In bài viết

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 1/4/2026 (1)

(Chinhphu.vn) - Văn phòng Chính phủ vừa có Thông cáo báo chí chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 1/4/2026 (1).

01/04/2026 16:28

Công điện của Thủ tướng Chính phủ về thúc đẩy phát triển hạ tầng trạm sạc xe điện tại các khu chung cư 

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính ký Công điện số 27/CĐ-TTg ngày 31/3/2026 chỉ đạo các bộ ngành, địa phương thúc đẩy phát triển hạ tầng trạm sạc xe điện tại các khu chung cư.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 1/4/2026 (1)- Ảnh 1.

Thúc đẩy phát triển hạ tầng trạm sạc xe điện tại các khu chung cư.

Công điện nêu: Trong định hướng phát triển đất nước giai đoạn tới là chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, chuyển đổi năng lượng, việc chuyển đổi sang phương tiện giao thông điện là xu thế tất yếu. Tuy nhiên, hạ tầng trạm sạc, chỗ để xe và trạm đổi pin tại các khu đô thị, nhà chung cư đang gặp nhiều vướng mắc, bất cập như: Hệ thống trạm sạc và điểm đổi pin tại các khu đô thị, nhà chung cư còn thiếu và chưa đồng bộ; Quy hoạch chỗ đỗ xe tại các dự án chưa đầy đủ, nhu cầu sạc điện, gây áp lực lên hệ thống điện nội bộ và an toàn cháy nổ.

Để khẩn trương hoàn thiện quy chuẩn, quy định, tăng cường quản lý đảm bảo an toàn, phòng chống cháy trong sử dụng và thúc đẩy phát triển hạ tầng phục vụ chỗ để xe, trạm sạc, trạm đổi pin cho xe điện, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu:

1- Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương:

(i) Đẩy mạnh truyền thông, công khai, minh bạch thông tin liên quan đến phát triển giao thông xanh, hạ tầng trạm sạc điện đảm kịp thời, đầy đủ, chính xác, hiệu quả.

(ii) Xây dựng lại các quy định chính sách, quy chuẩn, quy hoạch phát triển hạ tầng phục vụ chỗ đỗ xe, trạm sạc, trạm đổi pin.... Không được để sơ hở tạo cơ hội cho tham nhũng tiêu cực, lãng phí, lợi ích nhóm... khi tổ chức thực hiện, phải thường xuyên giám sát, kiểm tra xử lý nếu xảy ra vi phạm.

(iii) Tiếp tục thực hiện nghiêm, hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp đã được Chính phủ chỉ đạo tại các Nghị quyết, Chỉ thị, Quyết định, Công điện,... liên quan đến phát triển giao thông, hạ tầng giao thông xanh, năng lượng xanh.

Hoàn thành các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nhà chung cư trước ngày 30/4

2- Bộ Xây dựng

(i) Khẩn trương xây dựng, hoàn thiện hệ thống các quy định, quy chuẩn/tiêu chuẩn về quy hoạch đô thị phải tích hợp hạ tầng cho giao thông xanh, bao gồm cả hệ thống trạm sạc điện, hạ tầng cần thiết cho các trạm sạc pin thay thế, hoàn thành trong Quý II năm 2026.

(ii) Khẩn trương nghiên cứu, sửa đổi và bổ sung các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nhà chung cư để hướng dẫn cụ thể về thiết kế trạm sạc tại nhà chung cư đảm bảo các yêu cầu an toàn, phòng chống cháy nổ, vị trí lắp đặt thuận tiện sử dụng và ứng phó sự cố, hoàn thành trước ngày 30 tháng 4 năm 2026.

(iii) Chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan tháo gỡ vướng mắc về thủ tục cấp phép xây dựng, cải tạo trạm sạc đối với các chung cư hiện hữu.

(iv) Khẩn trương tổ chức tổng kết, đánh giá kết quả thực hiện Quyết định số 876/QĐ-TTg ngày 22 tháng 7 năm 2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chương trình hành động về chuyển đổi năng lượng xanh, giảm phát thải khí các-bon và khí mê-tan của ngành giao thông vận tải để đề xuất bổ sung, sửa đổi có trọng tâm, trọng điểm nhằm sớm đạt được các mục tiêu chuyển đổi xanh trong giao thông.

Trong Quý III năm 2026 ban hành tiêu chuẩn hiệu suất năng lượng cho thiết bị sạc, trạm sạc

3- Bộ Công Thương

(i) Chủ trì khẩn trương xây dựng và ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn, tiêu chuẩn hiệu suất năng lượng cho thiết bị sạc, trạm sạc và hệ thống cung cấp điện cho trạm sạc, hoàn thành trong Quý III năm 2026.

(ii) Đẩy mạnh tuyên truyền và khuyến khích chuyển đổi sang phương tiện giao thông sử dụng điện và nhiên liệu sạch, khuyến khích sử dụng phương tiện giao thông công cộng.

4- Tập đoàn Điện lực Việt Nam

(i) Đẩy mạnh các chương trình quản lý nhu cầu điện và điều chỉnh phụ tải điện phục vụ việc lắp đặt các trạm sạc điện trong các khu đô thị, nhà chung cư.

(ii) Hướng dẫn đơn giản hóa thủ tục đấu nối, lắp đặt công tơ riêng cho các trạm sạc tại chung cư nhằm đảm bảo minh bạch trong sử dụng và thanh toán điện năng.

5- Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố căn cứ các quy định, quy chuẩn, tiêu chuẩn, hướng dẫn về trạm sạc được các cấp có thẩm quyền ban hành

(i) Khẩn trương, rà soát các quy hoạch, yêu cầu bố trí hạ tầng sạc điện cho hệ thống giao thông trong các khu đô thị và công trình xây dựng.

(ii) Yêu cầu các chủ đầu tư, Ban quản trị nhà chung cư phối hợp chặt chẽ với các đơn vị cung cấp hạ tầng sạc để bố trí vị trí lắp đặt khoa học, an toàn theo đúng các quy định pháp luật, quy chuẩn, tiêu chuẩn; hướng dẫn cư dân bố trí, sử dụng chỗ đỗ xe, trạm sạc, trạm đổi pin cho xe điện tại các khu dân cư, nhà chung cư đảm bảo an ninh trật tự, an toàn phòng, chống cháy và thuận tiện cho sinh hoạt của người dân.

6- Văn phòng Chính phủ theo chức năng, nhiệm vụ được giao, theo dõi, đôn đốc việc thực hiện Công điện này, kịp thời báo cáo Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ phụ trách những vấn đề đột xuất, phát sinh.

Sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định quy định việc quản lý, sử dụng và khai thác tài sản kết cấu hạ tầng giao thông 

Chính phủ ban hành Nghị định số 99/2026/NĐ-CP ngày 31/3/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định quy định việc quản lý, sử dụng và khai thác tài sản kết cấu hạ tầng giao thông.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 1/4/2026 (1)- Ảnh 2.

Quy định mới về quản lý, sử dụng và khai thác tài sản kết cấu hạ tầng giao thông.

Nghị định số 99/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của 4 Nghị định sau: Nghị định số 44/2024/NĐ-CP ngày 24 tháng 4 năm 2024 của Chính phủ quy định việc quản lý, sử dụng và khai thác tài sản kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ; Nghị định số 12/2025/NĐ-CP ngày 20 ngày 01 năm 2025 của Chính phủ quy định việc quản lý, sử dụng và khai thác tài sản kết cấu hạ tầng đường thủy nội địa; Nghị định số 15/2025/NĐ-CP ngày 03 ngày 02 năm 2025 của Chính phủ quy định việc quản lý, sử dụng và khai thác tài sản kết cấu hạ tầng đường sắt; Nghị định số 84/2025/NĐ-CP ngày 04 ngày 4 năm 2025 của Chính phủ quy định việc quản lý, sử dụng và khai thác tài sản kết cấu hạ tầng hàng hải.

Trong đó, Nghị định số 99/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung khoản 2, khoản 3 Điều 2 Nghị định số 44/2024/NĐ-CP ngày 24/4/2024 quy định về cơ quan quản lý đường bộ và cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập được giao quản lý tài sản kết cấu hạ tầng đường bộ.

Cơ quan quản lý đường bộ

Theo quy định mới, cơ quan quản lý đường bộ gồm:

Cơ quan quản lý đường bộ ở trung ương là tổ chức trực thuộc Bộ Xây dựng thực hiện chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Xây dựng thực hiện chức năng quản lý nhà nước về đường bộ.

Cơ quan quản lý đường bộ cấp tỉnh là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) thực hiện chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý nhà nước về đường bộ.

Cơ quan quản lý đường bộ cấp xã là Ủy ban nhân dân xã, phường, đặc khu (Ủy ban nhân dân cấp xã).

Cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập được giao quản lý tài sản kết cấu hạ tầng đường bộ

Cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập được giao quản lý tài sản kết cấu hạ tầng đường bộ (cơ quan, đơn vị quản lý tài sản) gồm:

Cơ quan, đơn vị quản lý tài sản ở trung ương là cơ quan quy định tại điểm a khoản 2 Điều này và đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Bộ Xây dựng.

Cơ quan, đơn vị quản lý tài sản cấp tỉnh là cơ quan quy định tại điểm b khoản 2 Điều này và đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

Cơ quan, đơn vị quản lý tài sản cấp xã là cơ quan chuyên môn về đường bộ cấp xã (cơ quan thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý nhà nước về đường bộ) và đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã.

Thẩm quyền quyết định giao quản lý tài sản kết cấu hạ tầng đường bộ

Đồng thời, Nghị định số 99/2026/NĐ-CP cũng sửa đổi quy định về thẩm quyền quyết định giao quản lý tài sản kết cấu hạ tầng đường bộ tại Điều 6 Nghị định số 44/2024/NĐ-CP như sau:

Bộ trưởng Bộ Xây dựng quyết định giao đối với tài sản kết cấu hạ tầng đường bộ thuộc trung ương quản lý cho cơ quan, đơn vị quản lý tài sản ở trung ương.

Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định hoặc phân cấp thẩm quyền quyết định giao đối với tài sản kết cấu hạ tầng đường bộ thuộc địa phương quản lý cho cơ quan, đơn vị quản lý tài sản ở địa phương.

Quy định về quản lý, sử dụng số tiền thu được từ khai thác tài sản kết cấu hạ tầng đường bộ

Quy định về quản lý, sử dụng số tiền thu được từ khai thác tài sản kết cấu hạ tầng đường bộ tại Điều 18 của Nghị định số 44/2024/NĐ-CP được sửa đổi như sau:

"1. Trường hợp cơ quan, đơn vị quản lý tài sản trực tiếp tổ chức khai thác tài sản kết cấu hạ tầng đường bộ theo quy định tại Điều 13 Nghị định này và các trường hợp quy định tại các điểm b, c và d khoản 4 Điều 12 Nghị định này:

a) Số tiền thu được từ khai thác tài sản kết cấu hạ tầng đường bộ là phí sử dụng đường bộ và các khoản phí khác theo quy định của pháp luật quy định tại điểm a, điểm d khoản 3 Điều 12 Nghị định này được quản lý, sử dụng theo quy định của pháp luật về phí, pháp luật về ngân sách nhà nước và pháp luật có liên quan.

b) Số tiền thu được từ khai thác tài sản kết cấu hạ tầng đường bộ là tiền thu từ cung cấp các dịch vụ quy định tại điểm b khoản 3 Điều 12 Nghị định này (bao gồm cả số tiền thu được quy định tại các điểm b, c và d khoản 4 Điều 12 Nghị định này) được quản lý, sử dụng theo cơ chế tài chính áp dụng đối với cơ quan, đơn vị quản lý tài sản theo quy định tại khoản 2 Điều 85 Luật Quản lý, sử dụng tài sản công, được sửa đổi, bổ sung tại khoản 7 Điều 8 Luật số 90/2025/QH15.

2. Trường hợp khai thác tài sản kết cấu hạ tầng đường bộ theo quy định tại các Điều 14, 15 và 16 Nghị định này:

a) Số tiền thu được từ chuyển nhượng quyền thu phí sử dụng tài sản, cho thuê quyền khai thác tài sản, chuyển nhượng có thời hạn quyền khai thác tài sản kết cấu hạ tầng đường bộ (bao gồm cả số tiền chậm nộp - nếu có), sau khi trừ đi chi phí có liên quan đến việc khai thác tài sản, phần còn lại được nộp toàn bộ vào ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước như sau:

Nộp ngân sách trung ương đối với các khoản thu từ khai thác tài sản thuộc trung ương quản lý;

Nộp ngân sách địa phương đối với các khoản thu từ khai thác tài sản thuộc địa phương quản lý.

b) Chi phí có liên quan đến việc khai thác tài sản gồm:

Chi phí phục vụ việc lập, trình, phê duyệt Đề án chuyển nhượng quyền thu phí sử dụng tài sản, cho thuê quyền khai thác tài sản, chuyển nhượng có thời hạn quyền khai thác tài sản; chi phí kiểm kê, xác định giá khởi điểm, tổ chức đấu giá chuyển nhượng quyền thu phí sử dụng tài sản, cho thuê quyền khai thác tài sản, chuyển nhượng có thời hạn quyền khai thác tài sản; chi phí bảo quản, bảo vệ tài sản trong thời gian tổ chức lựa chọn tổ chức, doanh nghiệp khai thác; chi phí phục vụ công tác quản lý của Bên chuyển nhượng quyền thu phí, Bên cho thuê quyền khai thác, Bên chuyển nhượng có thời hạn quyền khai thác tài sản trong thời gian thực hiện hợp đồng; các chi phí khác có liên quan.

c) Mức chi; trình tự, thủ tục thanh toán chi phí có liên quan đến việc khai thác tài sản kết cấu hạ tầng đường bộ được thực hiện theo quy định tại khoản 3, khoản 4 Điều 27 Nghị định này. Riêng chi phí phục vụ công tác quản lý trong thời gian thực hiện hợp đồng quy định tại điểm b khoản này được bố trí hằng năm vào dự toán chi thường xuyên ngân sách nhà nước của cơ quan, đơn vị quản lý tài sản.

d) Bên nhận chuyển nhượng quyền thu phí, Bên thuê quyền khai thác, Bên nhận chuyển nhượng có thời hạn quyền khai thác tài sản thực hiện thanh toán tiền theo quy định tại điểm g khoản 9 của các Điều 14, 15 và 16 Nghị định này cho cơ quan, đơn vị quản lý tài sản vào tài khoản riêng tại Kho bạc Nhà nước nơi cơ quan, đơn vị quản lý tài sản mở tài khoản.

Trong thời hạn 45 ngày, kể từ ngày hoàn thành việc thanh toán lần đầu theo quy định tại điểm g khoản 9 của các Điều 14, 15 và 16 Nghị định này, cơ quan, đơn vị quản lý tài sản thực hiện nộp số tiền còn lại đối với các khoản thu từ khai thác tài sản kết cấu hạ tầng đường bộ (sau khi trừ các khoản chi phí theo quy định tại điểm b, điểm c khoản này, không bao gồm chi phí phục vụ công tác quản lý được bố trí hàng năm vào dự toán chi thường xuyên ngân sách nhà nước của cơ quan, đơn vị quản lý tài sản) vào ngân sách nhà nước. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày hoàn thành việc thanh toán của các lần tiếp theo theo quy định tại điểm g khoản 9 của các Điều 14, 15 và 16 Nghị định này, cơ quan, đơn vị quản lý tài sản thực hiện nộp số tiền còn lại đối với các khoản thu từ khai thác tài sản kết cấu hạ tầng đường bộ (sau khi trừ các chi phí phát sinh (nếu có) theo quy định tại điểm b, điểm c khoản này) vào ngân sách nhà nước theo quy định tại điểm a khoản này.

đ) Người đứng đầu cơ quan, đơn vị quản lý tài sản chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác của các khoản chi phí có liên quan đến việc khai thác tài sản kết cấu hạ tầng đường bộ quy định tại điểm b, điểm c khoản này; việc nộp tiền vào ngân sách nhà nước quy định tại điểm d khoản này.".

Nghị định quy định về hoạt động đào tạo và sát hạch lái xe 

Chính phủ ban hành Nghị định số 94/2026/NĐ-CP ngày 31/3/2026 quy định về hoạt động đào tạo và sát hạch lái xe. Trong đó, đáng chú ý là các quy định về tiêu chuẩn và quy trình cấp giấy chứng nhận giáo viên dạy thực hành lái xe.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 1/4/2026 (1)- Ảnh 3.

Tiêu chuẩn và quy trình cấp giấy chứng nhận giáo viên dạy lái xe.

Nghị định này quy định chi tiết một số điều của Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ số 36/2024/QH15, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 Luật có liên quan đến an ninh, trật tự số 118/2025/QH15 về hoạt động đào tạo và sát hạch lái xe, gồm: hình thức đào tạo lái xe khác; điều kiện kinh doanh dịch vụ đào tạo lái xe ô tô của cơ sở đào tạo lái xe ô tô; tiêu chuẩn của giáo viên dạy lái xe; trình tự, thủ tục kiểm tra, đánh giá để cấp, cấp lại và thu hồi giấy chứng nhận giáo viên dạy thực hành lái xe; cấp, cấp lại và thu hồi giấy phép xe tập lái; cấp, cấp lại và thu hồi giấy phép đào tạo lái xe; điều kiện kinh doanh dịch vụ sát hạch lái xe của trung tâm sát hạch lái xe; trình tự, thủ tục kiểm tra, đánh giá để cấp, cấp lại và thu hồi giấy phép sát hạch; điều kiện sân tập lái để sát hạch lái xe mô tô; trình tự, thủ tục kiểm tra, đánh giá để cấp, cấp lại và thu hồi chấp thuận hoạt động của sân tập lái để sát hạch lái xe mô tô.

Tiêu chuẩn giáo viên dạy lái xe

Về tiêu chuẩn giáo viên dạy lái xe, Điều 10 của Nghị định quy định như sau:

1. Giáo viên dạy lý thuyết đáp ứng các tiêu chuẩn sau:

a) Có bằng tốt nghiệp trung cấp trở lên một trong các chuyên ngành luật, công nghệ ô tô, công nghệ kỹ thuật ô tô, lắp ráp ô tô hoặc các ngành nghề khác có nội dung đào tạo chuyên ngành pháp luật hoặc ô tô chiếm 30% trở lên;

b) Có một trong các văn bằng, chứng chỉ về trình độ nghiệp vụ sư phạm sau:

Bằng cử nhân thuộc ngành đào tạo giáo viên trở lên; Bằng tốt nghiệp cao đẳng sư phạm, cao đẳng sư phạm kỹ thuật.

Chứng chỉ sư phạm dạy nghề dạy trình độ sơ cấp nghề; Chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm dạy trình độ sơ cấp; Chứng chỉ bồi dưỡng sư phạm bậc 1 trở lên.

2. Giáo viên dạy thực hành lái xe đáp ứng các tiêu chuẩn sau:

a) Bằng tốt nghiệp trung cấp chuyên nghiệp hoặc trung cấp nghề hoặc bằng nghề trở lên;

b) Có giấy phép lái xe hạng tương ứng hoặc cao hơn hạng xe đào tạo;

c) Có một trong các văn bằng, chứng chỉ về trình độ nghiệp vụ sư phạm sau:

Bằng cử nhân thuộc ngành đào tạo giáo viên trở lên; Bằng tốt nghiệp cao đẳng sư phạm, cao đẳng sư phạm kỹ thuật.

Chứng chỉ sư phạm dạy nghề dạy trình độ sơ cấp nghề; Chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm dạy trình độ sơ cấp; Chứng chỉ bồi dưỡng sư phạm bậc 1 trở lên;

d) Đã qua tập huấn về nghiệp vụ dạy thực hành lái xe theo chương trình khung quy định tại Phụ lục II kèm theo Nghị định này.

Thủ tục cấp giấy chứng nhận giáo viên dạy thực hành lái xe

1. Hồ sơ cấp giấy chứng nhận giáo viên dạy thực hành lái xe bao gồm:

a) Đơn đề nghị theo mẫu quy định tại Phụ lục IV kèm theo Nghị định này;

b) Bằng tốt nghiệp trung cấp chuyên nghiệp hoặc trung cấp nghề trở lên (bản sao kèm bản chính để đối chiếu hoặc bản sao có chứng thực hoặc bản sao điện tử được chứng thực từ bản chính hoặc bản sao điện tử từ sổ gốc hoặc dữ liệu điện tử);

c) Văn bằng, chứng chỉ về trình độ nghiệp vụ sư phạm (bản sao kèm bản chính để đối chiếu hoặc bản sao có chứng thực hoặc bản sao điện tử được chứng thực từ bản chính hoặc bản sao điện tử từ sổ gốc hoặc dữ liệu điện tử);

d) 01 ảnh màu cỡ 3 cm x 4 cm nền màu xanh, kiểu thẻ căn cước, được chụp trong thời gian không quá 06 tháng.

Trường hợp giấy tờ quy định tại điểm b, điểm c khoản này đã được tích hợp vào tài khoản định danh điện tử thì việc xuất trình, kiểm tra có thể thực hiện thông qua tài khoản định danh điện tử.

2. Trình tự thực hiện

a) Tập huấn về nghiệp vụ giáo viên dạy thực hành lái xe

Cá nhân có nhu cầu cấp giấy chứng nhận giáo viên dạy thực hành lái xe lần đầu đăng ký với cơ sở đào tạo lái xe.

Cơ sở đào tạo lái xe tổ chức tập huấn theo chương trình tập huấn về nghiệp vụ giáo viên dạy thực hành lái xe theo quy định tại Phụ lục II kèm theo Nghị định này và bảo đảm tiêu chuẩn, thành phần hồ sơ đối với người tham dự tập huấn theo quy định tại khoản 2 Điều 10 và khoản 1 nêu trên;

b) Kiểm tra, đánh giá cấp giấy chứng nhận giáo viên dạy thực hành lái xe

Trong thời hạn không quá 02 ngày làm việc kể từ ngày kết thúc chương trình tập huấn, cơ sở đào tạo có văn bản đề nghị kiểm tra cấp giấy chứng nhận giáo viên dạy thực hành lái xe theo mẫu quy định tại Phụ lục V kèm theo Nghị định này và hồ sơ của cá nhân tham dự tập huấn quy định tại khoản 1 nêu trên gửi Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp tỉnh, cấp xã bằng hình thức trực tiếp hoặc qua dịch vụ bưu chính hoặc qua cổng dịch vụ công quốc gia.

Cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận giáo viên dạy thực hành lái xe tiếp nhận danh sách do cơ sở đào tạo lập và hồ sơ cá nhân; trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ, chính xác, trong thời hạn không quá 02 ngày làm việc (kể cả thời gian xác thực điện tử thông tin về giấy phép lái xe) phải có văn bản nêu rõ nội dung, lý do đề nghị cơ sở đào tạo lái xe bổ sung đầy đủ, chính xác; trường hợp hồ sơ đầy đủ, chính xác, trong thời hạn không quá 03 ngày làm việc (kể cả thời gian xác thực điện tử thông tin về giấy phép lái xe), phải tổ chức kiểm tra, đánh giá theo quy trình quy định tại Phụ lục II kèm theo Nghị định này.

Trường hợp cá nhân không đạt kết quả kiểm tra, cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận giáo viên dạy thực hành lái xe phải đăng tải kết quả trên Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính cấp tỉnh, cấp xã.

Trường hợp cá nhân đạt kết quả kiểm tra, trong thời hạn không quá 02 ngày làm việc, cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận giáo viên dạy thực hành lái xe cấp giấy chứng nhận giáo viên dạy thực hành lái xe và vào sổ theo dõi theo mẫu quy định tại Phụ lục VI kèm theo Nghị định này.

Kết quả giải quyết thủ tục hành chính được trả bằng bản điện tử có giá trị như bản giấy bằng một trong các hình thức: qua VNeiD, Cổng Dịch vụ công quốc gia, Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính cấp tỉnh, cấp xã; trường hợp cá nhân có nhu cầu nhận bản giấy thì được cấp bổ sung.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026; bãi bỏ Nghị định số 160/2024/NĐ-CP ngày 18/12/2024 của Chính phủ quy định về hoạt động đào tạo và sát hạch lái xe.

Quy định chuyển tiếp

Giấy chứng nhận giáo viên dạy thực hành lái xe, giấy phép xe tập lái, giấy phép đào tạo lái xe ô tô do cơ quan có thẩm quyền cấp trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành, tiếp tục còn giá trị sử dụng theo thời hạn của giấy phép với các hạng xe đào tạo tương ứng quy định tại khoản 3 Điều 89 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ số 36/2024/QH15.

Trường hợp cấp lại, cấp mới (chuyển đổi hạng đào tạo) giấy chứng nhận giáo viên dạy thực hành lái xe cho người có giấy phép lái xe cấp trước ngày Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ số 36/2024/QH15 có hiệu lực, thì chuyển đổi sang hạng đào tạo tương ứng theo quy định tại khoản 3 Điều 89 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ số 36/2024/QH15 và phù hợp với hạng Giấy phép lái xe hiện đang sử dụng.

Người có bằng Trung cấp sư phạm cấp trước ngày Luật Giáo dục số 123/2025/QH15 có hiệu lực thi hành được công nhận đáp ứng yêu cầu văn bằng về trình độ sư phạm quy định tại điểm b khoản 1 và điểm c khoản 2 Điều 10 Nghị định này.

Hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận giáo viên dạy thực hành lái xe, giấy phép xe tập lái, giấy phép đào tạo lái xe ô tô, giấy phép sát hạch, chấp thuận hoạt động của sân tập lái để sát hạch lái xe mô tô đã nộp tại cơ quan có thẩm quyền trước ngày Nghị định này có hiệu lực thì thực hiện theo quy định tại Nghị định số 160/2024/NĐ-CP ngày 18/12/2024 của Chính phủ quy định về hoạt động đào tạo và sát hạch lái xe, hạng xe được phép đào tạo và sát hạch tương ứng quy định tại khoản 3 Điều 89 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ.

Triển khai Nghị quyết số 256/2025/QH15 ngày 11/12/2025 của Quốc hội về chủ trương đầu tư Dự án đầu tư xây dựng Cảng hàng không quốc tế Gia Bình 

Chính phủ ban hành Nghị quyết số 71/NQ-CP ngày 31/3/2026 triển khai Nghị quyết số 256/2025/QH15 ngày 11/12/2025 của Quốc hội về chủ trương đầu tư Dự án đầu tư xây dựng Cảng hàng không quốc tế Gia Bình.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 1/4/2026 (1)- Ảnh 4.

Tập trung nguồn lực, bảo đảm tiến độ, chất lượng Dự án Cảng hàng không quốc tế Gia Bình.

Chính phủ quyết nghị việc triển khai Dự án đầu tư xây dựng Cảng hàng không quốc tế Gia Bình (sau đây gọi tắt là Dự án) được Quốc hội khóa XV quyết định chủ trương đầu tư tại Nghị quyết số 256/2025/QH15 ngày 11/12/2025, phải bảo đảm tuân thủ quy định của pháp luật, tiến độ, hiệu quả, chất lượng công trình, cụ thể như sau:

Tổ chức đầu tư xây dựng Cảng hàng không quốc tế Gia Bình theo đúng mục tiêu, quy mô, địa điểm, tiến độ đã được Quốc hội chấp thuận; bảo đảm tuân thủ Hiến pháp, pháp luật và các cơ chế, chính sách đặc thù đã được cấp có thẩm quyền quyết định.

Xây dựng Cảng hàng không Gia Bình đẳng cấp quốc tế, đạt tiêu chuẩn 5 sao

Quá trình triển khai Dự án phải bảo đảm xây dựng Cảng hàng không quốc tế Gia Bình theo các chuẩn mực quốc tế, trở thành cảng hàng không thông minh, xanh, bền vững, thế hệ mới đẳng cấp quốc tế, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, phục vụ khai thác lưỡng dụng, bảo đảm hoạt động an ninh quốc phòng và các sự kiện đối ngoại quan trọng, trong đó có Hội nghị cấp cao APEC năm 2027; đạt tiêu chuẩn dịch vụ cảng hàng không quốc tế 5 sao, thuộc nhóm 10 cảng hàng không 5 sao hàng đầu thế giới theo tiêu chí của Skytrax và nằm trong nhóm sân bay có trải nghiệm hành khách xuất sắc theo đánh giá của Hội đồng Cảng hàng không Quốc tế; hướng tới là cửa ngõ hàng không của miền Bắc, là cảng hàng không trung chuyển hành khách, hàng hóa và cơ sở bảo dưỡng, sửa chữa, đại tu máy bay của khu vực Châu Á - Thái Bình Dương.

Việc tổ chức thực hiện Dự án phải bảo đảm đồng bộ, hiệu quả theo từng giai đoạn đầu tư; ưu tiên hoàn thành các hạng mục phục vụ giai đoạn 1 để đáp ứng yêu cầu khai thác theo công suất đã được phê duyệt; đồng thời có lộ trình đầu tư phù hợp để đạt quy mô khai thác theo định hướng đến năm 2050.

Bảo đảm thu hồi đất, bố trí vốn công khai, minh bạch, hài hòa lợi ích giữa các bên

Việc thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất, bố trí vốn và huy động các nguồn lực thực hiện Dự án phải thực hiện theo đúng quy định của pháp luật, bảo đảm công khai, minh bạch, hài hòa lợi ích của Nhà nước, nhà đầu tư và người dân; gắn với yêu cầu bảo vệ môi trường, sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả.

Việc phân công nhiệm vụ và tổ chức thực hiện Dự án phải bảo đảm phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan, tổ chức có liên quan; xác định rõ trách nhiệm của cơ quan nhà nước, nhà đầu tư và các chủ thể tham gia; tăng cường phối hợp, kịp thời xử lý các khó khăn, vướng mắc phát sinh, không làm ảnh hưởng đến tiến độ và mục tiêu chung của Dự án.

Bộ trưởng các Bộ: Công an, Xây dựng, Tài chính, Nông nghiệp và Môi trường, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh và người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền chủ động căn cứ cơ chế, chính sách đặc thù đối với các dự án tại Cảng hàng không quốc tế Gia Bình quy định tại Nghị quyết số 03/2025/NQ-CP ngày 14/8/2025 của Chính phủ về cơ chế, chính sách đặc thù đầu tư xây dựng Cảng hàng không quốc tế Gia Bình và quy định của pháp luật để tổ chức triển khai Dự án đầu tư xây dựng Cảng hàng không quốc tế Gia Bình và các dự án, công trình có liên quan thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị quyết số 03/2025/NQ-CP, bảo đảm tiến độ, hiệu quả, chất lượng công trình, dự án.

Đối với Dự án đầu tư xây dựng các công trình bảo đảm hoạt động bay của Cảng hàng không quốc tế Gia Bình thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị quyết số 03/2025/NQ-CP được thực hiện theo phương thức đối tác công tư (PPP), loại hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao (BT) theo hình thức không yêu cầu thanh toán.

Theo đó, Bộ Xây dựng là cơ quan có thẩm quyền của dự án; tiếp nhận toàn bộ hồ sơ, kết quả chuẩn bị, thực hiện từ Bộ Công an và các cơ quan, đơn vị liên quan để triển khai các bước tiếp theo; hoàn thành phê duyệt dự án đầu tư và ký hợp đồng với nhà đầu tư trong thời hạn 30 ngày sau khi Nghị quyết này có hiệu lực (31/3/2026), đáp ứng yêu cầu hoàn thành các công trình bảo đảm hoạt động bay đồng bộ với tiến độ hoàn thành Dự án.

Kết luận của Thường trực Chính phủ tại cuộc họp về tình hình thực hiện một số dự án đường sắt 

Văn phòng Chính phủ có Thông báo số 163/TB-VPCP ngày 01/4/2026 kết luận của Thường trực Chính phủ tại cuộc họp về tình hình thực hiện Dự án đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng, các tuyến đường sắt đô thị Thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 1/4/2026 (1)- Ảnh 5.

Xử lý vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ và nâng cao chất lượng các dự án đường sắt.

Tại cuộc họp Thường trực Chính phủ về tình hình thực hiện Dự án đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng, các tuyến đường sắt đô thị Thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, sau khi nghe báo cáo, ý kiến thảo luận các bộ, ngành, địa phương, ý kiến phát biểu của các đồng chí Phó Thủ tướng Chính phủ, Thường trực Chính phủ kết luận như sau:

Theo báo cáo của Bộ Xây dựng, từ phiên họp Ban chỉ đạo lần thứ bảy (ngày 03/3/2026), các bộ, cơ quan, địa phương đã, đang rất tích cực, nỗ lực triển khai các nhiệm vụ được giao, nhìn chung công tác phối hợp đã hiệu quả hơn.

Tuy nhiên, các dự án đường sắt đều có quy mô rất lớn, phức tạp, do vậy yêu cầu các bộ, ngành, địa phương cần tiếp tục tập trung, chủ động hơn nữa, tích cực xử lý vướng mắc, vận dụng linh hoạt hơn khi giải quyết các vướng mắc phát sinh trong quá trình triển khai các dự án để đẩy nhanh tiến độ và nâng cao chất lượng.

Bổ sung tiêu chuẩn, quy chuẩn các loại đường sắt bảo đảm đồng bộ, thống nhất trước ngày 10/4/2026

Thường trực Chính phủ yêu cầu Bộ Xây dựng, Bộ Khoa học và Công nghệ và các cơ quan liên quan khẩn trương rà soát, bổ sung tiêu chuẩn, quy chuẩn, tiêu chí cho các loại đường sắt để bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất chung cho cả nước, đáp ứng phát triển công nghiệp đường sắt và hiệu quả đầu tư, khai thác đường sắt trên phạm vi cả nước (hoàn thành trước ngày 10/4/2026).

Việc triển khai các dự án phải kịp thời, đúng tiến độ nhưng phải đúng quy trình, thủ tục, quy định, đảm bảo nâng cao chất lượng các công trình, dự án và kiên quyết chống tiêu cực, tham nhũng, lợi ích nhóm.

Đồng thời, tiếp tục rà soát hoàn thiện thủ tục đầu tư theo đúng quy định, chặt chẽ và việc bố trí vốn phải kịp thời, đáp ứng yêu cầu về tiến độ, hiệu quả đầu tư.

Các địa phương tập trung chỉ đạo công tác giải phóng mặt bằng, tái định cư; lưu ý đảm bảo cho nhân dân có nơi ở mới tốt hơn nơi ở cũ (đầy đủ hệ thống hạ tầng kỹ thuật, điện, đường, trường, y tế, văn hóa thể thao; sáng, xanh, sạch đẹp hơn; bảo đảm công ăn việc làm, sinh kế tốt hơn cho người dân) để tạo sự đồng thuận của nhân dân.

Bộ Xây dựng, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Tổng công ty đường sắt Việt Nam khẩn trương tính toán, xác định rõ nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực (kỹ sư, thạc sỹ, công nhân, lái tàu…), có lộ trình, kế hoạch đào tạo cụ thể; Bộ Xây dựng, Bộ Giáo dục và Đào tạo khẩn trương hướng dẫn, quyết định theo thẩm quyền và quy định đối với kiến nghị của Tổng công ty đường sắt Việt Nam về việc giao nhiệm vụ/đặt hàng đào tạo nhân lực phục vụ các dự án đường sắt của Tổng công ty đường sắt Việt Nam theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Thông báo số 98/TB-VPCP ngày 05/3/2026.

Huy động đa dạng, tối ưu hóa các nguồn vốn bảo đảm hiệu quả đầu tư

Đồng thời, phải huy động đa dạng các nguồn vốn cho các dự án đường sắt (nguồn vốn ngân sách nhà nước, tư nhân, hợp tác công tư, vay vốn ODA, phát hành trái phiếu,…); tối ưu hóa nguồn vốn cho từng tuyến, dự án, bảo đảm hiệu quả đầu tư từng dự án và tổng thể của hệ thống đường sắt.

Vận dụng kịp thời, sáng tạo các quy trình, công nghệ thi công, quản lý, vận hành tiên tiến của thế giới; tiếp cận quy trình công nghệ mới nhằm nâng cao chất lượng, tiến độ; các doanh nghiệp trong nước chủ động để từng bước tiếp nhận và làm chủ quy trình công nghệ về bảo trì, bảo dưỡng, sửa chữa, vận hành khai thác…

Về dự án đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc – Nam, Thường trực Chính phủ yêu cầu bám sát chỉ đạo của Trung ương, Bộ Chính trị, Bộ Xây dựng khẩn trương có báo cáo đầy đủ và thể hiện rõ chính kiến lựa chọn công nghệ, đối tác cung cấp, chuyển giao công nghệ của Dự án; báo cáo Ban Thường vụ Đảng ủy Chính phủ.

Các địa phương tiếp tục triển khai công tác giải phóng mặt bằng, bồi thường, tái định cư bảo đảm tiến độ theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Thông báo số 98/TB-VPCP ngày 05/3/2026.

Tổ chức nghiên cứu, triển khai đầu tư tuyến nhánh ga Nam Hải Phòng nối ga Nam Đồ Sơn

Về dự án đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng, Thường trực Chính phủ yêu cầu Bộ Xây dựng chỉ đạo Ban Quản lý dự án, Tư vấn khẩn trương hoàn thiện báo cáo nghiên cứu khả thi đầu kỳ, bàn giao mốc giải phóng mặt bằng các đoạn tuyến ổn định cho các địa phương.

Thành phố Hải Phòng chủ động huy động nguồn lực, phối hợp với Bộ Xây dựng tổ chức nghiên cứu, triển khai đầu tư tuyến nhánh ga Nam Hải Phòng nối ga Nam Đồ Sơn bảo đảm khai thác đồng bộ dự án tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng, hiệu quả, chống lãng phí tiêu cực trong quá trình triển khai.

Bộ Xây dựng, Bộ Ngoại giao, Bộ Tài chính chủ động trao đổi, làm việc với các cơ quan liên quan của phía Trung Quốc để thúc đẩy triển khai Dự án; tiếp tục phát huy vai trò của Ủy ban Liên hợp hợp tác đường sắt Việt - Trung; khẩn trương đàm phán cấp kỹ thuật để tiến tới đàm phán ký Hiệp định nối ray, xây dựng cầu đường sắt qua biên giới.

Các địa phương và Tập đoàn Điện lực Việt Nam chủ động, tích cực triển khai công tác GPMB và di dời công trình điện có điện áp từ 110 kV trở lên theo các cơ chế đã được Quốc hội chấp thuận.

Hoàn thành các thủ tục theo quy định để khởi công tuyến đường sắt kết nối với Cảng hàng không quốc tế Long Thành

Về tuyến đường sắt Hà Nội - Đồng Đăng; Móng Cái - Quảng Ninh - Hải Phòng, Thường trực Chính phủ yêu cầu Bộ Xây dựng tiếp tục chủ trì phối hợp với Bộ Ngoại giao làm việc với phía Trung Quốc để ký kết Thỏa thuận hỗ trợ kỹ thuật; chỉ đạo Tư vấn khẩn trương hoàn thiện báo cáo đầu kỳ trong tháng 4/2026, làm cơ sở triển khai các bước tiếp theo, bảo đảm hoàn thành quy hoạch trong năm 2026; đồng thời triển khai các thủ tục để lập báo cáo nghiên cứu tiền khả thi các dự án.

Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh, Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng khẩn trương hoàn thiện các thủ tục theo hướng dẫn của Bộ Xây dựng để giao Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh làm cơ quan chủ quản thực hiện dự án Móng Cái - Quảng Ninh - Hải Phòng theo quy định của pháp luật.

Đối với các dự án đường sắt đô thị tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, Thường trực Chính phủ giao UBND thành phố Hà Nội và UBND Thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục chủ động tổ chức triển khai các tuyến đường sắt đô thị tại hai thành phố theo thẩm quyền bảo đảm tiến độ, chất lượng. Trong đó, UBND Thành phố Hồ Chí Minh đẩy nhanh tiến độ hoàn thành các thủ tục theo quy định để khởi công tuyến đường sắt kết nối với Cảng hàng không quốc tế Long Thành (tuyến Bến Thành - Tham Lương, tuyến Bến Thành - Thủ Thiêm, tuyến Thủ Thiêm - Long Thành,…).

Hai thành phố chủ động phối hợp với Bộ Xây dựng chủ trì cùng Bộ Khoa học và Công nghệ xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn quốc gia, thống nhất trong phạm vi cả nước để kết nối liên thông hệ thống đường sắt (hoàn thành trước ngày 10/4/2026).

Bộ Tài chính khẩn trương hỗ trợ làm việc với JICA, hướng dẫn, xem xét kiến nghị của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội về phương án vốn cho tuyến đường sắt Nam Thăng Long - Trần Hưng Đạo.

Khẩn trương hoàn thiện hồ sơ Đề án tái cơ cấu Tổng công ty đường sắt Việt Nam

Bộ Tài chính khẩn trương hoàn thiện hồ sơ Đề án tái cơ cấu Tổng công ty đường sắt Việt Nam trình Phó Thủ tướng Hồ Đức Phớc quyết định; trình Thủ tướng Chính phủ về kiến nghị của Tổng công ty đường sắt Việt Nam giao làm cơ quan chủ quản thực hiện Dự án Tổ hợp công nghiệp đường sắt.

Bộ Công Thương khẩn trương thực hiện ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Bùi Thanh Sơn, hoàn thiện Đề án phát triển công nghiệp đường sắt, trình Thủ tướng Chính phủ (lưu ý việc ban hành cơ chế, chính sách phải tuân thủ đúng quy trình, thủ tục, thẩm quyền).

Thường trực Chính phủ giao Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Hồng Hà và Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Đức Phớc theo phân công tiếp tục sát sao chỉ đạo, đôn đốc các bộ, ngành, địa phương triển khai quyết liệt, hiệu quả các nhiệm vụ được giao, kịp thời tháo gỡ mọi khó khăn, vướng mắc theo thẩm quyền, vượt thẩm quyền báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

Bộ Xây dựng có trách nhiệm theo dõi, đôn đốc, tổng hợp tình hình triển khai, định kỳ trước ngày 25 hằng tháng báo cáo Thủ tướng Chính phủ kết quả thực hiện.

Bãi bỏ toàn bộ các Nghị định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của 5 cơ quan thuộc Chính phủ 

Ngày 31/3/2026, Chính phủ ban hành 2 Nghị quyết bãi bỏ toàn bộ các Nghị định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của 5 cơ quan thuộc Chính phủ.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 1/4/2026 (1)- Ảnh 6.

Bãi bỏ các Nghị định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của 5 cơ quan thuộc Chính phủ.

Cụ thể, tại Nghị quyết số 73/NQ-CP, Chính phủ quyết nghị bãi bỏ toàn bộ 3 nghị định sau: Nghị định số 27/2025/NĐ-CP ngày 24/02/2025 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Thông tấn xã Việt Nam; Nghị định số 46/2025/NĐ-CP ngày 28/02/2025 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Đài Tiếng nói Việt Nam; Nghị định số 47/2025/NĐ-CP ngày 28/02/2025 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Đài Truyền hình Việt Nam.

Tại Nghị quyết số 74/NQ-CP, Chính phủ quyết nghị bãi bỏ toàn bộ Nghị định số 32/2025/NĐ-CP ngày 25/02/2025 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam và Nghị định số 38/2025/NĐ-CP ngày 26/02/2025 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.

Hai Nghị quyết nêu trên có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/4/2026./.