà ở xã hội, nhất là nhà cho thuê, phấn đấu năm 2026 hoàn thành trên 158 nghìn căn hộ nhà ở xã hội. Các Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty nhà nước đẩy mạnh sản xuất kinh doanh ngay từ đầu năm, phấn đấu tăng trưởng sản lượng hoặc doanh thu năm 2026 từ 10% trở lên.
Đẩy nhanh tiến độ hoàn thành các công trình, dự án quan trọng, trọng điểm quốc gia ngành giao thông vận tải, dự án liên tỉnh, liên vùng, kết nối quốc gia, khu vực, quốc tế. Khẩn trương rà soát, đầu tư nâng cấp hoàn thiện các tuyến đường bộ cao tốc đã đầu tư theo quy mô phân kỳ. Quyết liệt tháo gỡ khó khăn, vướng mắc về giải phóng mặt bằng, cung ứng vật liệu thi công cho các dự án. Đẩy mạnh phát triển sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, bảo đảm an ninh năng lượng, an ninh lương thực quốc gia. Thực hiện hiệu quả Chỉ thị số 01/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về bảo đảm cung ứng đủ điện phục vụ sản xuất kinh doanh và đời sống nhân dân trong thời gian cao điểm năm 2026 và giai đoạn 2027 - 2030, không để thiếu điện trong bất kỳ tình huống nào. Điều tiết, vận hành khoa học, hiệu quả các hồ chứa nước, sử dụng nước tiết kiệm, không để thiếu nước cho sinh hoạt và cung ứng điện trong mùa khô năm 2026.
Tiếp tục làm mới các động lực tăng trưởng truyền thống; khai thác mạnh mẽ các động lực tăng trưởng mới như khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, kinh tế xanh, kinh tế số, kinh tế tuần hoàn, kinh tế chia sẻ...; thu hút đầu tư nước ngoài. Tiếp tục tập trung thực hiện quyết liệt nhiệm vụ chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo, không theo quy định (IUU), tổ chức ngay các đoàn kiểm tra, thanh tra xử lý vi phạm IUU, quyết tâm gỡ "thẻ vàng" của Ủy ban châu Âu trong thời gian sớm nhất. Đẩy mạnh xây dựng chỉ dẫn địa lý, thương hiệu sản phẩm, cấp mã số vùng trồng, vùng nuôi, hệ thống truy xuất nguồn gốc hàng hóa chặt chẽ.
Phấn đấu tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng năm 2026 tăng 13% đến 15%
Tăng cường xúc tiến thương mại, phát triển thị trường trong nước và xuất khẩu; triển khai hiệu quả các chương trình bình ổn giá, không để xảy ra tình trạng thiếu hàng, gián đoạn nguồn cung các hàng hóa thiết yếu, nhất là trong dịp trước, trong và sau Tết Nguyên đán. Thực hiện hiệu quả cuộc vận động "Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam"; phấn đấu tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng năm 2026 tăng 13% đến 15%.
Tiếp tục đẩy mạnh đàm phán FTA với khối EFTA, Mercosur, GCC...; khai thác hiệu quả các FTA đã ký kết; hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu trực tiếp vào các hệ thống phân phối ở nước ngoài; thu hút các nhà mua hàng, các kênh phân phối lớn trên thế giới hợp tác xây dựng nguồn cung tại Việt Nam. Tăng cường theo dõi, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong việc nhập khẩu hàng hóa tại các cửa khẩu. Triển khai thực hiện hiệu quả Kế hoạch cao điểm chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả trước, trong và sau Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026.
Khẩn trương hoàn thiện cơ sở dữ liệu "đúng, đủ, sạch, sống, liên thông, thống nhất dùng chung" phục vụ giải quyết thủ tục hành chính cho người dân, doanh nghiệp thông suốt, hiệu quả. Tiếp tục đẩy mạnh cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh. Tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính; đẩy nhanh tiến độ thực hiện các đề án, nhiệm vụ do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao đã quá hạn chưa hoàn thành; hoàn thành dứt điểm trước ngày 10/02/2026.
Phát triển toàn diện các lĩnh vực văn hóa - xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và sức khỏe của Nhân dân. Tổ chức tốt các chương trình văn hóa, nghệ thuật phục vụ Nhân dân trong dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026. Thúc đẩy mạnh mẽ tiến độ, chất lượng xây dựng 100 trường phổ thông nội trú liên cấp tại các xã biên giới và chuẩn bị khởi công 148 trường còn lại trong tháng 02 năm 2026. Bộ trưởng Bộ Tài chính bố trí nguồn lực, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì sắp xếp tổ chức thực hiện. Thực hiện đầy đủ chính sách đối với người có công, các đối tượng chính sách và đồng bào các vùng bị thiệt hại do thiên tai, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo... Triển khai hiệu quả các giải pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm không khí, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng, chống thiên tai và bảo vệ môi trường.
Quan tâm, hỗ trợ, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho các tầng lớp Nhân dân, bảo đảm mỗi người, mỗi nhà đều được vui Xuân, đón Tết
Chính phủ yêu cầu Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tập trung thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm sau:
Chủ động, tích cực triển khai Kế hoạch thực hiện công tác bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 ban hành kèm theo Nghị quyết số 408/NQ-CP ngày 13 tháng 12 năm 2025 của Chính phủ, bảo đảm đúng tiến độ, chất lượng, hiệu quả, tiết kiệm, tránh hình thức, lãng phí.
Chuẩn bị chu đáo cho nhân dân đón Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026 phù hợp với điều kiện, khả năng của địa phương; quan tâm, hỗ trợ, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho các tầng lớp Nhân dân, bảo đảm mỗi người, mỗi nhà đều được vui Xuân, đón Tết. Tổ chức tốt việc thăm hỏi, động viên, chúc Tết cán bộ lão thành cách mạng, Mẹ Việt Nam Anh hùng, thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sỹ, gia đình có công với cách mạng, gia đình chính sách, nhân sĩ, trí thức, người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số, chức sắc tôn giáo tiêu biểu, các đơn vị lực lượng vũ trang, lực lượng thường trực làm nhiệm vụ trong ngày Tết, nhất là ở biên giới, hải đảo, vùng khó khăn, địa bàn phức tạp về an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.
Quản lý chặt chẽ công tác vận chuyển hành khách, hàng hóa dịp cuối năm, bảo đảm an toàn, thuận lợi, thông suốt; tăng cường kiểm tra việc thực hiện kê khai giá cước, niêm yết giá cước vận tải, giá vé tàu, vé xe theo quy định. Theo dõi sát tình hình, chủ động chỉ đạo, hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra thực hiện kịp thời, hiệu quả các biện pháp phòng, chống thiên tai, dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi, triển khai kế hoạch sản xuất vụ Đông Xuân 2025 - 2026.
Căn cứ vào tình hình thực tiễn, khả năng, điều kiện của địa phương quyết định việc tổ chức bắn pháo hoa chào mừng năm mới, tạo không khí đoàn kết, vui tươi, phấn khởi trong Nhân dân và bảo đảm an toàn, tiết kiệm theo đúng quy định tại Nghị định số 137/2020/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2020 của Chính phủ về quản lý, sử dụng pháo. Chỉnh trang đô thị, các tuyến phố, đường làng, ngõ xóm, khu dân cư bảo đảm sáng, xanh, sạch, đẹp.
Thực hiện ngay hướng dẫn tiết kiệm 10% dự toán chi thường xuyên để bổ sung chi cho an sinh xã hội
Chính phủ giao Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các cơ quan, địa phương: Hoàn thiện báo cáo sơ kết việc triển khai các Nghị quyết của Bộ Chính trị (Khóa XIII) về phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh các vùng kinh tế - xã hội, đề xuất về việc xây dựng các nghị quyết mới hoặc kết luận về việc tiếp tục thực hiện các nghị quyết hiện có về phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh các vùng kinh tế - xã hội để phù hợp với tình hình và yêu cầu mới; báo cáo cấp có thẩm quyền trong quý I năm 2026.
Tập trung hoàn thiện hồ sơ dự thảo các Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tài chính quốc gia, vay trả nợ công, đầu tư công trung hạn 05 năm giai đoạn 2026 - 2030 để báo cáo cấp có thẩm quyền và trình Quốc hội khóa XVI tại kỳ họp thứ nhất. Khẩn trương hoàn thiện hồ sơ trình Bộ Chính trị xem xét, ban hành Nghị quyết về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài; nghiên cứu, xây dựng Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài để tổ chức triển khai hiệu quả ngay sau khi được ban hành.
Tập trung hoàn thiện hồ sơ dự thảo Nghị quyết của Chính phủ và Nghị quyết của Quốc hội để triển khai thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06 tháng 01 năm 2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước, báo cáo cấp có thẩm quyền trước ngày 20 tháng 02 năm 2026.
Xây dựng phương án phân bổ nguồn tăng thu, tiết kiệm chi ngân sách Trung ương năm 2025, báo cáo cấp có thẩm quyền trong tháng 02 năm 2026; thực hiện ngay việc hướng dẫn tiết kiệm 10% dự toán chi thường xuyên để bổ sung chi cho an sinh xã hội, dứt khoát không để chậm trễ.
Chú trọng bảo đảm an ninh trật tự dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026 và các lễ hội đầu xuân, bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Chính phủ giao Bộ Công an chủ trì, phối hợp với các cơ quan, địa phương: Bảo vệ tuyệt đối an toàn các mục tiêu, công trình trọng điểm, các sự kiện chính trị, xã hội quan trọng của đất nước, hoạt động của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các đoàn khách quốc tế, các hội nghị quốc tế tổ chức tại Việt Nam; trong đó, chú trọng bảo đảm an ninh trật tự dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026 và các lễ hội đầu xuân, bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031.
Đẩy mạnh thực hiện cao điểm chống xuất nhập cảnh trái phép và cao điểm tấn công, trấn áp tội phạm, nhất là tội phạm liên quan đến vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ, buôn lậu, sản xuất, buôn bán hàng giả, gian lận thương mại, xâm phạm sở hữu trí tuệ, tội phạm công nghệ cao, tội phạm về môi trường, an toàn thực phẩm... trong dịp Tết cổ truyền của dân tộc; triển khai quyết liệt các giải pháp kéo giảm 10% số vụ phạm tội về trật tự xã hội và thực hiện mục tiêu xây dựng xã không ma túy, tỉnh không ma túy.
Tăng cường lực lượng, phương tiện tuần tra, kiểm soát, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm trật tự an toàn giao thông; chú trọng kiểm soát vi phạm nồng độ cồn, tốc độ, tải trọng, điều kiện an toàn phương tiện và người điều khiển. Phối hợp với Bộ Xây dựng tiếp tục rà soát các "điểm đen", điểm tiềm ẩn về tai nạn giao thông để có phương án kịp thời khắc phục.
Tập trung triển khai thực chất Cổng Dịch vụ công quốc gia là "Một cửa sổ", bảo đảm nguyên tắc người dân, doanh nghiệp "chỉ phải cung cấp thông tin một lần".
Nghiên cứu các cơ chế, chính sách, quy định đột phá phát triển về dữ liệu, kinh tế dữ liệu, trình Chính phủ trong 6 tháng đầu năm 2026; hoàn thành, vận hành hiệu quả Trung tâm dữ liệu quốc gia số 01 theo lộ trình, nghiên cứu xây dựng Trung tâm dữ liệu quốc gia số 2 và 3.
Chủ trì, phối hợp với Bộ Quốc phòng và các bộ, cơ quan liên quan xây dựng Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Chỉ thị số 57-CT/TW ngày 31 tháng 12 năm 2025 của Ban Bí thư về tăng cường bảo đảm an ninh mạng, bảo mật thông tin, an ninh dữ liệu trong hệ thống chính trị, trình Chính phủ trước ngày 15 tháng 02 năm 2026.
Chính phủ ban hành Nghị định số 54/2026/NĐ-CP ngày 09/02/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định trong lĩnh vực nhà ở, kinh doanh bất động sản. Trong đó, đáng chú ý là các quy định về nhà ở xã hội.

Sửa đổi, bổ sung quy định về nhà ở xã hội.
Cụ thể, Nghị định số 54/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của 4 Nghị định sau:
1- Nghị định số 96/2024/NĐ-CP ngày 24/7/2024 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật kinh doanh bất động sản.
2- Nghị định số 95/2024/NĐ-CP ngày 24/7/2024 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật nhà ở.
3- Nghị định số 98/2024/NĐ-CP ngày 25/7/2024 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật nhà ở về cải tạo, xây dựng lại nhà chung cư.
4- Nghị định số 100/2024/NĐ-CP ngày 26/7/2024 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật nhà ở về phát triển và quản lý nhà ở xã hội (đã được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 261/2025/NĐ-CP).
Ngoài ra, Nghị định số 54/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều tại 2 Nghị định số 140/2025/NĐ-CP ngày 12/6/2025 và Nghị định số 144/2025/NĐ-CP ngày 12/6/2025 về phân quyền, phân cấp, phân định thẩm quyền trong lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Xây dựng.
Mở rộng tiêu chí xác định điều kiện chưa có nhà ở
Về điều kiện được hưởng chính sách hỗ trợ nhà ở xã hội, Nghị định số 54/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 29 Nghị định số 100/2024/NĐ-CP về điều kiện nhà ở theo hướng mở rộng tiêu chí xác định điều kiện chưa có nhà ở, bao gồm cả trường hợp không có thông tin về nhà ở trong Giấy chứng nhận và không phụ thuộc thời điểm nộp hồ sơ mua, thuê mua nhà ở xã hội. Đồng thời, thẩm quyền xác nhận cũng được quy định theo hướng rộng hơn là giao cho cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận theo pháp luật đất đai. Cụ thể:
"1. Trường hợp chưa có nhà ở thuộc sở hữu của mình được xác định khi đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 77 của Luật Nhà ở và vợ hoặc chồng của đối tượng đó (nếu có) được xác định là không có tên hoặc không có nội dung thông tin về nhà ở trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có dự án nhà ở xã hội đó.
Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được giấy đề nghị xác nhận về điều kiện nhà ở, cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật về đất đai tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có dự án nhà ở xã hội xác nhận theo quy định tại khoản này."
Bổ sung cơ chế kê khai, cam kết, hậu kiểm về thu nhập
Nghị định số 54/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 30 Nghị định số 100/2024/NĐ-CP về điều kiện thu nhập để được hưởng chính sách về nhà ở xã hội theo hướng chuyển thẩm quyền xác nhận từ UBND cấp xã sang Công an cấp xã và bổ sung cơ chế kê khai, cam kết, hậu kiểm thu nhập. Quy định mới cũng xác định rõ đơn đề nghị xác nhận là giấy tờ chứng minh đối tượng được hưởng chính sách nhà ở xã hội. Mức trần thu nhập vẫn giữ theo quy định cũ (độc thân không quá 15 triệu đồng/tháng; đã kết hôn tổng thu nhập không quá 30 triệu đồng/tháng). Cụ thể:
"2. Trường hợp đối tượng quy định tại khoản 5 Điều 76 của Luật Nhà ở không có hợp đồng lao động thì phải bảo đảm điều kiện về thu nhập theo quy định tại khoản 1 Điều này và được cơ quan Công an cấp xã nơi thường trú hoặc tạm trú hoặc nơi ở hiện tại xác nhận. Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được đơn đề nghị xác nhận, Công an cấp xã nơi công dân thường trú hoặc tạm trú hoặc nơi ở hiện tại tại thời điểm công dân đề nghị, có trách nhiệm xác nhận các thông tin gồm: Họ, chữ đệm và tên; Ngày, tháng, năm sinh; giới tính; số định danh cá nhân; ngày, tháng, năm cấp thẻ căn cước/căn cước công dân; nơi thường trú/nơi tạm trú/nơi ở hiện tại.
Công dân có trách nhiệm kê khai và cam kết thông tin thu nhập bình quân hàng tháng. Công an cấp xã phối hợp với các cơ quan có liên quan trong việc xác minh, hậu kiểm thông tin thu nhập bình quân hàng tháng của công dân đối với các trường hợp cần thiết.
Đơn đề nghị xác nhận điều kiện về thu nhập quy định tại khoản này đồng thời là giấy tờ chứng minh về đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội."
Trình tự, thủ tục bán, cho thuê mua, cho thuê nhà ở xã hội
Nghị định số 54/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Điều 38 Nghị định số 100/2024/NĐ-CP về trình tự, thủ tục bán, cho thuê mua, cho thuê nhà ở xã hội được đầu tư xây dựng theo dự án và không sử dụng vốn đầu tư công, nguồn tài chính công đoàn theo hướng mở rộng và chuẩn hóa hình thức công khai thông tin trên hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu về nhà ở và thị trường bất động sản, đa dạng hóa cách nộp hồ sơ (trực tiếp, trực tuyến, qua bưu chính hoặc thông qua cơ quan, đơn vị nơi người lao động làm việc). Đồng thời, quy định rõ thời hạn xử lý hồ sơ; thứ tự đối tượng ưu tiên, cách xử lý khi số đối tượng ưu tiên vượt chỉ tiêu… Cụ thể
1. Trình tự, thủ tục bán nhà ở xã hội thực hiện như sau:
a) Sau 30 ngày, kể từ khi khởi công dự án, chủ đầu tư dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội có trách nhiệm cung cấp các thông tin liên quan đến dự án để công bố công khai tại trang thông tin điện tử của Sở Xây dựng, Ủy ban nhân dân cấp xã tại địa phương nơi có dự án; đăng tải ít nhất 01 lần tại báo là cơ quan ngôn luận của chính quyền địa phương và công bố tại trang thông tin điện tử của chủ đầu tư (nếu có) hoặc Sàn giao dịch bất động sản của chủ đầu tư (nếu có) để người dân biết, chuẩn bị hồ sơ đăng ký mua nhà ở xã hội và thực hiện việc theo dõi, giám sát.
Thông tin công khai gồm: Tên dự án; chủ đầu tư dự án; địa điểm xây dựng dự án; địa chỉ liên lạc, địa chỉ nộp đơn đăng ký; tiến độ thực hiện dự án; quy mô dự án; số lượng căn hộ/căn nhà (trong đó bao gồm: Số căn hộ/căn nhà để bán; diện tích căn hộ; giá bán (tạm tính) đối với từng loại căn hộ/căn nhà; dự kiến thời gian bắt đầu nhận hồ sơ đăng ký và các nội dung khác có liên quan).
Trường hợp hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu về nhà ở và thị trường bất động sản đã được kết nối, khai thác thì thực hiện công khai thông tin về dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội trên hệ thống này theo quy định của pháp luật về xây dựng và quản lý hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu về nhà ở và thị trường bất động sản;
b) Trước thời điểm bắt đầu tiếp nhận hồ sơ đăng ký mua nhà ở xã hội, chủ đầu tư công khai thông tin về thời điểm bắt đầu tiếp nhận, kết thúc tiếp nhận hồ sơ đăng ký mua, số căn hộ/căn nhà để bán, diện tích căn hộ, giá bán nhà ở xã hội trên hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu về nhà ở và thị trường bất động sản và gửi Sở Xây dựng địa phương nơi có dự án để công khai trên trang thông tin điện tử của Sở Xây dựng.
Việc công khai thông tin phải thực hiện tối thiểu 30 ngày trước thời điểm bắt đầu tiếp nhận hồ sơ;
c) Trên cơ sở các thông tin về dự án nhà ở xã hội đã được công khai, hộ gia đình, cá nhân có nhu cầu nộp hồ sơ mua nhà ở xã hội cho chủ đầu tư dự án. Mỗi hộ gia đình, cá nhân có nhu cầu mua nhà ở xã hội không được đồng thời đăng ký mua nhà ở xã hội tại nhiều dự án trong cùng một thời điểm.
Đối tượng quy định tại khoản 10 Điều 76 của Luật Nhà ở phải có xác nhận về đối tượng của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi bị thu hồi đất và phải giải tỏa, phá dỡ nhà ở theo mẫu hướng dẫn của Bộ trưởng Bộ Xây dựng. Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được đơn đề nghị xác nhận, Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện việc xác nhận về đối tượng.
Việc nộp hồ sơ được thực hiện thông qua hình thức trực tiếp, trực tuyến hoặc dịch vụ bưu chính hoặc nộp cho cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp nơi cá nhân đang làm việc để tổng hợp, gửi chủ đầu tư dự án.
Thời gian nộp, tiếp nhận hồ sơ do chủ đầu tư quyết định nhưng tối thiểu là 30 ngày kể từ ngày bắt đầu tiếp nhận hồ sơ;
d) Hồ sơ đăng ký mua nhà ở xã hội bao gồm: đơn đăng ký mua nhà ở xã hội theo Mẫu số 01 quy định tại Phụ lục II của Nghị định này; giấy tờ chứng minh đối tượng, điều kiện được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội.
Giấy tờ chứng minh đối tượng, điều kiện được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội có giá trị trong thời gian 12 tháng, tính từ thời điểm xác nhận. Người đăng ký mua nhà ở xã hội phải cam kết chưa được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở và chịu trách nhiệm về việc bảo đảm đối tượng, điều kiện được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội tại thời điểm ký hợp đồng mua bán;
đ) Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày hết hạn nộp hồ sơ, chủ đầu tư có trách nhiệm tổng hợp Danh sách đăng ký mua nhà ở xã hội, trong đó thể hiện thông tin cá nhân của người đăng ký và các thành viên trong hộ gia đình được khai tại Đơn đăng ký mua nhà ở xã hội; gửi Sở Xây dựng địa phương nơi có dự án để kiểm tra người đăng ký mua nhà ở xã hội đã được hưởng hoặc chưa được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở theo quy định của pháp luật về nhà ở. Sở Xây dựng có trách nhiệm trả lời bằng văn bản trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được Danh sách đăng ký.
Chủ đầu tư có trách nhiệm rà soát, đánh giá, tổng hợp ý kiến của Sở Xây dựng và đối chiếu với các quy định của pháp luật về nhà ở để xác định hồ sơ đáp ứng điều kiện được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội.
Chủ đầu tư có trách nhiệm lập, công khai Danh sách các hồ sơ đáp ứng đủ điều kiện theo quy định và các hồ sơ không đáp ứng đủ điều kiện tại địa điểm thực hiện dự án, trang thông tin điện tử của chủ đầu tư (nếu có) và tại Sàn giao dịch bất động sản của chủ đầu tư (nếu có).
Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày hết hạn nộp hồ sơ, chủ đầu tư có trách nhiệm công khai Danh sách các hồ sơ đáp ứng đủ điều kiện mua nhà ở xã hội. Đối với hồ sơ không đáp ứng đủ điều kiện thì gửi trả lại và nêu rõ lý do trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày công khai Danh sách;
e) Trường hợp tổng số hồ sơ đăng ký đủ điều kiện trong danh sách tại điểm đ khoản này bằng hoặc ít hơn tổng số căn hộ/căn nhà dự kiến bán thì việc mua bán được thực hiện theo thỏa thuận giữa chủ đầu tư và khách hàng;
g) Trường hợp tổng số hồ sơ đăng ký đủ điều kiện trong danh sách tại điểm đ khoản này lớn hơn tổng số căn hộ/căn nhà dự kiến bán thì chủ đầu tư tổ chức việc bốc thăm để lựa chọn người được mua nhà ở xã hội.
Hình thức bốc thăm do chủ đầu tư quyết định nhưng phải có sự giám sát của đại diện Sở Xây dựng địa phương, đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã, đại diện Công an cấp xã nơi có dự án, xác nhận vào biên bản kết quả bốc thăm;
h) Trường hợp dự án có đối tượng ưu tiên theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 79 của Luật Nhà ở thì được ưu tiên mua nhà ở xã hội mà không phải bốc thăm với số lượng căn hộ bằng tổng số hồ sơ đủ điều kiện của các nhóm đối tượng ưu tiên này trên tổng số hồ sơ đủ điều kiện trong danh sách quy định tại khoản này nhân với tổng số căn hộ/căn nhà nhà ở xã hội dự kiến bán.
Việc ưu tiên đối tượng là nữ giới được áp dụng đối với trường hợp người đứng đơn đăng ký là nữ giới đơn thân hoặc phải là chủ hộ của hộ gia đình trên cơ sở dữ liệu về cư trú.
Đối tượng ưu tiên quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 79 của Luật Nhà ở được bố trí căn hộ/căn nhà theo thứ tự lần lượt như sau: người có công với cách mạng, thân nhân liệt sĩ, người khuyết tật, người được bố trí tái định cư theo hình thức mua nhà ở xã hội, nữ giới. Trường hợp số lượng đối tượng ưu tiên trong 01 nhóm vượt quá số lượng căn hộ/căn nhà ưu tiên còn lại thì thực hiện bốc thăm giữa nhóm đối tượng ưu tiên đó, các đối tượng còn lại được tiếp tục tham gia bốc thăm cùng với các đối tượng không ưu tiên;
i) Sau khi nhà ở đủ điều kiện được bán theo quy định của pháp luật về kinh doanh bất động sản, chủ đầu tư thực hiện ký kết Hợp đồng mua bán nhà ở xã hội với khách hàng; đồng thời cập nhật thông tin về giao dịch, đối tượng đã mua nhà ở xã hội theo quy định của pháp luật về nhà ở, pháp luật về xây dựng và quản lý hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu về nhà ở và thị trường bất động sản.
Chủ đầu tư dự án có trách nhiệm công bố công khai Danh sách các khách hàng đã ký hợp đồng mua bán nhà ở xã hội (bao gồm cả các thành viên trong hộ gia đình) tại trụ sở làm việc của chủ đầu tư, tại địa điểm thực hiện dự án và tại Sàn giao dịch bất động sản (nếu có) hoặc trang thông tin điện tử về nhà ở xã hội của chủ đầu tư (nếu có).
2. Trình tự, thủ tục cho thuê mua nhà ở xã hội được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều này.
3. Trình tự, thủ tục cho thuê nhà ở xã hội được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều này và không phải nộp các giấy tờ chứng minh điều kiện về nhà ở và thu nhập. Trường hợp thuê nhà ở xã hội thuộc tài sản công thì người thuê nộp các giấy tờ chứng minh thuộc đối tượng được miễn, giảm tiền thuê nhà ở xã hội (nếu có)."
Chủ đầu tư được ưu tiên bán cho người đang thuê đủ điều kiện khi có nhu cầu mua trước thời hạn 10 năm
Ngoài ra, Nghị định số 54/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung khoản 12 Điều 78 Nghị định số 100/2024/NĐ-CP về quy định chuyển tiếp đối với việc bán nhà ở xã hội đang cho thuê. Quy định mới cho phép chủ đầu tư được ưu tiên bán cho người đang thuê đủ điều kiện khi có nhu cầu mua nhà trước thời hạn 10 năm, dài hơn so với quy định cũ là trước 05 năm. Ngoài ra, quy định mới mở rộng thêm phương án bán lại nhà ở xã hội cho Quỹ nhà ở quốc gia và bổ sung chi tiết cách xác định giá bán nhà ở xã hội đang cho thuê (bao gồm giá thẩm định, lãi vay, khấu hao...). Cụ thể:
"12. Trường hợp đang cho thuê nhà ở xã hội theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị định số 100/2015/NĐ-CP thì chủ đầu tư được ưu tiên bán nhà ở cho người đang thuê nếu người thuê nhà ở có nhu cầu mua trước thời hạn 10 năm và đảm bảo đúng đối tượng, điều kiện theo quy định của Nghị định này hoặc bán lại nhà ở này cho Quỹ nhà ở quốc gia.
Giá bán nhà ở xã hội đang cho thuê gồm: giá bán đã được thẩm định, xác định tại thời điểm xác định, thẩm định giá thuê, cộng với lãi vay bình quân hằng năm của các ngân hàng thương mại cổ phần nhà nước tương ứng với thời gian thuê và trừ đi phần giá trị khấu hao nhà ở. Giá trị khấu hao nhà ở được xác định bằng giá bán nhà ở đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thẩm định nhân với thời gian đã thuê chia cho số năm thu hồi vốn đầu tư đã tính toán để cho thuê."
Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 09/02/2026.
Phó Thủ tướng Chính phủ Bùi Thanh Sơn ký Quyết định số 261/QĐ-TTg ngày 09/02/2026 phê duyệt Chiến lược phát triển ngành thép giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 (Chiến lược).

Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển ngành thép giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
Chiến lược nhằm phát triển ngành thép theo hướng tập trung vào sản phẩm thép có chất lượng cao phù hợp với tiêu chuẩn quốc gia và tiêu chuẩn quốc tế; đa dạng về sản phẩm, từng bước chuyển đổi sang sản phẩm có giá trị gia tăng cao, thân thiện môi trường, tận dụng tối đa nguồn nhiên liệu, đáp ứng được nhu cầu sử dụng trong nước, tăng nhanh xuất khẩu, tính cạnh tranh và tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu; chuyển đổi cơ cấu sản phẩm để từng bước thay thế thép nhập khẩu, đặc biệt là thép hợp kim, thép dụng cụ và các sản phẩm thép đặc biệt cho các ngành chế tạo trong nước.
Đến năm 2030, sản phẩm của ngành thép đáp ứng khoảng 80% - 85% nhu cầu sử dụng trong nước
Đến năm 2030, phấn đấu sản xuất thép thô tăng trưởng bình quân khoảng 7,0% - 8,0%/năm, sản lượng đạt khoảng 25 - 26 triệu tấn/năm.
Thép thành phẩm tăng trưởng từ 5,5% - 6,5%/năm, sản lượng đạt khoảng 32 - 33 triệu tấn/năm.
Thép tiêu thụ bình quân 270 - 280 kg/người/năm.
Sản phẩm của ngành thép về cơ bản đáp ứng được khoảng 80% - 85% nhu cầu sử dụng trong nước và từng bước tăng tỷ trọng xuất khẩu.
Tăng dần tỷ lệ các sản phẩm thép có giá trị gia tăng cao: Thép hợp kim, thép không gỉ, thép chất lượng cao phục vụ các ngành chế tạo, sản xuất, phương tiện giao thông vận tải (ô tô, đóng tàu, đường sắt), năng lượng.
Mục tiêu đến năm 2035, sản xuất thép thô tăng trưởng bình quân khoảng 6,0% - 7,0%/năm, sản lượng đạt khoảng 33 - 36 triệu tấn/năm.
Thép thành phẩm tăng trưởng từ 4,5% - 5,5%/năm, sản lượng đạt khoảng 40 - 43 triệu tấn/năm.
Thép tiêu thụ bình quân 340 - 360 kg/người/năm.
Sản phẩm của ngành thép về cơ bản đáp ứng được khoảng 85% - 90% nhu cầu sử dụng trong nước và từng bước tăng tỷ trọng xuất khẩu.
Tiếp tục tăng tỷ lệ các sản phẩm thép có giá trị gia tăng cao: Thép hợp kim, thép không gỉ, thép chất lượng cao phục vụ các ngành chế tạo, sản xuất, phương tiện giao thông vận tải (ô tô, đóng tàu, đường sắt), năng lượng, thép chế tạo quốc phòng an ninh.
Đến năm 2050, sản lượng thép đạt khoảng 75 - 80 triệu tấn/năm; tiêu thụ bình quân 570 - 650 kg/người/năm
Phấn đấu đến năm 2050, sản xuất thép thô tăng trưởng bình quân khoảng 4,0% - 4,5%/năm, sản lượng đạt khoảng 65 - 70 triệu tấn/năm.
Thép thành phẩm tăng trưởng từ 3,5% - 4,0%/năm, sản lượng đạt khoảng 75 - 80 triệu tấn/năm.
Thép tiêu thụ bình quân 570 - 650 kg/người/năm.
Sản phẩm của ngành thép về cơ bản đáp ứng tối đa nhu cầu sử dụng thép trong nước và từng bước tăng tỷ trọng xuất khẩu.
Sản phẩm của ngành thép tham gia ngày càng sâu vào chuỗi cung ứng của ngành thép thế giới.
Về định hướng phát triển, Chiến lược tập trung phát triển các sản phẩm có lợi thế, có nhu cầu sử dụng cao hiện tại trong nước chưa sản xuất được; chú trọng đầu tư vào các dự án sản xuất thép công nghệ tiên tiến, hiện đại, sản xuất thép xanh, thép hợp kim, thép cho ngành chế tạo, các sản phẩm có năng lực cạnh tranh cao, có đủ khả năng tham gia trong chuỗi giá trị toàn cầu. Đồng thời tăng nhanh hàm lượng khoa học, công nghệ nhằm tăng năng suất và chất lượng sản phẩm phù hợp tiêu chuẩn quốc tế.
Phân bố không gian sản xuất ngành thép một cách hợp lý dựa trên lợi thế về địa lý, tập trung đầu tư các dự án có quy mô lớn tại các địa phương có cảng nước sâu nhằm phát huy hết lợi thế về không gian, hạ tầng, địa điểm có nguồn năng lượng tái tạo và nguồn lực sản xuất; đẩy mạnh mối liên kết trong chuỗi giá trị từ nghiên cứu, cung cấp nguyên liệu đến sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
Bên cạnh đó, Chiến lược cũng đưa ra các định hướng cụ thể về: sản phẩm ưu tiên; nguồn nguyên liệu; nguồn năng lượng phục vụ sản xuất; phát triển các doanh nghiệp ngành thép; thị trường tiêu thụ thép trong nước và xuất, nhập khẩu; công nghệ; phân bố không gian.
Tiếp tục đầu tư công nghệ, nâng cao năng lực và chất lượng sản xuất thép phục vụ phát triển kinh tế
Để hiện thực hóa các mục tiêu nêu trên, Chiến lược cũng đề ra các nhiệm vụ giải pháp về cơ chế chính sách; thị trường tiêu thụ sản phẩm; khoa học công nghệ; nguồn nhân lực, bảo vệ môi trường và một số giải pháp cụ thể theo nhóm sản phẩm thép như:
Tiếp tục đầu tư công nghệ, thiết bị nâng cao năng lực sản xuất, chất lượng đối với nhóm sản phẩm thép trong việc phát triển nền kinh tế; thép phục vụ xây dựng, thép hợp kim, thép chế tạo, thép hình, tôn mạ kim loại và sơn phủ màu, ống thép, thép cán nóng để ổn định tiêu thụ trong nước và xuất khẩu.
Phát triển công nghệ trong nước để sản xuất thép tấm cường độ cao, thép dự ứng lực, thép dùng trong bê tông cốt thép ứng suất trước, thép không gỉ chống ăn mòn dùng cho các công trình biển đảo, thép siêu nhẹ sử dụng cho các thiết bị trong ngành giao thông vận tải; thép nhẹ cán nguội, thép ngành đóng tàu.
Nghiên cứu sản xuất thép phục vụ nhu cầu vật liệu thép cho xây dựng hạ tầng năng lượng, thép thanh ray cho phát triển đường sắt cao tốc, thép ống đúc để vận chuyển khí hóa lỏng, ống thép không hàn cho đóng tàu, trụ điện gió, thép chế tạo trong quốc phòng an ninh.
Phó Thủ tướng Nguyễn Chí Dũng - Chủ tịch Hội đồng thẩm định điều chỉnh quy hoạch vùng thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 đã ký Quyết định số 7/QĐ-HĐTĐ ban hành Quy chế hoạt động của Hội đồng thẩm định này.
Quy chế này quy định về hoạt động của Hội đồng thẩm định; trách nhiệm, quyền hạn của Chủ tịch Hội đồng thẩm định, các thành viên Hội đồng thẩm định, ủy viên phản biện và Cơ quan thường trực của Hội đồng thẩm định trong quá trình tổ chức thẩm định điều chỉnh quy hoạch vùng thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 của 06 vùng: Trung du và miền núi phía Bắc; đồng bằng sông Hồng; Bắc Trung Bộ; duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên; Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long theo quy định tại Điều 56 Luật Quy hoạch số 112/2025/QH15.
Nguyên tắc hoạt động của Hội đồng thẩm định
Hội đồng thẩm định hoạt động theo chế độ tập thể, làm việc theo nguyên tắc tập trung dân chủ, thảo luận công khai và quyết định theo kết quả biểu quyết bằng Phiếu đánh giá của Hội đồng thẩm định.
Hội đồng thẩm định chấm dứt hoạt động và tự giải thể sau khi Điều chỉnh quy hoạch 06 vùng thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo quy định tại khoản 19 Điều 56 Luật Quy hoạch số 112/2025/QH15.
Nhiệm vụ của Hội đồng thẩm định
Hội đồng thẩm định có nhiệm vụ tổ chức thẩm định Điều chỉnh quy hoạch vùng thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 đối với 06 vùng: Trung du và miền núi phía Bắc; đồng bằng sông Hồng; Bắc Trung Bộ; duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên; Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long theo quy định tại các khoản 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16 và 17 Điều 56 Luật Quy hoạch số 112/2025/QH15.
Nội dung thẩm định điều chỉnh quy hoạch vùng thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 được thực hiện theo quy định tại khoản 16 Điều 56 Luật Quy hoạch số 112/2025/QH15.
Kết luận của Hội đồng thẩm định được thể hiện bằng báo cáo thẩm định và là căn cứ để cơ quan được giao lập điều chỉnh quy hoạch vùng thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 tiếp thu, giải trình và hoàn thiện hồ sơ điều chỉnh quy hoạch vùng thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 để trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, phê duyệt.
Trách nhiệm của Cơ quan thường trực Hội đồng thẩm định
Cơ quan thường trực Hội đồng thẩm định có trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ trình thẩm định điều chỉnh quy hoạch vùng thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 do cơ quan được giao lập điều chỉnh quy hoạch vùng gửi tới Hội đồng thẩm định; trình Chủ tịch Hội đồng thẩm định quyết định hình thức tổ chức thẩm định điều chỉnh quy hoạch vùng thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
Gửi hồ sơ trình thẩm định điều chỉnh quy hoạch vùng kèm theo văn bản đề nghị tham gia ý kiến thẩm định đến các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thành viên tham gia Hội đồng thẩm định, Ủy viên phản biện để tham gia ý kiến thẩm định đối với điều chỉnh quy hoạch vùng thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050; đôn đốc các thành viên Hội đồng thẩm định, Ủy viên phản biện gửi văn bản tham gia ý kiến thẩm định đối với điều chỉnh quy hoạch vùng thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 theo đúng thời hạn yêu cầu theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 5 và điểm b khoản 2 Điều 6 Quy chế này.
Chuẩn bị Phiếu đánh giá của Hội đồng thẩm định được đóng dấu treo của Cơ quan thường trực Hội đồng thẩm định. Phiếu đánh giá bao gồm nội dung đánh giá đối với hồ sơ, nội dung điều chỉnh quy hoạch vùng thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 và nội dung đánh giá đối với dự thảo báo cáo thẩm định điều chỉnh quy hoạch vùng thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050; phát hành giấy mời các thành viên Hội đồng thẩm định, Ủy viên phản biện tham gia phiên họp của Hội đồng thẩm định, chuẩn bị các điều kiện để Hội đồng thẩm định tiến hành phiên họp thẩm định theo quy định trong trường hợp tổ chức phiên họp của Hội đồng thẩm định.
Lập dự thảo báo cáo thẩm định điều chỉnh quy hoạch vùng thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 trên cơ sở tổng hợp ý kiến tham gia của các thành viên Hội đồng thẩm định, Ủy viên phản biện đối với hồ sơ và nội dung điều chỉnh quy hoạch vùng thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 để xin ý kiến bằng Phiếu đánh giá tại phiên họp của Hội đồng thẩm định trong trường hợp tổ chức phiên họp của Hội đồng thẩm định hoặc gửi xin ý kiến bằng văn bản trong trường hợp xin ý kiến thẩm định bằng văn bản; hoàn thiện báo cáo thẩm định điều chỉnh quy hoạch vùng thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050, trình Chủ tịch Hội đồng thẩm định xem xét, ban hành và trình Chủ tịch Hội đồng thẩm định xem xét, quyết định việc thẩm định lại điều chỉnh quy hoạch vùng thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 trong trường hợp điều chỉnh quy hoạch vùng không được Hội đồng thẩm định thông qua...
Cơ chế hoạt động của Hội đồng thẩm định
Quyết định nêu rõ, phiên họp thẩm định được tiến hành khi có ít nhất 3/4 số thành viên Hội đồng thẩm định, Ủy viên phản biện tham dự, trong đó có Chủ tịch Hội đồng thẩm định, 2/3 số Ủy viên phản biện và đại diện Cơ quan thường trực Hội đồng thẩm định dự họp; đại diện cơ quan được giao lập điều chỉnh quy hoạch vùng thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
Hội đồng thẩm định biểu quyết, đánh giá bằng Phiếu đánh giá do Cơ quan thường trực Hội đồng thẩm định chuẩn bị; chịu trách nhiệm về ý kiến tham gia và nội dung biểu quyết bằng Phiếu đánh giá trước Chủ tịch Hội đồng thẩm định.
Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Đức Phớc vừa ký Quyết định số 262/QĐ-TTg ngày 09/02/2026 về việc điều chỉnh nguồn dự phòng ngân sách trung ương năm 2024 đã giao cho Bộ Xây dựng để bổ sung có mục tiêu tương ứng cho tỉnh Phú Thọ.
Cụ thể, điều chuyển 196,596 tỷ đồng nguồn dự phòng ngân sách trung ương năm 2024 đã giao cho Bộ Xây dựng tại Quyết định số 1389/QĐ-TTg ngày 15/11/2024 của Thủ tướng Chính phủ để bổ sung có mục tiêu tương ứng cho tỉnh Phú Thọ để thực hiện dự án mở rộng đường kết nối cầu Phong Châu đến Đường liên kết vùng (Dự án).
Thủ tướng Chính phủ giao Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Thọ thông báo hoặc quyết định phân bổ chi tiết số vốn được bổ sung có mục tiêu nêu trên cho cơ quan, đơn vị trực thuộc theo đúng quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước, đầu tư công và các quy định của pháp luật có liên quan.
Đồng thời, chỉ đạo các cơ quan, đơn vị liên quan khẩn trương hoàn thiện thủ tục đầu tư, giao kế hoạch vốn theo đúng quy định của Luật Ngân sách nhà nước, Luật Đầu tư công và các quy định pháp luật có liên quan, bảo đảm hiệu quả, chất lượng, đúng mục đích, đối tượng sử dụng; tổ chức thực hiện và giải ngân vốn bổ sung có mục tiêu nêu trên theo đúng quy định pháp luật; chịu trách nhiệm về kết quả giải ngân vốn của Dự án.
Tỉnh Phú Thọ chịu trách nhiệm về tính chính xác của các nội dung, số liệu báo cáo và mức vốn bố trí cho Dự án
Ngoài ra, tỉnh Phú Thọ chịu trách nhiệm toàn diện trước Thủ tướng Chính phủ, các cơ quan thanh tra, kiểm tra, kiểm toán và cơ quan liên quan về tính chính xác của các nội dung, số liệu báo cáo, danh mục dự án và mức vốn bố trí cho Dự án bảo đảm đúng quy định của pháp luật; thực hiện chế độ báo cáo theo quy định hiện hành.
Định kỳ hằng tháng, quý và cả năm, tỉnh Phú Thọ có trách nhiệm báo cáo tình hình thực hiện và giải ngân số vốn bổ sung có mục tiêu nêu trên gửi Bộ Tài chính theo quy định.
Thời gian thực hiện và giải ngân nguồn vốn bổ sung có mục tiêu nêu trên cho Dự án đến hết ngày 31/12/2026. Trường hợp không sử dụng hết, số vốn còn lại sẽ bị hủy dự toán theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước và các văn bản hướng dẫn.
Văn phòng Chính phủ ban hành Thông báo số 72/TB-VPCP ngày 9/2/2026 kết luận của Thủ tướng Chính phủ, Trưởng Ban Chỉ đạo tại Phiên họp lần thứ tư Ban Chỉ đạo quốc gia triển khai Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Nâng cao cơ hội tiếp cận vốn, đất đai, mặt bằng sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp
Thông báo nêu: Năm 2025, kinh tế - xã hội đất nước ta đạt được nhiều kết quả quan trọng, toàn diện trên tất cả các lĩnh vực, trong đó có sự đóng góp quan trọng của việc triển khai Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 68-NQ/TW) về phát triển kinh tế tư nhân, đặc biệt là sự đóng góp của cộng đồng doanh nghiệp, doanh nhân trong triển khai Nghị quyết số 68-NQ/TW. Những kết quả đạt được trong triển khai Nghị quyết số 68-NQ/TW thời gian qua đã góp phần tạo đà, tạo lực, tạo nền tảng để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển theo đúng mục tiêu, định hướng của Nghị quyết; tăng cường, củng cố niềm tin của doanh nghiệp, doanh nhân và toàn xã hội đối với phát triển kinh tế tư nhân.
Thay mặt Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ biểu dương, ghi nhận, đánh giá cao và cảm ơn sự nỗ lực, đóng góp quan trọng của các doanh nghiệp, doanh nhân thuộc khu vực kinh tế tư nhân đối với sự phát triển của đất nước thời gian qua.
Những kết quả đạt được trong triển khai Nghị quyết số 68-NQ/TW trong năm 2025:
- Nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của kinh tế tư nhân trong phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN đã có bước chuyển biến rõ rệt, khẳng định tính đúng đắn của Nghị quyết số 68-NQ/CP, xác định rõ vai trò của kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia.
- Hoàn thiện khung khổ pháp lý tương đối đầy đủ, thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân. Trong đó, Chính phủ đã trình Quốc hội ban hành 15 luật, 01 Nghị quyết của Quốc hội; ban hành hàng trăm Nghị định trên các lĩnh vực liên quan đến phát triển khu vực kinh tế tư nhân.
- Phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại. Trong năm 2025, đã tập trung khởi công, khánh thành 564 công trình, dự án để chào mừng các ngày lễ lớn và chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng với tổng mức đầu tư trên 5,14 triệu tỷ đồng, trong đó nguồn vốn tư nhân đóng góp 3,84 triệu tỷ đồng (chiếm 74,6%).
- Cắt giảm thủ tục hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh; theo đó đã cắt giảm trên 30% số lượng thủ tục hành chính, thời gian giải quyết thủ tục hành chính và chi phí tuân thủ, vượt mục tiêu đề ra. Nâng cao cơ hội tiếp cận vốn, đất đai, mặt bằng sản xuất kinh doanh… cho doanh nghiệp.
- Xây dựng và đưa vào vận hành Cổng Pháp luật quốc gia để tiếp thu, lắng nghe ý kiến, phản ánh vướng mắc của người dân, doanh nghiệp.
- Sự phát triển của cộng đồng doanh nghiệp ngày càng rõ nét; đến hết năm 2025, cả nước có trên 01 triệu doanh nghiệp hoạt động.
- Các tổ chức chính trị - xã hội và các hiệp hội đã tích cực đồng hành với Chính phủ triển khai các giải pháp thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân.
- Khu vực kinh tế tư nhân đã tích cực đóng góp cho công tác an sinh xã hội thông qua việc tham gia các chương trình, phong trào như: Phong trào thi đua "Chung tay xóa nhà tạm, nhà dột nát trên phạm vi cả nước trong năm 2025", "Chiến dịch Quang Trung" về xây dựng mới, sửa chữa nhà ở cho các hộ dân bị sập đổ, cuốn trôi, hư hỏng nặng do bão lũ tại khu vực miền Trung và Tây Nguyên, công tác phát triển nhà ở xã hội tại các địa phương…
- Tăng cường niềm tin của doanh nghiệp đối với Đảng, Nhà nước và sự phát triển của đất nước.
Bên cạnh các kết quả đạt được, việc triển khai Nghị quyết số 68-NQ/TW còn một số hạn chế, khó khăn như: (i) Vẫn còn một số nhiệm vụ chưa hoàn thành đúng thời hạn; (ii) Môi trường đầu tư, kinh doanh vẫn còn nhiều rào cản, vướng mắc cần tiếp tục được tháo gỡ, thủ tục hành chính trên một số lĩnh vực còn phức tạp, tình trạng tham nhũng vặt và gây khó khăn cho doanh nghiệp vẫn còn; (iii) Việc tiếp cận bình đẳng các nguồn lực như vốn tín dụng, đất đai đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh vẫn còn khó khăn; (iv) Năng lực cạnh tranh, công nghệ, quản trị của phần lớn doanh nghiệp khu vực tư nhân trong nước còn hạn chế…
Những hạn chế, khó khăn nêu trên có cả nguyên nhân khách quan và chủ quan, trong đó nguyên nhân chủ quan là chính, do cán bộ, công chức chưa thực sự chủ động, tích cực trong công việc hoặc hạn chế về năng lực, trách nhiệm; chưa kịp thời thích ứng với mô hình chính quyền địa phương 2 cấp; chuyển đổi số trong doanh nghiệp còn hạn chế; nguồn lực hỗ trợ doanh nghiệp cần quan tâm đầu tư nhiều hơn.
Bài học kinh nghiệm là: (i) Nắm chắc tình hình liên quan đến doanh nghiệp, doanh nhân để có phản ứng kịp thời, phù hợp, hiệu quả về chính sách của Nhà nước để phát triển kinh tế tư nhân; (ii) Người đứng đầu cơ quan, đơn vị, địa phương cần quan tâm lãnh đạo chỉ đạo, đầu tư công sức, coi sự phát triển của kinh tế tư nhân như sự phát triển của mình, cơ quan, đơn vị, địa phương mình; (iii) Kết hợp hài hòa, hợp lý, hiệu quả sức mạnh Nhà nước và tư nhân, sức mạnh dân tộc và thời đại, trong nước và ngoài nước.
Kinh tế tư nhân phấn đấu tăng trưởng 2 con số
Thủ tướng Chính phủ đặt mục tiêu trong thời gian tới khu vực kinh tế tư nhân phải tăng trưởng 2 con số để thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số của đất nước, phát triển nhanh, bền vững, xây dựng đất nước giàu mạnh, văn minh, phồn vinh, hạnh phúc.
Phương châm là "Nhà nước kiến tạo, doanh nghiệp tiên phong, công tư đồng hành, đất nước phát triển, Nhân dân hạnh phúc". "Doanh nghiệp là trung tâm, hạ tầng là nền tảng, thể chế là động lực". "Không lãng phí một ngày; không chậm trễ một tuần; không bỏ lỡ cơ hội trong một tháng; không bị động trong một năm".
Quyết tâm thực hiện "5 hóa", "5 thông", "5 tiên phong"
Thủ tướng Chính phủ khẳng định nhiệm vụ tổng quát trong thời gian tới là tiếp tục thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 68-NQ/TW gắn với thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, các nghị quyết đột phá của Bộ Chính trị; thực hiện "5 hóa": số hóa, xanh hóa, tối ưu hóa nguồn lực, thông minh hóa quản trị và hài hòa hóa lợi ích của Nhà nước, người dân và doanh nghiệp. Cụ thể:
Đối với Nhà nước, thực hiện "5 thông": (i) Thể chế, thủ tục thông thoáng để giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp; (ii) Hạ tầng đồng bộ, thông suốt để giảm chi phí đầu vào, tăng tính cạnh tranh; (iii) Con người và quản trị thông minh để góp phần tăng năng suất lao động; (iv) Nguồn lực cho doanh nghiệp tư nhân phải được khơi thông, giúp doanh nghiệp tiếp cận bình đẳng các nguồn lực, khuyến khích nguồn lực của tư nhân; (v) Khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp phải được chia sẻ, cảm thông để có chính sách phù hợp, hiệu quả.
Nghiên cứu, xây dựng cơ chế giao nhiệm vụ, giao việc lớn, việc khó, việc đột phá cho doanh nghiệp khu vực tư nhân, thể hiện lòng tin, trách nhiệm và sự kiến tạo phát triển. Quyết liệt xử lý hiệu quả các dự án tồn đọng kéo dài. Lấy đầu tư công dẫn dắt đầu tư tư, kích hoạt huy động mọi nguồn lực của xã hội cho phát triển đất nước.
Đối với doanh nghiệp, thực hiện "5 tiên phong": (i) Tiên phong trong đổi mới sáng tạo, phát triển khoa học công nghệ, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi cơ cấu kinh tế; (ii) Tiên phong trong đào tạo nguồn nhân lực, tạo việc làm, sinh kế cho người dân và làm an sinh xã hội; (iii) Tiên phong trong xây dựng thể chế, cơ chế, chính sách và thực thi pháp luật nghiêm túc; (iv) Tiên phong trong xây dựng văn hóa, nhân văn trong hoạt động kinh doanh; (v) Tiên phong đóng góp, huy động mọi nguồn lực cho phát triển đất nước, tăng cường hợp tác công tư.
Các bộ, cơ quan, địa phương theo chức năng, nhiệm vụ được giao tập trung thực hiện các nhiệm vụ sau đây:
Bộ Tài chính rà soát tổng thể các quy định pháp luật liên quan đến hoạt động kinh doanh của khu vực kinh tế tư nhân để thể chế hóa đầy đủ chủ trương của Đảng về phát triển kinh tế tư nhân; nâng cấp, hoàn thiện Hệ thống theo dõi, đánh giá tình hình triển khai Nghị quyết số 68-NQ/TW đảm bảo triển khai hiệu quả, thông suốt, số liệu đúng, đủ, sạch, sống.
Bộ Công an rà soát, đề xuất sửa đổi Luật Xử lý vi phạm hành chính và các văn bản hướng dẫn để thể chế hóa đầy đủ chủ trương của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân.
Bộ Công Thương đánh giá việc phát triển thị trường trong nước và Cuộc vận động "Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam" để có cơ chế, chính sách hiệu quả kích cầu tiêu dùng trong nước; khẩn trương trình Đề án vươn ra thị trường quốc tế Go Global trong tháng 02 năm 2026.
Tăng cường kết nối bộ phận trong nước và ngoài nước của Bộ Công Thương, nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống thương vụ, thúc đẩy các giải pháp đa dạng hóa thị trường, sản phẩm, chuỗi cung ứng.
Bộ Tư pháp thực hiện nhiệm vụ kiểm soát thủ tục hành chính, bảo đảm thủ tục hành chính năm sau phải thuận lợi hơn năm trước.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường nghiên cứu để đơn giản hóa các thủ tục về môi trường theo hướng phân cấp quản lý về môi trường cho địa phương; Bộ Nông nghiệp và Môi trường tập trung thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước (xây dựng cơ chế, chính sách, pháp luật, tiêu chuẩn, quy chuẩn… và tăng cường kiểm tra, giám sát). Xác định giá đất phù hợp trên tinh thần hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, người dân, doanh nghiệp.
Khẩn trương trình Thủ tướng Chính phủ Quyết định ban hành tiêu chí xác định dự án xanh, tuần hoàn, áp dụng khung tiêu chuẩn môi trường, xã hội, quản trị (ESG) trong tháng 2 năm 2026, không để chậm trễ hơn.
Bộ Nội vụ rà soát, đề xuất sửa đổi Luật Thi đua khen thưởng cho phù hợp, mở rộng hình thức tôn vinh đối với doanh nghiệp/doanh nhân tiêu biểu; thực hiện tôn vinh hàng quý để nhân rộng các điển hình tiên tiến.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, kịp thời, hiệu quả, không điều hành "giật cục", "gây sốc" cho doanh nghiệp; triển khai các chính sách hỗ trợ ưu đãi phù hợp cho doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Các bộ, ngành, địa phương cần tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, phấn đấu năm sau cắt giảm ít nhất 30% so với năm trước; tăng cường chuyển đổi số, xây dựng cơ sở dữ liệu "Đúng - Đủ - Sạch - Sống - Thống nhất - Dùng chung"; tổ chức thực hiện quyết liệt, kịp thời, hiệu quả các chính sách đã được ban hành, tăng cường kiểm tra, đôn đốc, tháo gỡ các khó khăn vướng mắc phát sinh; chủ động thực hiện theo chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền được giao, kịp thời báo cáo cấp có thẩm quyền các vấn đề vượt thẩm quyền, nhằm mục tiêu thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển đột phá, thực sự phát huy vai trò là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia.
Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà vừa ký Quyết định số 263/QĐ-TTg ngày 9/2/2026 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tổng hạn ngạch phát thải khí nhà kính thí điểm cho năm 2025 - 2026.
Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tổng hạn ngạch phát thải khí nhà kính thí điểm cho năm 2025 - 2026 để phân bổ cho 34 nhà máy nhiệt điện, 25 cơ sở sản xuất sắt thép, 51 cơ sở sản xuất xi măng như sau:
- Tổng hạn ngạch phát thải khí nhà kính thí điểm cho năm 2025 là 243.082.392 tấn CO2tđ.
- Tổng hạn ngạch phát thải khí nhà kính thí điểm cho năm 2026 là 268.391.454 tấn CO2tđ.
Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, phối hợp với Bộ Công Thương, Bộ Xây dựng thí điểm phân bổ hạn ngạch phát thải khí nhà kính cho năm 2025 và năm 2026 cho từng nhà máy nhiệt điện, cơ sở sản xuất sắt thép, cơ sở sản xuất xi măng và hướng dẫn triển khai thực hiện theo quy định; tổ chức đánh giá, tổng kết quá trình thí điểm, đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật về kiểm kê khí nhà kính, phân bổ hạn ngạch phát thải khí nhà kính.
Bộ Công Thương, Bộ Xây dựng theo dõi, đánh giá việc thực hiện hạn ngạch của các cơ sở được phân bổ hạn ngạch trong phạm vi quản lý./.