Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 10/8/2026 (1)
(Chinhphu.vn) - Văn phòng Chính phủ vừa có Thông cáo báo chí chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 10/8/2026 (1).
Phê duyệt Đề án "Phát triển hệ thống cấp cứu ngoại viện giai đoạn 2026 - 2030"
Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà ký Quyết định số 1515/QĐ-TTg ngày 10/8/2026 phê duyệt Đề án "Phát triển hệ thống cấp cứu ngoại viện giai đoạn 2026 - 2030" (Đề án).

Đào tạo, phát triển nguồn nhân lực cấp cứu ngoại viện
Đề án đặt mục tiêu tổng quát là xây dựng và phát triển hệ thống cấp cứu ngoại viện đồng bộ, hiện đại đảm bảo tiếp nhận, xử lý và điều phối cấp cứu kịp thời; nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ cấp cứu của người dân và tăng cường phối hợp liên ngành giữa các lực lượng tham gia cấp cứu, góp phần giảm tỷ lệ tử vong, tàn tật do tai nạn, thương tích và các tình trạng cấp cứu.
100% tỉnh, thành phố triển khai mạng lưới cấp cứu ngoại viện trên địa bàn
Mục tiêu cụ thể đến năm 2030 hoàn thiện khung pháp lý và các cơ chế chính sách về tổ chức, hoạt động chuyên môn, cơ chế đầu tư, tài chính cấp cứu ngoại viện.
Đảm bảo về tổ chức và vận hành mạng lưới cấp cứu ngoại viện toàn quốc: 100% tỉnh, thành phố triển khai mạng lưới cấp cứu ngoại viện trên địa bàn, phù hợp với điều kiện và nhu cầu cấp cứu của từng địa phương; 100% tỉnh, thành phố triển khai quy chế phối hợp liên ngành giữa Y tế, Công an, Quân đội, phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ, chính quyền địa phương trong tiếp nhận thông tin, điều phối, tiếp cận hiện trường, sơ cứu, cấp cứu, vận chuyến và bàn giao người bệnh.
Triển khai Nền tảng quản lý cấp cứu ngoại viện toàn quốc, hoàn thành trong năm 2026 và đưa vào vận hành từ năm 2027; đảm bảo kết nối, liên thông dữ liệu và phối hợp vận hành với nền tảng tích hợp các số dịch vụ khẩn cấp 113, 114, 115 do Bộ Công an xây dựng.
Tối thiểu 75% nhân viên y tế tại Trạm Y tế cấp xã được đào tạo, tập huấn về cấp cứu ngoại viện; phổ cập kiến thức về sơ cứu, cấp cứu ban đầu cho tối thiểu 3% dân số, trong đó tối thiểu 1% dân số được đào tạo thực hành kỹ năng sơ cứu, cấp cứu ban đầu; đầu tư và đưa vào triển khai sử dụng trong hệ thống cấp cứu ngoại viện tối thiểu 1 xe cứu thương đạt chuẩn/100.000 dân.
Nâng cao chất lượng dịch vụ cấp cứu ngoại viện, phấn đấu thời gian xuất xe cứu thương không quá 5 phút kể từ khi có quyết định điều xe đối với trường hợp cấp cứu nguy kịch; phấn đấu 100% cuộc gọi cấp cứu được tiếp nhận, hỗ trợ tư vấn, điều phối cấp cứu kịp thời, phù hợp với tình trạng người bệnh và yêu cầu thực tiễn...
Hoàn thiện thể chế, cơ chế chính sách và thiết lập mô hình cấp cứu ngoại viện
Để đạt được các mục tiêu trên, một trong những nhiệm vụ, giải pháp Đề án đặt ra là hoàn thiện thể chế, cơ chế chính sách và thiết lập mô hình cấp cứu ngoại viện.
Trong đó, rà soát, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, hướng dẫn chuyên môn về cấp cứu ngoại viện; ban hành quy định về tổ chức hệ thống, nhân lực, phương tiện, thiết bị, quy trình chuyên môn, tiêu chuẩn chất lượng và mạng lưới sơ cứu, cấp cứu ban đầu; hoàn thiện cơ chế phối hợp liên ngành trong tiếp nhận, điều phối, vận chuyển cấp cứu; cơ chế chia sẻ, kết nối, khai thác dữ liệu phục vụ quản lý, điều hành.
Hoàn thiện cơ chế tài chính cấp cứu ngoại viện; nghiên cứu Quỹ bảo hiểm y tế từng bước chi trả dịch vụ cấp cứu ngoại viện phù hợp với lộ trình tăng mức đóng bảo hiểm y tế và khả năng cân đối của Quỹ bảo hiểm y tế, đảm bảo khả năng tiếp cận dịch vụ của người dân. Nghiên cứu, đề xuất ban hành cơ chế chính sách hỗ trợ phù hợp với chi phí vận chuyển cấp cứu ngoại viện cho một số đối tượng chính sách xã hội.
Cụ thể, Bộ Y tế chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan nghiên cứu, sửa đổi Nghị định số 96/2023/NĐ-CP ngày 30/12/2023 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Khám bệnh, chữa bệnh liên quan đến nội dung cấp cứu ngoại viện. Hoàn thành trong tháng 12/2026.
Bộ Y tế chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan và địa phương xây dựng các quy định, hướng dẫn về nhân lực, phương tiện, thiết bị, quy trình chuyên môn, tiêu chuẩn chất lượng, cơ chế phối hợp liên ngành trong tiếp nhận, điều phối, vận chuyển cấp cứu; cơ chế chia sẻ, kết nối, khai thác dữ liệu phục vụ quản lý, vận hành cấp cứu ngoại viện. Hoàn thành trong tháng 3/2027.
Đào tạo, phát triển nguồn nhân lực cấp cứu ngoại viện
Xây dựng, hoàn thiện chương trình đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cấp cứu ngoại viện; ban hành theo thẩm quyền chương trình đào tạo cấp cứu viên ngoại viện, tổng đài viên cấp cứu ngoại viện, các chương trình cập nhật kiến thức y khoa liên tục, đào tạo ngắn hạn về cấp cứu ngoại viện và sơ cứu, cấp cứu ban đầu cho cộng đồng.
Hoàn thiện cơ chế, chính sách về vị trí việc làm, tiêu chuẩn năng lực, đào tạo, cấp phép hành nghề và các quy định có liên quan đối với nhân lực cấp cứu ngoại viện, đáp ứng yêu cầu phát triển hệ thống cấp cứu ngoại viện.
Nghiên cứu lồng ghép nội dung đào tạo, thực hành kỹ năng sơ cứu, cấp cứu ban đầu vào chương trình giáo dục tăng cường đối với học sinh từ cấp trung học cơ sở trở lên.
Khuyến khích xã hội hóa, huy động sự tham gia của các tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức xã hội, doanh nghiệp và cộng đồng trong công tác đào tạo, phát triển nguồn nhân lực cấp cứu ngoại viện.
Cụ thể, Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với Bộ Y tế xây dựng danh mục ngành đào tạo cấp cứu viên ngoại viện trình độ cao đẳng, đại học. Thời gian hoàn thành tháng 12/2027.
Bộ Y tế phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo và các bộ, cơ quan liên quan xây dựng chương trình đào tạo chuẩn hóa năng lực cấp cứu ngoại viện cho nhân viên y tế và chương trình đào tạo cấp cứu ngoại viện, sơ cứu, cấp cứu ban đầu cho cộng đồng. Thời gian hoàn thành tháng 6/2027.
Kế hoạch hành động thực hiện các biện pháp khắc phục khuyến nghị của Ủy ban châu Âu (EC) tại đợt thanh tra lần thứ 5 về chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định

Khắc phục khuyến nghị của EC về chống khai thác IUU
Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng ký Quyết định số 1516/QĐ-TTg ngày 10/8/2026 ban hành Kế hoạch hành động thực hiện các biện pháp khắc phục khuyến nghị của Ủy ban châu Âu (EC) tại đợt thanh tra lần thứ 5 về chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU).
Khắc phục triệt để các tồn tại, hạn chế
Mục tiêu của Kế hoạch nhằm khắc phục triệt để các tồn tại, hạn chế và thực hiện đầy đủ, thực chất các khuyến nghị của EC tại đợt thanh tra lần thứ năm; tạo chuyển biến căn bản trong quản lý nghề cá, ngăn chặn và tiến tới chấm dứt khai thác IUU; chuẩn bị đầy đủ hồ sơ, dữ liệu và bằng chứng thực thi để làm việc với EC, quyết tâm gỡ cảnh báo "Thẻ vàng" trong năm 2026; đồng thời phát triển ngành thủy sản Việt Nam minh bạch, có trách nhiệm và bền vững.
Mục tiêu hướng tới là 100% tàu cá đã đăng ký được cập nhật đầy đủ, chính xác, kịp thời trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về thủy sản VNFishbase; xác định được chủ tàu, vị trí, tình trạng hoạt động và tình trạng pháp lý.
100% tàu cá thuộc diện bắt buộc lắp thiết bị VMS được kiểm soát tình trạng thiết bị khi xuất, nhập bến; các trường hợp mất kết nối, vượt ranh giới, can thiệp thiết bị được cảnh báo, xác minh và xử lý theo thời hạn quy định.
100% lượt tàu cá có chiều dài từ 06 mét trở lên ra, vào cảng, xuất, nhập bến được ghi nhận trên eCDT; không cấp giấy xác nhận nguyên liệu thủy sản khai thác đối với nguyên liệu thủy sản khai thác của tàu cá không có dữ liệu hoặc dữ liệu không hợp lệ trên eCDT.
100% hồ sơ cấp giấy xác nhận nguyên liệu và giấy chứng nhận nguồn gốc thủy sản khai thác phục vụ xuất khẩu sang thị trường yêu cầu được xử lý trên eCDT theo quy định tại Thông tư số 81/2025/TT-BNNMT của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường, trừ trường hợp bất khả kháng theo quy định.
100% doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu các loài có nguy cơ cao sang thị trường châu Âu được kiểm tra theo phương pháp đánh giá rủi ro; các sai lệch về nguyên liệu, định mức, sản lượng và hồ sơ truy xuất được xác minh, xử lý dứt điểm.
Tiến tới chấm dứt khai thác IUU
100% vụ việc vi phạm IUU được tiếp nhận, xác minh, xử lý đúng thẩm quyền và thời hạn; kết quả được cập nhật kịp thời lên cơ sở dữ liệu xử phạt; không để tồn đọng hồ sơ không có lý do chính đáng.
Ngăn chặn, giảm tối đa và tiến tới chấm dứt tình trạng tàu cá Việt Nam vi phạm vùng biển nước ngoài; mọi vụ việc phát sinh được điều tra, xử lý và làm rõ trách nhiệm của chủ tàu, thuyền trưởng và tổ chức, cá nhân liên quan. Khắc phục triệt để các tồn tại, hạn chế và thực hiện đầy đủ, thực chất các khuyến nghị của EC tại đợt thanh tra lần thứ năm; tạo chuyển biến căn bản trong quản lý nghề cá, ngăn chặn và tiến tới chấm dứt khai thác IUU; chuẩn bị đầy đủ hồ sơ, dữ liệu và bằng chứng thực thi để làm việc với EC, quyết tâm gỡ cảnh báo "Thẻ vàng" trong năm 2026; đồng thời phát triển ngành thủy sản Việt Nam minh bạch, có trách nhiệm và bền vững.
Để đạt được mục tiêu trên, Đề án đưa ra một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm như: Hoàn thiện khung pháp lý; quản lý, kiểm soát đội tàu; theo dõi, kiểm tra, giám sát và kiểm soát tại cảng; thực hiện biện pháp quốc gia có cảng; truy xuất nguồn gốc thủy sản khai thác trong nước; kiểm soát nguyên liệu thủy sản nhập khẩu; thực thi pháp luật; chuyển đổi số, kết nối và chia sẻ dữ liệu; hợp tác quốc tế, thông tin và truyền thông; phát động "Tháng cao điểm" thực hiện công tác chống khai thác IUU.
Kiểm tra liên ngành đối với doanh nghiệp chế biến xuất khẩu sang thị trường châu Âu
Theo Kế hoạch, các ngành, địa phương liên quan sẽ quản lý chặt chẽ tàu cá đã xóa đăng ký nhưng còn khả năng hoạt động; tàu cá không đăng ký, không đăng kiểm, không có giấy phép; phân công cơ quan, đơn vị và cá nhân theo dõi từng tàu nguy cơ cao.
Kiểm tra liên ngành đối với doanh nghiệp chế biến cá kiếm, cá ngừ và các loài có nguy cơ cao xuất khẩu sang thị trường châu Âu; xác minh định mức tỷ lệ thu hồi sau chế biến phù hợp thực tế sản xuất; ban hành quy trình vận hành tiêu chuẩn kiểm soát nhà máy chế biến; xây dựng kế hoạch kiểm tra hằng năm theo đánh giá rủi ro; tăng cường kiểm tra đột xuất.
Đồng thời, tổ chức kiểm tra liên ngành, đột xuất đối với doanh nghiệp nhập khẩu, chế biến các loài có nguy cơ cao; điều tra, xử lý triệt để sai lệch giữa hồ sơ và nguyên liệu thực tế; thiết lập cơ chế thông báo ngay cho EC và quốc gia thành viên liên quan khi phát hiện lô hàng vi phạm đã xuất khẩu hoặc đang trên đường vận chuyển.
Trong "Tháng cao điểm", các bộ, ngành và địa phương tập trung xử lý dứt điểm các nhiệm vụ còn tồn tại, nhất là: quản lý, kiểm soát đội tàu; đăng ký, đăng kiểm, cấp phép; lắp đặt, duy trì kết nối và kiểm soát thiết bị VMS; kiểm soát tàu cá xuất, nhập bến; cập nhật, vận hành VNFishbase và eCDT; truy xuất nguồn gốc; kiểm soát nguyên liệu thủy sản nhập khẩu; xác minh, xử lý vi phạm quy định mất kết nối VMS, vượt ranh giới cho phép khai thác trên biển và ngăn chặn, xử lý không để phát sinh tàu cá vi phạm vùng biển nước ngoài...
Phê duyệt Đề án phát triển Đại học Quốc gia Hà Nội thuộc nhóm cơ sở giáo dục đại học hàng đầu châu Á
Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu ký Quyết định số 1512/QĐ-TTg phê duyệt Đề án phát triển Đại học Quốc gia Hà Nội thuộc nhóm cơ sở giáo dục đại học hàng đầu châu Á (Đề án).
Đại học Quốc gia Hà Nội theo mô hình đại học nghiên cứu tinh hoa, đa ngành, đa lĩnh vực
Đề án được thực hiện từ năm 2026 đến năm 2030 với quan điểm phát triển Đại học Quốc gia Hà Nội theo đúng định hướng chiến lược của Đảng và Nhà nước về đột phá phát triển giáo dục đào tạo, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; giữ vai trò nòng cốt, tiên phong dẫn dắt hệ thống giáo dục đại học và nghiên cứu quốc gia; ưu tiên đầu tư nguồn lực và cơ chế đặc thù để xây dựng Đại học Quốc gia Hà Nội thành một hệ sinh thái đào tạo, nghiên cứu và đổi mới sáng tạo, tinh hoa, kiến tạo động lực và không gian phát triển của đất nước.
Xây dựng Đại học Quốc gia Hà Nội theo mô hình đại học nghiên cứu tinh hoa, đa ngành, đa lĩnh vực, thuộc nhóm cơ sở giáo dục đại học hàng đầu châu Á; là trung tâm đào tạo, nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và kiến tạo chính sách trọng điểm của quốc gia, đồng thời là trung tâm đào tạo, nghiên cứu và đổi mới sáng tạo hàng đầu của thành phố Hà Nội, vùng Thủ đô và vùng đồng bằng sông Hồng. Ưu tiên phát triển mô hình đào tạo tinh hoa, đào tạo tài năng và bồi dưỡng nhân tài trong các lĩnh vực khoa học cơ bản, công nghệ chiến lược; gắn đào tạo với nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo; thực hiện đầu tư tập trung, có chọn lọc, lấy chất lượng đầu vào, năng lực nghiên cứu, sáng tạo và kết quả đầu ra theo chuẩn mực quốc tế làm tiêu chuẩn cốt lõi nhằm hình thành đội ngũ nhân tài, nhà khoa học xuất sắc, chuyên gia đầu ngành và các nhà lãnh đạo tri thức phục vụ phát triển đất nước trong dài hạn.
Tập trung ưu tiên nguồn lực đầu tư phát triển đột phá các lĩnh vực khoa học, công nghệ mũi nhọn nhằm giải quyết các bài toán chiến lược, đáp ứng nhu cầu cấp bách của quốc gia; đưa các lĩnh vực này đạt trình độ hàng đầu khu vực và thuộc nhóm 100 thế giới. Đồng thời, ưu tiên phát triển các ngành khoa học cơ bản làm nền tảng cho nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo, phát triển công nghệ chiến lược và đào tạo nhân tài phục vụ phát triển đất nước. Thực hiện đầu tư tập trung, có chọn lọc, lấy chất lượng đầu vào, năng lực nghiên cứu, sáng tạo và kết quả đầu ra theo chuẩn mực quốc tế làm tiêu chuẩn cốt lõi.
Phát triển Khu đô thị Đại học Quốc gia Hà Nội tại Hòa Lạc trở thành đô thị đại học và công nghệ hiện đại
Phát triển Đại học Quốc gia Hà Nội theo hướng đồng bộ, hiện đại, thống nhất và tự chủ cao; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với trách nhiệm giải trình nhằm phát huy tối đa năng lực sáng tạo của các đơn vị thành viên, đơn vị thuộc, trực thuộc. Tổ chức quản trị, điều hành và phát triển trên cơ sở chiến lược, quy hoạch và hệ thống tiêu chuẩn thống nhất; bảo đảm liên thông, chia sẻ nguồn lực và thống nhất về chất lượng trong toàn Đại học Quốc gia Hà Nội.
Phát triển Khu đô thị Đại học Quốc gia Hà Nội tại Hòa Lạc trở thành đô thị đại học và công nghệ hiện đại, trung tâm đổi mới sáng tạo mở, hạt nhân của Cực tri thức Thủ đô và cực tăng trưởng mới dựa trên tri thức, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và nguồn nhân lực chất lượng cao; là không gian đổi mới sáng tạo mở, tích hợp đào tạo, nghiên cứu, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo, gắn kết chặt chẽ giữa đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp và các chủ thể khác trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo.
Giai đoạn 2031 - 2035, Đại học Quốc gia Hà Nội được xếp hạng trong nhóm 200 đại học hàng đầu thế giới
Mục tiêu của Đề án là đến năm 2030, hiện đại hóa, đột phá phát triển Đại học Quốc gia Hà Nội trở thành đại học tinh hoa định hướng nghiên cứu và đổi mới sáng tạo, giữ vai trò đầu tàu trong hệ thống giáo dục đại học và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia. Đại học Quốc gia Hà Nội được xếp hạng trong nhóm 100 đại học hàng đầu châu Á và nhóm 500 đại học hàng đầu thế giới; có ít nhất 01 lĩnh vực lọt vào nhóm 100 thế giới theo các bảng xếp hạng quốc tế uy tín.
Giai đoạn 2031 - 2035, Đại học Quốc gia Hà Nội được xếp hạng trong nhóm 200 đại học hàng đầu thế giới; trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo quốc gia, đóng góp trực tiếp vào mục tiêu đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao.
Thành lập doanh nghiệp khoa học và công nghệ trong Đại học Quốc gia Hà Nội
Nhiệm vụ của Đề án đưa ra là hoàn thiện thể chế, mô hình tổ chức và quản trị; phát triển đội ngũ trí thức tinh hoa, thu hút nhân tài xuất sắc; hiện đại hóa năng lực nghiên cứu gắn với đào tạo tài năng trong các lĩnh vực trọng điểm; hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và phát triển doanh nghiệp trong đại học; phát triển Khu đô thị Đại học Quốc gia Hà Nội tại Hòa Lạc theo mô hình đô thị đại học, công nghệ cao; tăng cường hợp tác, liên kết quốc tế.
Trong đó, thành lập và vận hành doanh nghiệp khoa học và công nghệ trong Đại học Quốc gia Hà Nội theo quy định của Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, Luật Doanh nghiệp và pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công, để khai thác hiệu quả tài sản trí tuệ.
Phát triển Khu đô thị Đại học Quốc gia Hà Nội tại Hòa Lạc trở thành đô thị đại học và công nghệ hiện đại, hạt nhân của Cực tri thức Thủ đô và cực tăng trưởng mới về tri thức, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo của thành phố Hà Nội và vùng Thủ đô; từng bước hình thành hệ sinh thái tích hợp giữa đào tạo, nghiên cứu, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp trên nền tảng đô thị đại học xanh, thông minh, hiện đại và đồng bộ.
Phát triển Hòa Lạc thành không gian đổi mới sáng tạo mở, nơi các trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp và tập đoàn công nghệ trong nước và quốc tế cùng nghiên cứu, thử nghiệm, trình diễn, chuyển giao và thương mại hóa công nghệ...
Thành lập Ủy ban quốc gia về an ninh hàng không và tạo thuận lợi hàng không
Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng vừa ký Quyết định số 1519/QĐ-TTg ngày 10/8/2026 thành lập Ủy ban quốc gia về an ninh hàng không và tạo thuận lợi hàng không.
Quyết định nêu rõ, thành lập Ủy ban quốc gia về an ninh hàng không và tạo thuận lợi hàng không (Ủy ban) là tổ chức phối hợp liên ngành giúp Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo, điều phối giải quyết các vấn đề quan trọng, liên ngành về bảo đảm an ninh hàng không và tạo thuận lợi hàng không.
Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc làm Chủ tịch Ủy ban.
Phó Chủ tịch Thường trực là Bộ trưởng Bộ Công an Lương Tam Quang.
Các Phó Chủ tịch gồm: 1 lãnh đạo Bộ Tổng Tham mưu Quân đội Nhân dân Việt Nam, Bộ Quốc phòng; 1 Thứ trưởng Bộ Công an phụ trách công tác an ninh; 1 Thứ trưởng Bộ Xây dựng phụ trách lĩnh vực hàng không dân dụng.
Các Ủy viên là đại diện lãnh đạo các bộ, cơ quan: Văn phòng Chính phủ, Bộ Ngoại giao, Bộ Tài chính, Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Khoa học và Công nghệ.
Nhiệm vụ và quyền hạn của Ủy ban
Theo Quyết định, Ủy ban có nhiệm vụ nghiên cứu, đề xuất với Thủ tướng Chính phủ chủ trương, chính sách, cơ chế, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác bảo đảm an ninh hàng không và tạo thuận lợi hàng không; nghiên cứu, đề xuất việc thực hiện các điều ước quốc tế về hàng không dân dụng mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, các tiêu chuẩn và khuyến cáo thực hành của Tổ chức Hàng không dân dụng quốc tế (ICAO) về bảo đảm an ninh hàng không và tạo thuận lợi hàng không.
Đồng thời, giúp Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo, điều phối, đôn đốc việc thực hiện các nhiệm vụ: Chỉ đạo, điều phối việc triển khai Chương trình quốc gia về đơn giản hóa thủ tục hàng không; cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số, kết nối, chia sẻ dữ liệu và nâng cao hiệu quả tạo thuận lợi hàng không.
Chỉ đạo, điều phối việc triển khai các biện pháp bảo đảm an ninh hàng không; chỉ đạo công tác phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn các hành vi can thiệp bất hợp pháp vào hoạt động hàng không dân dụng; thực hiện nhiệm vụ của Ban Chỉ huy khẩn nguy an ninh cấp quốc gia theo quy định của pháp luật. Đối với trường hợp hành vi can thiệp bất hợp pháp là hành vi khủng bố vượt quá thẩm quyền thì báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định; chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương đôn đốc việc thực hiện đánh giá rủi ro và mức độ, nguy cơ uy hiếp an ninh hàng không theo quy định.
Theo dõi, đôn đốc, tổng hợp, đánh giá việc thực hiện các nhiệm vụ về bảo đảm an ninh hàng không và tạo thuận lợi hàng không; tổng hợp tình hình, khó khăn, vướng mắc; kiến nghị Thủ tướng Chính phủ các giải pháp hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật và nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện.
Chỉ đạo, điều phối hoạt động hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo đảm an ninh hàng không và tạo thuận lợi hàng không; chỉ đạo triển khai các hoạt động hợp tác, trao đổi thông tin, chia sẻ kinh nghiệm và nâng cao năng lực theo quy định của pháp luật.
Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác do Thủ tướng Chính phủ giao.
Chế độ làm việc
Ủy ban làm việc theo Quy chế tổ chức và hoạt động do Chủ tịch Ủy ban ban hành; Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và các thành viên Ủy ban làm việc theo chế độ kiêm nhiệm.
Chủ tịch Ủy ban sử dụng con dấu của Thủ tướng Chính phủ trong chỉ đạo, giải quyết công việc của Ủy ban; các Phó Chủ tịch và các thành viên Ủy viên sử dụng con dấu của cơ quan, đơn vị công tác trong thực hiện nhiệm vụ được giao.
Căn cứ nội dung, tính chất công việc, Chủ tịch Ủy ban hoặc Phó Chủ tịch Thường trực được Chủ tịch Ủy ban ủy quyền quyết định mời đại diện doanh nghiệp, hiệp hội nghề nghiệp, tổ chức quốc tế và các cơ quan, tổ chức có liên quan tham gia các cuộc họp hoặc tham gia ý kiến đối với các vấn đề thuộc chức năng, nhiệm vụ của Ủy ban.
Bộ Công an là Cơ quan Thường trực của Ủy ban.
Giúp việc Cơ quan Thường trực Ủy ban có Văn phòng Thường trực Ủy ban đặt tại Cục Quản lý xuất nhập cảnh, Bộ Công an. Văn phòng Thường trực không phải là tổ chức hành chính độc lập, sử dụng bộ máy, biên chế, kinh phí và các điều kiện bảo đảm của Cục Quản lý xuất nhập cảnh để thực hiện nhiệm vụ; không làm phát sinh tổ chức và biên chế mới.
Quy chế hoạt động của Ban Chỉ đạo Trung ương Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống ma túy đến năm 2030
Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà - Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống ma túy đến năm 2030 ký Quyết định số 104/QĐ-BCĐCTMTQG ngày 09/8/2026 ban hành Quy chế hoạt động của Ban Chỉ đạo này.
Quy chế này quy định về nguyên tắc làm việc, nhiệm vụ, quyền hạn, chế độ làm việc và quan hệ phối hợp công tác của Ban Chỉ đạo Trung ương Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống ma túy đến năm 2030 (Ban Chỉ đạo Trung ương).
Nguyên tắc làm việc của Ban Chỉ đạo Trung ương
Ban Chỉ đạo Trung ương chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Trưởng Ban Chỉ đạo trong quản lý, điều hành tổ chức thực hiện các nhiệm vụ của Ban Chỉ đạo.
Ban Chỉ đạo Trung ương làm việc theo nguyên tắc tập trung dân chủ, đề cao trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu; tập thể thảo luận, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương kết luận và chỉ đạo thực hiện.
Phân công rõ trách nhiệm bảo đảm không chồng chéo trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ giữa các thành viên Ban Chỉ đạo Trung ương. Thành viên Ban Chỉ đạo Trung ương tham gia, thực hiện đầy đủ các hoạt động của Ban Chỉ đạo Trung ương và kịp thời báo cáo, chịu trách nhiệm trước Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về các nhiệm vụ được phân công theo quy định tại Quy chế này.
Nhiệm vụ, quyền hạn của Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương
Trưởng Ban Chỉ đạo chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ về thực hiện chức năng, nhiệm vụ và hoạt động của Ban Chỉ đạo Trung ương được giao tại Điều 2 Quyết định số 1356/QĐ-TTg ngày 22/7/2026 của Thủ tướng Chính phủ.
Bên cạnh đó, Trưởng Ban Chỉ đạo lãnh đạo, điều hành hoạt động của Ban Chỉ đạo Trung ương, gồm:
Ban hành, chỉ đạo thực hiện Chương trình công tác hằng năm của Ban Chỉ đạo Trung ương; phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng thành viên Ban Chỉ đạo Trung ương.
Chủ trì và kết luận các cuộc họp của Ban Chỉ đạo Trung ương; quyết định những vấn đề thuộc phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Ban Chỉ đạo Trung ương.
Chỉ đạo Phó Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương, các thành viên Ban Chỉ đạo Trung ương thực hiện các nhiệm vụ được phân công; chỉ đạo việc điều phối, phối hợp công tác giữa các thành viên Ban Chỉ đạo Trung ương.
Ký hoặc phân công Phó Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương ký các văn bản của Ban Chỉ đạo Trung ương.
Ủy quyền Phó Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương xử lý các công việc thường xuyên của Ban Chỉ đạo Trung ương liên quan đến Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống ma túy đến năm 2030 (Chương trình mục tiêu quốc gia) được phân công theo dõi; ủy quyền Phó Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương chủ trì tổ chức các cuộc họp định kỳ hoặc đột xuất.
Nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương
Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương giúp việc Ban Chỉ đạo Trung ương về quản lý, tổng hợp chung Chương trình mục tiêu quốc gia.
Chủ trì, phối hợp với các cơ quan chủ dự án và cơ quan có liên quan xây dựng Chương trình công tác hằng năm của Ban Chỉ đạo Trung ương; tổng hợp báo cáo về kết quả, tiến độ thực hiện các nhiệm vụ trong Chương trình công tác hằng năm của Ban Chỉ đạo Trung ương báo cáo theo yêu cầu của Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương.
Phối hợp với các đơn vị thuộc Văn phòng Chính phủ, các cơ quan có liên quan đôn đốc, tổ chức triển khai thực hiện các nhiệm vụ của Ban Chỉ đạo Trung ương; chuẩn bị tài liệu phục vụ các cuộc họp định kỳ hoặc đột xuất đối với vấn đề thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia; kịp thời báo cáo, đề xuất Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương đối với những vấn đề phát sinh.
Chủ trì xây dựng, quản lý, vận hành hệ thống phần mềm quản lý, giám sát, đánh giá Chương trình mục tiêu quốc gia; hướng dẫn, đôn đốc các bộ, ngành, địa phương thực hiện chế độ báo cáo trên hệ thống.
Quan hệ phối hợp công tác
Các thành viên Ban Chỉ đạo Trung ương tham gia các hoạt động chung của Ban Chỉ đạo Trung ương và thực hiện nhiệm vụ do Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương phân công.
Các thành viên Ban Chỉ đạo Trung ương có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ trong việc theo dõi, chỉ đạo triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia.
Ngoài ra, có trách nhiệm hướng dẫn, theo dõi, giám sát việc thực hiện các nội dung, nhiệm vụ và kế hoạch triển khai các dự án thành phần, nội dung thành phần thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia theo chức năng, nhiệm vụ được phân công; kịp thời báo cáo Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về kết quả, tiến độ thực hiện, các vướng mắc, khó khăn trong quá trình triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia.
Giải quyết "điểm nghẽn" pháp luật nhằm thiết lập khung pháp lý hoàn thiện
Văn phòng Chính phủ vừa có Văn bản số 7889/VPCP-PL truyền đạt ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu về thực hiện tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL).
Văn bản số 7889/VPCP-PL nêu: Xét đề nghị của Bộ Tư pháp tại Báo cáo số 629/BC-BTP ngày 30 tháng 7 năm 2026 về tình hình triển khai thực hiện tổng rà soát hệ thống VBQPPL, Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu có ý kiến chỉ đạo như sau:
Đánh giá đúng, thực chất về thực trạng của hệ thống VBQPPL
Các đồng chí Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố tiếp tục quán triệt, thực hiện nghiêm các chỉ đạo của Thường trực Ban Bí thư, Chủ tịch Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về tổng rà soát hệ thống VBQPPL; tập trung chỉ đạo tổ chức thực hiện các nhiệm vụ, bảo đảm bám sát Kế hoạch của Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống VBQPPL; chịu trách nhiệm trước Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Chính phủ, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ về chất lượng, kết quả tổng rà soát hệ thống VBQPPL thuộc phạm vi trách nhiệm của cơ quan, đơn vị, địa phương theo đúng chỉ đạo của Thường trực Ban Bí thư, bảo đảm kết quả tổng rà soát hệ thống VBQPPL của mỗi cơ quan, đơn vị, địa phương phải chỉ rõ và đề xuất phương án giải quyết những "điểm nghẽn" của quy định pháp luật trong ngành, lĩnh vực, địa bàn phụ trách, góp phần khơi thông được nguồn lực, đưa pháp luật thực sự trở thành lợi thế cạnh tranh, thiết lập được khung pháp lý hoàn thiện cho ngành, lĩnh vực, địa phương phát triển gắn với định hướng hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật.
Các bộ ngành, địa phương khẩn trương, chủ động nghiên cứu, hoàn thiện kết quả tổng rà soát hệ thống VBQPPL trên cơ sở ý kiến đánh giá, thẩm định của Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo (Bộ Tư pháp) và ý kiến đánh giá của các Bộ, cơ quan tại các Báo cáo chuyên đề; tiếp thu, giải trình đầy đủ, rõ ràng các ý kiến góp ý, ý kiến thẩm định của Bộ Tư pháp. Trong quá trình hoàn thiện kết quả rà soát, chỉ đạo thực hiện có hiệu quả việc tổ chức lấy ý kiến phản ánh, kiến nghị của đối tượng chịu sự tác động trực tiếp, nhất là người dân, doanh nghiệp và các chủ thể có trách nhiệm thi hành pháp luật về các mâu thuẫn, chồng chéo, khó khăn, vướng mắc, bất cập của hệ thống VBQPPL để đánh giá đúng, thực chất về thực trạng của hệ thống VBQPPL do Bộ, cơ quan phụ trách; chỉ đạo đẩy mạnh công tác truyền thông về tổng rà soát hệ thống VBQPPL, thông tin rộng rãi về mục đích, yêu cầu, vai trò, ý nghĩa, tình hình, kết quả tổng rà soát và các giải pháp hoàn thiện hệ thống VBQPPL.
Ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo hỗ trợ tổng rà soát hệ thống VBQPPL
Ngoài ra, Phó Thủ tướng cũng yêu cầu Bộ Khoa học và Công nghệ tiếp tục rà soát, ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể, nhất quán việc ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo hỗ trợ tổng rà soát hệ thống VBQPPL.
Bộ Tài chính tiếp tục theo dõi tình hình lập dự toán, bố trí kinh phí phục vụ tổng rà soát hệ thống VBQPPL của các bộ, ngành, địa phương; kịp thời hướng dẫn, xử lý vướng mắc, bảo đảm nguồn lực thực hiện.
Bộ Tư pháp tiếp tục phát huy có hiệu quả vai trò của cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo trong việc chủ trì, phối hợp với Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội và các cơ quan liên quan thực hiện: Tổ chức triển khai hiệu quả việc cho ý kiến thẩm định các Báo cáo tình hình, báo cáo sơ bộ kết quả tổng rà soát hệ thống VBQPPL của các cơ quan; khẩn trương tổng hợp kết quả tổng rà soát của các cơ quan, xây dựng dự thảo Báo cáo tình hình, sơ bộ kết quả tổng rà soát hệ thống VBQPPL, trình Chính phủ trước ngày 09 tháng 8 năm 2026./.