Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Đức Phớc vừa ký Công điện số 28/CĐ-TTg ngày 01/4/2026 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường công tác quản lý, điều hành và bình ổn giá.

Tăng cường công tác quản lý, điều hành và bình ổn giá.
Công điện gửi: Ban Chỉ đạo điều hành giá của Thủ tướng Chính phủ; Bộ trưởng các Bộ, cơ quan ngang Bộ; Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
Công điện nêu rõ: Trong những tháng đầu năm 2026, công tác quản lý, điều hành giá đã được triển khai đồng bộ theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng - Trưởng Ban Chỉ đạo điều hành giá, theo đó các bộ, ngành, địa phương tổ chức triển khai quyết liệt nhiều giải pháp để góp phần kiểm soát lạm phát mục tiêu năm 2026.
Tuy nhiên, trong những ngày vừa qua tình hình thế giới và khu vực đang diễn biến phức tạp, khó lường do ảnh hưởng xung đột tại Trung Đông gây ra biến động giá năng lượng, đặc biệt là giá dầu, chi phí logistics và vận tải biển gia tăng; dẫn đến nguy cơ chậm trễ, đứt gãy chuỗi cung ứng, vận chuyển hàng hóa quốc tế.
Trước tình hình đó, Chính phủ đã chỉ đạo Bộ Công Thương và Bộ Tài chính triển khai các biện pháp điều hành kịp thời để bình ổn giá mặt hàng xăng dầu trong nước như giảm thuế nhập khẩu, chi sử dụng quỹ bình ổn xăng dầu.
Trước biến động phức tạp của địa chính trị và giá xăng dầu thế giới, để chủ động ứng phó với những thách thức trong công tác điều hành giá, bình ổn giá các hàng hóa, dịch vụ thiết yếu có tác động đến chỉ số giá tiêu dùng và ảnh hưởng đến đời sống người dân, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ trưởng các Bộ, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương triển khai quyết liệt các giải pháp đề ra tại Công điện này và các ý kiến chỉ đạo về công tác quản lý, điều hành giá của Thủ tướng Chính phủ, Trưởng Ban Chỉ đạo điều hành giá.
Đồng thời, trong phạm vi, lĩnh vực, thẩm quyền quản lý tăng cường triển khai theo dõi sát diễn biến thị trường, kịp thời thực hiện các giải pháp đảm bảo cân đối cung cầu trong nước, ổn định giá cả, không để xảy ra tình trạng thiếu hàng, găm hàng, đầu cơ, tăng giá bất hợp lý, chủ động kiểm tra yếu tố hình thành giá theo quy định tại Luật giá và theo thẩm quyền khi hàng hóa có biến động bất thường, tăng cường kiểm tra chấp hành pháp luật về giá và pháp luật có liên quan để xử lý các hành vi vi phạm theo quy định nhằm kiểm soát lạm phát theo mục tiêu đề ra, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng; trong đó, tập trung một số nhiệm vụ như sau:
1. Đối với mặt hàng xăng dầu:
Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với các Bộ theo chức năng nhiệm vụ triển khai, thực hiện hiệu quả, kịp thời các chỉ đạo, giải pháp tại các Nghị quyết của Chính phủ, ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Công điện số 22/CĐ-TTg ngày 11/3/2026 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường các giải pháp bảo đảm cung ứng xăng dầu cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng của người dân, doanh nghiệp.
Khuyến khích doanh nghiệp tiết kiệm chi phí sản xuất kinh doanh, hạ giá thành sản phẩm hỗ trợ người dân
2. Đối với dịch vụ vận tải, dịch vụ tại cảng biển:
Bộ Xây dựng, Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tăng cường công tác tiếp nhận kê khai giá và theo dõi biến động giá các mặt hàng, khuyến khích doanh nghiệp tiết kiệm chi phí sản xuất kinh doanh, hạ giá thành sản phẩm, dịch vụ để hỗ trợ người dân và giảm chi phí đầu vào của sản xuất. Tăng cường kiểm tra việc chấp hành các biện pháp niêm yết giá, kê khai giá, thu tiền dịch vụ đúng giá niêm yết của các doanh nghiệp, xử lý nghiêm các hành vi lợi dụng tăng giá bất hợp lý, kết cấu đưa thêm những khoản thu ngoài giá để thu cao hơn mức giá kê khai, niêm yết.
3. Đối với các hàng hóa, dịch vụ thiết yếu khác có tác động đến chỉ số giá tiêu dùng và ảnh hưởng đến đời sống người dân, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp:
a) Đối với lương thực, thực phẩm:
- Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Công Thương theo chức năng, nhiệm vụ được giao đánh giá kỹ tình hình sản xuất, điều hòa cung cầu các mặt hàng phục vụ nhu cầu trong nước (đặc biệt là mặt hàng nông sản thiết yếu) giữa các vùng, địa phương và nhu cầu xuất khẩu để ổn định giá cả thị trường, không để xảy ra tình trạng đầu cơ, găm hàng, tăng giá bất hợp lý.
- Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành khẩn trương thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Công điện số 21/CĐ-TTg ngày 11/3/2026 của Thủ tướng Chính phủ về việc điều hành sản xuất và tiêu thụ lúa gạo trong tình hình mới để góp phần bình ổn thị trường lúa gạo.
b) Đối với mặt hàng thịt lợn:
- Bộ Nông nghiệp và Môi trường chỉ đạo, hướng dẫn địa phương, các lực lượng chức năng, các tổ chức và cá nhân sản xuất chăn nuôi lợn tiếp tục tập trung thúc đẩy sản xuất, chăn nuôi, tái đàn, chế biến, điều hòa và đảm bảo nguồn cung để ổn định giá thịt lợn; thực hiện tốt công tác phòng, chống dịch.
- Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường và Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tăng cường kiểm tra, rà soát, đánh giá hệ thống kênh phân phối, cung ứng, lò mổ và đầu mối bán buôn, bán lẻ đối với mặt hàng thịt lợn để có giải pháp giảm thiểu khâu trung gian góp phần giảm chi phí lưu thông, giảm giá bán; tiến tới hoàn thiện hệ thống phân phối, bán buôn, bán lẻ tinh gọn, hiệu quả, có chi phí lưu thông hợp lý trong cơ cấu giá bán.
c) Đối với thức ăn chăn nuôi và phân bón:
- Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan thường xuyên đánh giá tình hình cung - cầu để tham mưu, kiến nghị kịp thời về việc nhập khẩu nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi, nhập khẩu phân bón đảm bảo đáp ứng nhu cầu trong nước.
- Bộ Công Thương đẩy mạnh hoạt động xúc tiến, khảo sát thị trường và kết nối cung cầu để giúp các doanh nghiệp trong nước chủ động mở rộng tìm kiếm nguồn hàng nhập khẩu nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi, phân bón.
- Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương theo thẩm quyền đẩy mạnh công tác kiểm tra giám sát việc kê khai, niêm yết giá và công khai thông tin về giá các mặt hàng thức ăn chăn nuôi, phân bón; chỉ đạo đơn vị chức năng tăng cường công tác kiểm tra, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật.
d) Đối với vật liệu xây dựng:
Bộ Xây dựng chủ trì, phối hợp với Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương triển khai hiệu quả chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại văn bản số 948/VPCP-CN ngày 29/01/2026 của Văn phòng Chính phủ về việc tăng cường các giải pháp quản lý, bình ổn giá vật liệu xây dựng; quản lý hiệu quả nguồn cung và Công điện số 25/CĐ-TTg ngày 21/3/2026 về việc tăng cường các giải pháp quản lý, bình ổn giá nhiên liệu, nguyên liệu, vật liệu xây dựng; tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng, thi công các công trình, dự án quan trọng quốc gia, trọng điểm ngành Giao thông vận tải; xử lý kịp thời các trường hợp găm hàng, giữ hàng, làm đứt gãy chuỗi cung ứng, đẩy giá tăng cao bất hợp lý ảnh hưởng đến tiến độ xây dựng các công trình, dự án đầu tư, nhất là các dự án trọng điểm quốc gia; tiếp tục chỉ đạo các Sở Xây dựng triển khai hiệu quả đồng bộ các giải pháp nâng cao chất lượng công bố giá vật liệu xây dựng.
đ) Đối với các dịch vụ lưu trú, du lịch:
Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo, tổ chức thường xuyên công tác rà soát kê khai giá, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về giá, niêm yết giá theo đúng quy định; xử lý nghiêm các hành vi lợi dụng các dịp cao điểm, diễn biến giá xăng dầu để tăng giá bất hợp lý.
e) Đối với thuốc, vật tư y tế:
Bộ Y tế phối hợp Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chỉ đạo, tăng cường theo dõi diễn biến giá thuốc, thiết bị y tế kê khai giá theo quy định của pháp luật về dược và pháp luật về giá; đảm bảo cung ứng đủ thuốc và vật tư y tế với giá hợp lý phục vụ nhu cầu khám bệnh, chữa bệnh và phòng chống dịch bệnh.
4. Đối với các hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục nhà nước định giá, Bộ trưởng các Bộ, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo rà soát đối với những hàng hóa, dịch vụ có đề xuất điều chỉnh giá trong thời gian tới và cần tính toán chuẩn bị kỹ phương án, đánh giá tác động đến mặt bằng giá, mục tiêu kiểm soát lạm phát trong bối cảnh diễn ra xung đột tại Trung Đông để trình cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định mức độ và thời điểm điều chỉnh giá phù hợp nhằm đảm bảo mục tiêu kiểm soát lạm phát.
5. Ngân hàng nhà nước Việt Nam điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt phối hợp với chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác để kiểm soát lạm phát theo mục tiêu đề ra, có chính sách quản lý thị trường ngoại hối phù hợp để ổn định giá trị đồng tiền, đảm bảo nhu cầu ngoại tệ hợp pháp trong nước; thực hiện chính sách điều hành lãi suất, điều hành tín dụng hợp lý, kiểm tra, xử lý nghiêm trường hợp găm giữ, thao túng thị trường ngoại tệ,...
6. Bộ Ngoại giao phối hợp với các Bộ, ngành tiếp tục theo dõi sát tình hình kinh tế, lạm phát và các chính sách ứng phó của các nước đối với diễn biến giá cả các mặt hàng nhiên liệu, vật tư chiến lược để kịp thời cung cấp thông tin cho các cơ quan chuyên môn.
7. Bộ Tài chính thường xuyên theo sát tình hình chung, tham mưu chính sách, kịch bản điều hành giá phù hợp, linh hoạt, nhất là đối với những hàng hóa, dịch vụ thiết yếu có tác động lớn tới mặt bằng giá và phối hợp với các Bộ đánh giá tác động của xung đột tại Trung Đông tới giá cả các hàng hóa, dịch vụ để cập nhật kịch bản lạm phát; đôn đốc, tổng hợp báo cáo tình hình công tác quản lý, điều hành giá của các Bộ, địa phương theo quy định để kịp thời báo cáo Thủ tướng Chính phủ, Trưởng Ban Chỉ đạo điều hành giá các biện pháp quản lý, điều hành giá nhằm kiểm soát lạm phát mục tiêu.
8. Các Bộ, cơ quan, địa phương theo chức năng, nhiệm vụ được giao tiếp tục đẩy mạnh triển khai công tác tổng hợp, phân tích, dự báo giá thị trường đối với các hàng hóa, dịch vụ thuộc thẩm quyền quản lý và đề xuất giải pháp quản lý, bình ổn giá; thực hiện nghiêm túc chế độ báo cáo công tác quản lý, điều hành giá, báo cáo giá thị trường gửi Bộ Tài chính, Ban Chỉ đạo điều hành giá, theo quy định; phối hợp chặt chẽ với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, các cơ quan truyền thông, báo chí tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền, công khai minh bạch, trung thực thông tin về giá để kiểm soát lạm phát kỳ vọng; xử lý nghiêm, quyết liệt theo pháp luật các trường hợp tung tin thất thiệt gây hoang mang cho người tiêu dùng, gây bất ổn thị trường để kiểm soát lạm phát kỳ vọng.
9. Văn phòng Chính phủ theo dõi, đôn đốc theo chức năng, nhiệm vụ được giao; báo cáo cấp có thẩm quyền các vấn đề vượt thẩm quyền theo quy định.
Chính phủ ban hành Nghị định số 96/2026/NĐ-CP ngày 31/3/2026 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư.

Nghị định số 96/2026/NĐ-CP ngày 31/3/2026 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư.
Nghị định số 96/2026/NĐ-CP quy định về bảo đảm ưu đãi đầu tư trong trường hợp thay đổi pháp luật như sau:
1- Trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật được ban hành có quy định làm thay đổi ưu đãi đầu tư đang áp dụng đối với nhà đầu tư trước thời điểm văn bản đó có hiệu lực, nhà đầu tư được bảo đảm thực hiện ưu đãi đầu tư theo quy định tại Điều 12 của Luật Đầu tư.
2- Ưu đãi đầu tư được bảo đảm theo quy định trên gồm:
a- Ưu đãi đầu tư được quy định tại Giấy phép đầu tư, Giấy phép kinh doanh, Giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư, Giấy chứng nhận đầu tư, Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, văn bản quyết định chủ trương đầu tư, Quyết định chấp thuận chủ trương đầu tư hoặc văn bản khác do người có thẩm quyền, cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp, áp dụng theo quy định của pháp luật;
b- Ưu đãi đầu tư mà nhà đầu tư được hưởng theo quy định của pháp luật không thuộc trường hợp quy định tại điểm a trên.
3- Khi có yêu cầu áp dụng các biện pháp bảo đảm đầu tư theo quy định tại khoản 4 Điều 12 Luật Đầu tư, nhà đầu tư gửi văn bản đề nghị cho cơ quan đăng ký đầu tư kèm theo một trong các giấy tờ sau: Giấy phép đầu tư, Giấy phép kinh doanh, Giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư, Giấy chứng nhận đầu tư, Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, văn bản quyết định chủ trương đầu tư, Quyết định chấp thuận chủ trương đầu tư hoặc văn bản khác do cơ quan nhà nước có thẩm quyền, người có thẩm quyền cấp có quy định về ưu đãi đầu tư (nếu có). Văn bản đề nghị gồm các nội dung sau:
a) Tên và địa chỉ của nhà đầu tư;
b) Ưu đãi đầu tư theo quy định tại văn bản pháp luật trước thời điểm văn bản pháp luật mới có hiệu lực gồm: loại ưu đãi, điều kiện hưởng ưu đãi, mức ưu đãi (nếu có);
c) Nội dung văn bản quy phạm pháp luật được ban hành hoặc sửa đổi, bổ sung có quy định làm thay đổi ưu đãi đầu tư đã áp dụng đối với nhà đầu tư theo quy định tại điểm b trên;
d) Đề xuất của nhà đầu tư về áp dụng biện pháp bảo đảm đầu tư quy định tại khoản 4 Điều 12 Luật Đầu tư.
4- Cơ quan đăng ký đầu tư xem xét, quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm đầu tư theo đề xuất của nhà đầu tư trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ theo quy định. Trường hợp vượt thẩm quyền, cơ quan đăng ký đầu tư trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét, quyết định.
Nghị định quy định cơ quan đăng ký đầu tư, cơ quan quản lý nhà nước về quy hoạch, tài nguyên và môi trường, xây dựng và các cơ quan quản lý nhà nước khác có trách nhiệm công bố đầy đủ, công khai quy hoạch, danh mục dự án đầu tư theo quy định của pháp luật.
Trường hợp nhà đầu tư có yêu cầu cung cấp thông tin về quy hoạch, danh mục dự án đầu tư và các thông tin khác liên quan đến dự án đầu tư, các cơ quan quy định ở trên có trách nhiệm cung cấp thông tin theo thẩm quyền cho nhà đầu tư trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị của nhà đầu tư.
Nhà đầu tư có quyền sử dụng thông tin theo quy định ở trên để lập hồ sơ và thực hiện dự án đầu tư.
Nghị định quy định nhà đầu tư không được thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh trong các ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh quy định tại Điều 6 Luật Đầu tư.
Việc sản xuất, sử dụng sản phẩm quy định tại các điểm a, b, c khoản 1 Điều 6 của Luật Đầu tư trong phân tích, kiểm nghiệm, nghiên cứu khoa học, y tế, sản xuất dược phẩm, điều tra tội phạm, bảo vệ quốc phòng, an ninh thực hiện như sau:
- Các chất ma túy được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép sản xuất, sử dụng theo quy định của Chính phủ về danh mục chất ma túy, tiền chất và Công ước thống nhất về chống ma túy năm 1961, Công ước Liên hợp quốc năm 1988 về chống buôn bán bất hợp pháp các chất ma túy và chất hướng thần;
- Các loại hóa chất, khoáng vật bị cấm theo quy định của Luật Đầu tư được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép sản xuất, sử dụng theo quy định của Chính phủ về quản lý hóa chất thuộc diện kiểm soát của Công ước cấm phát triển, sản xuất, tàng trữ, sử dụng và phá hủy vũ khí hóa học và các văn bản hướng dẫn Công ước Rotterdam về thủ tục thỏa thuận có thông báo trước đối với một số hóa chất nguy hại và thuốc bảo vệ thực vật trong buôn bán quốc tế;
- Mẫu vật các loài thực vật, động vật hoang dã, mẫu vật các loài thực vật rừng, động vật rừng, thủy sản nguy cấp, quý, hiếm Nhóm I có nguồn gốc khai thác từ tự nhiên bị cấm theo quy định của Luật Đầu tư được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép khai thác theo quy định của pháp luật về lâm nghiệp, pháp luật về đa dạng sinh học, pháp luật về thủy sản, quy định pháp luật có liên quan và Công ước về buôn bán quốc tế các loài động, thực vật hoang dã, nguy cấp (CITES).
Nghị định quy định nhà đầu tư được quyền kinh doanh trong ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện quy định tại Phụ lục IV của Luật Đầu tư kể từ khi đáp ứng đủ điều kiện theo quy định của pháp luật và phải bảo đảm đáp ứng các điều kiện đó trong quá trình hoạt động đầu tư kinh doanh.
Nhà đầu tư đáp ứng điều kiện đầu tư kinh doanh có quyền được cấp các văn bản theo các hình thức quy định tại các điểm a, b, c, d khoản 5 Điều 7 của Luật Đầu tư (sau đây gọi chung là giấy phép) hoặc được quyền thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh khi đáp ứng điều kiện quy định tại điểm đ khoản 5 Điều 7 của Luật Đầu tư. Trong trường hợp từ chối cấp, gia hạn, sửa đổi, bổ sung giấy phép, cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải thông báo bằng văn bản cho nhà đầu tư và nêu rõ lý do từ chối.
Chính phủ ban hành Nghị định số 91/2026/NĐ-CP quy định chi tiết và biện pháp tổ chức, hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo dục đại học.

Nghị định quy định rõ các điều kiện để được công nhận là đại học, đại học vùng, đại học quốc gia.
Trong đó, Nghị định quy định rõ các điều kiện để được công nhận là đại học; điều kiện đối với trường thuộc cơ sở giáo dục đại học khi xét công nhận đại học; điều kiện công nhận đại học vùng, đại học quốc gia.
Nghị định quy định, cơ sở giáo dục đại học được công nhận là đại học khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau đây:
1- Về pháp lý và chủ thể sở hữu
Đối với cơ sở giáo dục đại học công lập phải được cơ quan quản lý trực tiếp chấp thuận.
Đối với cơ sở giáo dục đại học tư thục phải đạt được sự đồng thuận của các nhà đầu tư đại diện ít nhất 75% tổng vốn góp.
2- Về đội ngũ giảng viên
Tỷ lệ giảng viên quốc tế, bao gồm cả giảng viên là người Việt Nam ở nước ngoài và người có quốc tịch nước ngoài, tham gia giảng dạy chương trình đào tạo chính quy các trình độ của giáo dục đại học, được xác định trong khoảng thời gian 12 tháng đến ngày 31 tháng 12 hằng năm, đạt tối thiểu 5,0% tổng số giảng viên cơ hữu của cơ sở giáo dục đại học.
Đội ngũ giảng viên cơ hữu trình độ tiến sĩ đạt tối thiểu 60%.
3- Về tổ chức, quy mô, cơ cấu đào tạo
Có ít nhất 03 trường thuộc cơ cấu tổ chức, đáp ứng các tiêu chí quy định tại Điều 5 Nghị định này; có ít nhất 25 ngành đào tạo ở mỗi trình độ của giáo dục đại học đang hoạt động theo quy định hiện hành.
Quy mô đào tạo chính quy đạt từ 15.000 người học trở lên; tỷ lệ người học sau đại học trên tổng quy mô đào tạo chính quy đạt tối thiểu 20%; tỷ lệ người học quốc tế theo học chương trình đào tạo chính quy cấp văn bằng đạt tối thiểu 3,0%.
4- Về nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo
Tỷ lệ sản phẩm khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo bình quân của một giảng viên cơ hữu ít nhất trong một năm là 01 bài báo khoa học thuộc danh mục Web of Science hoặc Scopus hoặc sách xuất bản hoặc bằng độc quyền sáng chế, giải pháp hữu ích; tỷ trọng thu từ hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đạt tối thiểu 20% tổng nguồn thu sự nghiệp của cơ sở giáo dục đại học.
Tỷ trọng thu từ các hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là tổng thu hoạt động trong năm của cơ sở giáo dục đại học từ các hoạt động thường xuyên (bao gồm cả ngân sách nhà nước, nhà đầu tư hỗ trợ) và thực hiện nhiệm vụ không thường xuyên, không bao gồm kinh phí đầu tư do Nhà nước hoặc nhà đầu tư cấp.
5- Về tài chính
Có nguồn thu hợp pháp ổn định để bảo đảm tự chủ chi thường xuyên theo quy định đối với cơ sở giáo dục đại học công lập; thực hiện công khai, minh bạch tài chính; báo cáo tài chính hằng năm được lập, kiểm toán đúng chế độ.
6- Các điều kiện về đội ngũ giảng viên, tổ chức, quy mô và cơ cấu đào tạo, nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo phải được duy trì liên tục ít nhất 03 năm tính đến ngày 31 tháng 12 của năm liền kề trước năm nộp hồ sơ.
1. Điều kiện đối với trường thuộc cơ sở giáo dục đại học khi xét công nhận đại học được quy định như sau:
a- Có ít nhất 05 ngành đào tạo cùng lĩnh vực ở mỗi trình độ của giáo dục đại học.
b- Có quy mô đào tạo chính quy từ 3.000 người học trở lên.
c- Có năng lực nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo đáp ứng quy định.
2. Năng lực nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo được quy định như sau:
Có cán bộ cơ hữu của đơn vị là chủ nhiệm thực hiện nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo cấp bộ hoặc cấp quốc gia duy trì liên tục trong ba năm gần nhất.
Tỷ lệ sản phẩm khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo bình quân của một giảng viên cơ hữu ít nhất trong một năm là 01 bài báo khoa học thuộc danh mục Web of Science hoặc Scopus hoặc sách xuất bản hoặc bằng độc quyền sáng chế, giải pháp hữu ích.
Có ít nhất 01 nhóm nghiên cứu mạnh được thành lập và công nhận theo quy định về hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong cơ sở giáo dục đại học của Chính phủ.
3. Các điều kiện đối với trường thuộc cơ sở giáo dục đại học tại khoản 1 và năng lực nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo tại khoản 2 nêu trên phải được duy trì liên tục trong thời gian ít nhất 3 năm tính đến ngày 31 tháng 12 của năm liền kề trước năm nộp hồ sơ.
4. Đối với các trường thuộc cơ sở giáo dục đại học đào tạo các ngành lĩnh vực sức khỏe ngoài việc đáp ứng quy định tại các khoản 1, 2 và 3 nêu trên phải có cơ sở thực hành là cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đáp ứng yêu cầu theo quy định về tổ chức đào tạo thực hành trong đào tạo khối ngành sức khỏe của Chính phủ.
Nghị định quy định, cơ sở giáo dục đại học được công nhận là đại học vùng hoặc đại học quốc gia khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau:
1- Được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án phát triển thành đại học vùng hoặc đại học quốc gia, phù hợp với quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục đại học và sư phạm, quy hoạch vùng; đề án xác định sự cần thiết, mục tiêu, chỉ tiêu phát triển, nhiệm vụ, giải pháp, nguồn lực và lộ trình thực hiện.
2- Có ít nhất 05 đơn vị là trường đại học thành viên đáp ứng chuẩn cơ sở giáo dục đại học đối với cơ sở giáo dục đại học có đào tạo trình độ tiến sĩ hoặc trường thuộc đáp ứng các điều kiện đối với trường thuộc cơ sở giáo dục đại học quy định tại Điều 5 Nghị định này và phải được duy trì liên tục trong thời gian ít nhất ba năm tính đến ngày 31 tháng 12 của năm liền kề trước năm nộp hồ sơ công nhận.
3- Về lĩnh vực đào tạo
Cơ sở giáo dục đại học đề nghị công nhận đại học quốc gia phải tổ chức đào tạo ở tất cả các trình độ của giáo dục đại học đối với các lĩnh vực khoa học tự nhiên, toán và thống kê, kỹ thuật, máy tính và công nghệ thông tin, khoa học xã hội và hành vi, nhân văn, kinh doanh và quản lý, sức khỏe.
Cơ sở giáo dục đại học đề nghị công nhận đại học vùng phải tổ chức đào tạo ở tất cả các trình độ của giáo dục đại học nhiều ngành thuộc các lĩnh vực khác nhau phù hợp với chiến lược phát triển nguồn nhân lực của vùng hoặc liên kết vùng.
4- Đáp ứng đầy đủ các điều kiện để được công nhận là đại học.
Chính phủ ban hành Nghị định số 106/2026/NĐ-CP ngày 31/3/2026 quy định về đầu tư xây dựng, quản lý khai thác cảng cạn.

Quy trình đầu tư xây dựng cảng cạn.
Nghị định này quy định chi tiết về đầu tư xây dựng, quản lý khai thác cảng cạn; áp dụng đối với tổ chức, cá nhân Việt Nam và nước ngoài có liên quan đến đầu tư xây dựng, quản lý khai thác cảng cạn.
Nghị định quy định tổ chức, cá nhân Việt Nam và nước ngoài đầu tư xây dựng cảng cạn tại Việt Nam phải tuân theo quy định tại Nghị định này, các quy định của pháp luật về đầu tư, xây dựng và các quy định khác có liên quan của pháp luật.
Việc đầu tư xây dựng cảng cạn phải phù hợp với quy hoạch phát triển hệ thống cảng cạn và các quy hoạch khác có liên quan.
Trước khi chấp thuận chủ trương đầu tư hoặc cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư dự án đầu tư xây dựng cảng cạn theo quy định của pháp luật về đầu tư, cơ quan có thẩm quyền có văn bản gửi trực tiếp hoặc qua hệ thống bưu chính hoặc hệ thống quản lý văn bản điện tử đến Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam đề nghị có ý kiến về sự phù hợp quy hoạch phát triển hệ thống cảng cạn. Nội dung văn bản nêu rõ về vị trí, quy mô, chức năng, diện tích, công suất cảng cạn.
Trong thời gian 03 ngày làm việc, Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam có văn bản trả lời cơ quan có thẩm quyền và gửi trực tiếp hoặc qua hệ thống bưu chính hoặc qua hệ thống quản lý văn bản điện tử.
Về thủ tục công bố mở cảng cạn, Nghị định quy định chủ đầu tư gửi trực tiếp hoặc qua hệ thống bưu chính hoặc trực tuyến trên Cổng Dịch vụ công quốc gia 01 bộ hồ sơ đến Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam.
Hồ sơ công bố mở cảng cạn, bao gồm:
a) Tờ khai về việc mở cảng cạn theo Mẫu số 01 quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này;
b) Bản sao hoặc bản sao điện tử Quyết định phê duyệt dự án đầu tư xây dựng cảng cạn được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy định của pháp luật hoặc bản sao hoặc bản sao điện tử văn bản hoặc Quyết định công nhận địa điểm thông quan hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu của cơ quan có thẩm quyền (đối với trường hợp công bố địa điểm làm thủ tục hải quan thành cảng cạn);
c) Bản sao hoặc bản sao điện tử các giấy tờ hợp pháp chứng minh về quyền sử dụng đất theo quy định. Tổ chức, cá nhân không phải nộp các giấy tờ hợp pháp chứng minh về quyền sử dụng đất khi cơ quan giải quyết thủ tục hành chính khai thác được thông tin trên Cơ sở dữ liệu quốc gia;
d) Bản sao hoặc bản sao điện tử Biên bản nghiệm thu hoàn thành đưa công trình cảng cạn vào sử dụng kèm theo bản vẽ mặt bằng hoàn công các công trình chủ yếu quy định tại khoản 2 Điều 7 Nghị định này;
đ) Bản sao hoặc bản sao điện tử Quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường của Dự án theo quy định.
Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam tiếp nhận hồ sơ. Trường hợp hồ sơ chưa hợp lệ hoặc cơ quan giải quyết thủ tục hành chính không khai thác được thông tin hoặc thông tin khai thác được trên Cơ sở dữ liệu quốc gia không đầy đủ, không chính xác, chậm nhất 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam có văn bản gửi chủ đầu tư qua hệ thống bưu chính hoặc trực tuyến trên Cổng Dịch vụ công quốc gia, nêu rõ lý do và yêu cầu bổ sung, hoàn thiện hồ sơ, nộp bản sao hoặc bản sao điện tử các giấy tờ hợp pháp theo quy định.
Trường hợp hồ sơ hợp lệ, chậm nhất 04 ngày làm việc kể từ khi nhận đủ hồ sơ, Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam thẩm định và có văn bản đề nghị Bộ Xây dựng công bố mở cảng cạn theo quy định.
Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản của Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam, Bộ Xây dựng quyết định công bố mở cảng cạn theo Mẫu số 02 quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này và gửi qua hệ thống bưu chính hoặc trực tuyến trên Cổng Dịch vụ công quốc gia đến chủ đầu tư; trường hợp không chấp thuận phải có văn bản trả lời chủ đầu tư và nêu rõ lý do. Quyết định công bố mở cảng cạn được trả bằng bản giấy và bản điện tử và có giá trị pháp lý như nhau.
Nghị định quy định việc tạm dừng hoạt động của cảng cạn được thực hiện trong trường hợp phục vụ việc bảo dưỡng, sửa chữa cảng cạn hoặc thực hiện các yêu cầu khác theo quy định của pháp luật.
Việc đóng cảng cạn được thực hiện trong trường hợp sau:
a) Vì lý do bảo đảm quốc phòng, an ninh;
b) Việc khai thác cảng cạn có nguy cơ gây mất an toàn, gây sự cố công trình ảnh hưởng đến an toàn của người sử dụng, an toàn của công trình lân cận, môi trường và của cộng đồng;
c) Dự án đầu tư cảng cạn chấm dứt theo Quyết định của Cơ quan đăng ký đầu tư hoặc chủ đầu tư, doanh nghiệp khai thác cảng cạn không có nhu cầu tiếp tục khai thác cảng cạn.
Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết số 77/NQ-CP ngày 01/4/2026 về chính sách của Bộ luật Hàng hải và Đường thủy Việt Nam (sửa đổi).

Chính phủ thông qua 06 chính sách của dự án Bộ luật Hàng hải và Đường thủy Việt Nam (sửa đổi).
Chính phủ quyết nghị thông qua 06 chính sách của dự án Bộ luật Hàng hải và Đường thủy Việt Nam (sửa đổi) nêu tại Tờ trình số 08/TTr-BXD ngày 13/02/2026 của Bộ Xây dựng về chính sách của Bộ luật Hàng hải và Đường thủy Việt Nam (sửa đổi), cụ thể như sau:
- Chính sách 1 về thiết lập cơ chế quản lý nhà nước thống nhất về thẩm quyền, phân cấp và nội dung quản lý đối với hoạt động hàng hải và đường thủy theo hướng hiện đại, gắn với chuyển đổi số, chuyển đổi xanh.
- Chính sách 2 về hoàn thiện khung pháp lý về kết cấu hạ tầng hàng hải, đường thủy nội địa.
- Chính sách 3 về thống nhất chế độ đăng ký, đăng kiểm và quản lý theo vòng đời đối với tàu biển, tàu sông, tàu ven biển và các phương tiện nổi. Xây dựng chế độ quản lý an toàn kỹ thuật và phòng ngừa ô nhiễm môi trường cho các đối tượng là công trình dầu khí biển, công trình năng lượng tái tạo trên biển, các phương tiện có yêu cầu kỹ thuật và hoạt động đặc thù.
- Chính sách 4 về phát triển nguồn nhân lực hàng hải và nguồn nhân lực đường thủy; phát triển đội ngũ thuyền viên đáp ứng nhu cầu trong nước và quốc tế thông qua các chính sách về đào tạo, huấn luyện thuyền viên; tiêu chuẩn, chế độ lao động của thuyền viên.
- Chính sách 5 về hoàn thiện quy định về vận tải biển và vận tải thủy nội địa.
- Chính sách 6 về hoàn thiện khung pháp lý thống nhất về an toàn, an ninh, tìm kiếm cứu nạn và ứng phó sự cố khẩn cấp trong hoạt động hàng hải và giao thông đường thủy nội địa.
Chính phủ giao bộ Xây dựng chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan tiếp thu tối đa ý kiến các Thành viên Chính phủ, hoàn thiện nội dung các chính sách. Trên cơ sở đó, chủ động tổ chức soạn thảo dự án Bộ luật Hàng hải và Đường thủy Việt Nam (sửa đổi) bảo đảm tuân thủ theo đúng quy trình, thủ tục theo quy định và bảo đảm chất lượng, tiến độ trình Chính phủ, Quốc hội.
Phân công Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Hồng Hà chỉ đạo việc xây dựng, hoàn thiện dự án Bộ luật Hàng hải và Đường thủy Việt Nam (sửa đổi).
Nghị quyết này có hiệu lực kể từ ngày ký ban hành (01/4/2026)./.