In bài viết

Chỉ đạo điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 11/01/2022

(Chinhphu.vn) - Văn phòng Chính phủ vừa có Thông cáo báo chí chỉ đạo điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 11/01/2022.

Bài viết Giang Thanh

11/01/2022 20:00

Thủ tướng yêu cầu thần tốc tiêm vaccine và đẩy mạnh thực hiện các biện pháp phòng COVID-19

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính vừa ký Công điện số 28/CĐ-TTg ngày 11/1/2022 về việc thần tốc tiêm vaccine và đẩy mạnh thực hiện các biện pháp phòng COVID-19

Công điện của Thủ tướng Chính phủ gửi Bộ trưởng Bộ Y tế, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và  Đào tạo; trưởng BCĐ phòng, chống dịch COVID-19 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, nêu rõ: Trước các diễn biến mới của dịch bệnh COVID-19 tại TP. Hà Nội và một số địa phương, nhất là nguy cơ bùng phát do biến chủng mới Omicron, để tiếp tục thực hiện hiệu quả các biện pháp phòng, chống dịch, nhất là vào dịp Tết Nhâm Dần, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu:

1. Trưởng BCĐ phòng, chống dịch COVID-19, chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tập trung chỉ đạo thực hiện nghiêm, quyết liệt các giải pháp phòng, chống dịch theo đúng các chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, BCĐ quốc gia phòng, chống dịch COVID-19, nhất là biện pháp 5K và đặc biệt là nâng cao ý thức người dân bảo vệ sức khỏe cho chính mình, cho gia đình mình, cho cộng đồng và các biện pháp ứng phó với biến chủng mới Omicron, tuyệt đối không lơ là chủ quan, mất cảnh giác; tăng cường việc điều trị tại nhà theo hướng dẫn kỹ lưỡng, chặt chẽ của Bộ Y tế đối với người nhiễm COVID-19 nhẹ và không có triệu chứng.

Trưởng BCĐ phòng, chống dịch COVID-19, chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện thần tốc hơn nữa chiến dịch tiêm chủng vaccine, bảo đảm an toàn, khoa học, hiệu quả theo hướng dẫn của Bộ Y tế và mục tiêu của Chính phủ đề ra; tổ chức các tổ lưu động khẩn trương tiêm vét vaccine ngay tại nhà cho những người không thể đến nơi tiêm tập trung.

Những địa phương, cơ quan, đơn vị nào không đủ lực lượng để tổ chức khám chữa bệnh COVID-19, tiêm chủng và nhất là lực lượng y tế cơ sở để triển khai tăng cường điều trị tại nhà theo hướng dẫn của Bộ Y tế thì báo cáo ngay cho cấp có thẩm quyền để tiến hành điều động lực lượng hỗ trợ nhanh chóng, kịp thời.

2. Bộ Y tế: Chịu trách nhiệm bảo đảm đủ vaccine phòng và thuốc cho điều trị COVID-19, tập trung chỉ đạo quyết liệt việc sản xuất, tự chủ vaccine trong nước nhanh nhất có thể và bảo đảm khoa học, an toàn, hiệu quả; có văn bản hướng dẫn cụ thể cho UNND, sở y tế tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về việc thần tốc hơn nữa tổ chức tiêm vaccine và tăng cường điều trị tại nhà; tiếp tục nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế, tham khảo ý kiến các chuyên gia về việc tiêm vaccine các mũi tăng cường phòng COVID-19; quyết liệt hơn nữa trong công tác thanh tra, kiểm tra, hướng dẫn, cá thể hóa trách nhiệm để phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí, lợi ích nhóm trong phòng, chống dịch COVID-19.

3. Bộ Y tế chủ trì cùng với Bộ Giáo dục và Đào tạo, các cơ quan hữu quan khẩn trương nghiên cứu, tham khảo kinh nghiệm quốc tế, trong nước về việc triển khai nhập khẩu, tiêm vaccine phòng COVID-19 cho trẻ em dưới 18 tuổi bảo đảm an toàn, kịp thời, khoa học, hiệu quả.

Thủ tướng yêu cầu Bộ Y tế khẩn trương có văn bản chấn chỉnh việc áp dụng các biện pháp phòng, chống dịch không phù hợp

Văn phòng Chính phủ vừa có văn bản số 242/VPCP-KGVX ngày 11/1/2022 trong đó nêu rõ, theo tổng hợp của Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, báo chí phản ánh một số việc như: Mệt mỏi vì quy định bán tại chỗ, mua mang về thay đổi liên tục (Báo điện tử Zing news ngày 04/01/2022), Trạm y tế ở Bình Dương tự ý thu tiền xét nghiệm khi đến tiêm vaccine (Báo điện tử Vietnamnet ngày 04/01/2022); người dân phản ánh một số địa phương áp dụng biện pháp quản lý, cách ly chưa phù hợp.

Về việc này, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính có ý kiến chỉ đạo:  Bộ Y tế khẩn trương có văn bản chấn chỉnh việc áp dụng các biện pháp phòng, chống dịch không phù hợp.

Chính phủ ban hành Nghị quyết về những giải pháp chủ yếu nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2022

Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết 02/NQ-CP ngày 10/1/2022 về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2022.

Nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu đề ra tại Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2021-2025, Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2022 theo các nghị quyết của Quốc hội, đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất, kinh doanh, thích ứng linh hoạt, hiệu quả với bối cảnh dịch COVID-19, Chính phủ ban hành Nghị quyết tiếp nối các Nghị quyết số 02/NQ-CP, Nghị quyết số 19/NQ-CP về cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và yêu cầu các bộ, ngành, địa phương, cơ quan, tổ chức liên quan tập trung triển khai thực hiện.

Mục tiêu tổng quát là cải thiện mạnh mẽ môi trường kinh doanh, nâng cao vị trí của nước ta trên các bảng xếp hạng quốc tế về môi trường kinh doanh và năng lực cạnh tranh nhằm thích ứng với xu thế phát triển của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tăng sức chống chịu của nền kinh tế trong bối cảnh dịch COVID-19; tăng nhanh về số lượng doanh nghiệp mới thành lập; giảm tỉ lệ doanh nghiệp giải thể, ngừng hoạt động; giảm chi phí đầu vào, chi phí không chính thức cho doanh nghiệp và người dân. Đẩy mạnh tháo gỡ khó khăn, vướng mắc do tác động tiêu cực của đại dịch COVID-19; kịp thời hỗ trợ người dân và doanh nghiệp phục hồi sản xuất kinh doanh, thích ứng linh hoạt, hiệu quả với dịch bệnh.

Đến năm 2025, phấn đấu thứ hạng năng lực cạnh tranh như sau: Năng lực cạnh tranh 4.0 (của WEF) thuộc Nhóm 50 nước đứng đầu; Phát triển bền vững (của UN) thuộc Nhóm 40 nước đứng đầu; Năng lực đổi mới sáng tạo (của WIPO) thuộc Nhóm 40 nước đứng đầu; Chính phủ điện tử (của UN) thuộc Nhóm 60 nước đứng đầu;...

Mục tiêu cụ thể năm 2022 cải thiện chất lượng, nâng cao thứ hạng các chỉ số môi trường kinh doanh, năng lực cạnh tranh đồng bộ với cải thiện xếp hạng tín nhiệm quốc gia của Moody’s, S&P và Fitch; về cải thiện Năng lực cạnh tranh 4.0 (GCI 4.0) theo xếp hạng của WEF: Nâng cao điểm số và duy trì thứ hạng chỉ số Chi phí tuân thủ pháp luật (gọi tắt là B1); nâng xếp hạng chỉ số Kiểm soát tham nhũng (B2) lên 10 bậc; nâng xếp hạng chỉ số Chất lượng quản lý hành chính đất đai (B3) lên ít nhất 1 bậc; nâng xếp hạng chỉ số Vốn hóa thị trường chứng khoán (B7) lên 2-3 bậc; nâng xếp hạng chỉ số Tăng trưởng về doanh nghiệp đổi mới sáng tạo (B9) lên 2-3 bậc;...

Để đạt được các mục tiêu nêu trên, Nghị quyết đề ra nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu: Tiếp tục tăng cường trách nhiệm, tính chủ động của các bộ được phân công làm đầu mối theo dõi việc cải thiện các bộ chỉ số và các bộ, cơ quan được phân công chủ trì, chịu trách nhiệm đối với các nhóm chỉ số, chỉ số thành phần.

Các bộ được phân công làm đầu mối theo dõi việc cải thiện các bộ chỉ số và các bộ, cơ quan được phân công chủ trì, chịu trách nhiệm đối với các nhóm chỉ số, chỉ số thành phần có trách nhiệm: Cập nhật, hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp liên quan tại các bộ, ngành, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; kịp thời đề xuất, báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ tháo gỡ khó khăn, vướng mắc về cơ chế, chính sách, giải pháp, nhiệm vụ phát sinh để cải thiện các chỉ số  được phân công.

Chủ động kết nối với các tổ chức quốc tế; tạo lập kênh phối hợp để cung cấp, cập nhật đầy đủ, kịp thời thông tin nhằm đánh giá, xếp hạng khách quan, chính xác.

Chủ trì, phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Văn phòng Chính phủ và các bộ, cơ quan liên quan xây dựng chế độ báo cáo, theo dõi tình hình, kết quả cải thiện đối với các bộ chỉ số, chỉ số  được phân công; cập nhật trên hệ thống thông tin báo cáo của bộ, ngành, kết nối với Hệ thống thông tin báo cáo Chính phủ phục vụ chỉ đạo, điều hành.

Các bộ, cơ quan chủ trì, chịu trách nhiệm cải thiện các yếu tố môi trường kinh doanh tiếp tục thực hiện các giải pháp theo hướng giảm số lượng thủ tục, thời gian, chi phí và rủi ro cho doanh nghiệp, bao gồm: Khởi sự kinh doanh; nộp thuế và bảo hiểm xã hội; cấp phép xây dựng và các thủ tục liên quan; tiếp cận tín dụng; bảo vệ nhà đầu tư; tiếp cận điện năng; đăng ký tài sản; giao dịch thương mại qua biên giới; giải quyết tranh chấp hợp đồng; và giải quyết phá sản doanh nghiệp.

Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội, Bộ Tài chính và các bộ, ngành, địa phương liên quan nghiên cứu điều chỉnh chỉ tiêu thống kê công bố trong lĩnh vực giáo dục-đào tạo để bảo đảm phù hợp với thông lệ quốc tế.

Chú trọng thực hiện 10 nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm

Nghị quyết nêu rõ, chú trọng thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm sau đây:

1- Cắt giảm danh mục ngành nghề đầu tư, kinh doanh có điều kiện và cải cách điều kiện kinh doanh.

2- Tập trung dỡ bỏ rào cản đối với hoạt động đầu tư, kinh doanh do chồng chéo, mâu thuẫn, không hợp lý, khác biệt của các quy định pháp luật.

3- Tiếp tục thúc đẩy cải cách quản lý, kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.

4- Đẩy mạnh cải cách về đăng ký  đất đai và đổi mới quản lý hành chính đất đai.

5- Thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp chuyển đổi số theo Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030” đồng bộ với thực hiện cải cách hành chính.

6- Tăng cường cải cách, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, quy định kinh doanh gắn với đẩy mạnh phân cấp, trao quyền cho địa phương và kiểm tra, giám sát.

7-  Đẩy mạnh thực hiện các giải pháp nhằm tạo chuyển biến vững chắc đối với các chỉ tiêu phát triển bền vững.

8- Tiếp tục chú trọng hỗ trợ người dân và doanh nghiệp phục hồi sản xuất kinh doanh, khắc phục các tác động tiêu cực của dịch bệnh COVID-19.

9- Phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, hỗ trợ, khuyến khích doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo.

10- Đẩy mạnh các hoạt động hợp tác quốc tế gắn với thực hiện cải cách trong nước về môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành, địa phương, cơ quan, tổ chức liên quan thực hiện các nhiệm vụ cụ thể phân công tại Nghị quyết.

Lịch nghỉ Tết Nhâm Dần từ 31/01/2022 đến hết ngày 04/02/2022

Văn phòng Chính phủ vừa ban hành Công văn số 245/VPCP-KGVX ngày 11/1/2022 truyền đạt ý kiến của Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam về việc nghỉ Tết Nguyên đán và Quốc khánh năm 2022 của cán bộ, công chức, viên chức và người lao động. Theo đó, Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Đức Đam có ý kiến như sau:

Đồng ý với đề nghị của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội về việc nghỉ Tết Nguyên đán Nhâm Dần từ ngày 31/01/2022 đến hết ngày 04/02/2022 và nghỉ lễ Quốc khánh từ ngày 01/9/2022 đến hết ngày 02/9/2022.

Các cơ quan, đơn vị thực hiện lịch nghỉ trên phải bố trí sắp xếp các bộ phận làm việc hợp lý để giải quyết công việc liên tục, bảo đảm tốt công tác phục vụ tổ chức, nhân dân và công tác phòng, chống dịch COVID-19.

Các dịp nghỉ hằng tuần, nghỉ lễ, Tết khác thực hiện theo quy định của Bộ luật lao động.

Các bộ, cơ quan, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện nghiêm các nhiệm vụ  được giao tại Chỉ thị số 35/CT-TTg ngày 31/12/2021 về việc tăng cường các biện pháp bảo đảm đón Tết Nguyên đán Nhâm Dần 2022 vui tươi, lành mạnh, an toàn, tiết kiệm.

Phó Thủ tướng ủy quyền Bộ trưởng Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội thông báo về việc nghỉ Tết Nguyên đán Nhâm Dần và nghỉ lễ Quốc khánh năm 2022.

Dự án đầu tư sử dụng đất phải bảo đảm không làm ô nhiễm, thoái hóa chất lượng đất

Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 08/2022/NĐ-CP ngày 10/1/2022 quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo vệ môi trường.

Nghị định quy định cụ thể về bảo vệ các thành phần môi trường (nước, không khí, đất) và di sản thiên nhiên.

Trong đó, Nghị định nêu rõ trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cộng đồng dân cư, hộ gia đình, cá nhân trong bảo vệ môi trường đất.

Cụ thể, việc triển khai dự án đầu tư, cơ sở, khu sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tập trung, cụm công nghiệp, hoạt động sản xuất nông nghiệp, sử dụng đất làm nghĩa trang, nghĩa địa, sử dụng đất sông, ngòi, kênh, rạch, suối và mặt nước chuyên dùng phải thực hiện các biện pháp phòng ngừa, giảm thiểu tác động xấu đến môi trường đất, bảo đảm không làm ô nhiễm, suy giảm, thoái hóa chất lượng đất, không làm mất hoặc giảm khả năng sử dụng đất theo mục đích đã được xác định.

Việc chuyển đổi đất trồng lúa sang trồng cây hàng năm, cây lâu năm hoặc trồng lúa kết hợp nuôi trồng thủy sản phải bảo đảm không làm ô nhiễm, suy thoái đất và được thực hiện theo quy định của pháp luật về đất đai.

Việc sử dụng đất cho hoạt động khoáng sản, sản xuất vật liệu xây dựng, làm đồ gốm phải bảo đảm không gây tác động xấu đến cảnh quan môi trường, cản trở dòng chảy; trả lại đất đúng với trạng thái mặt đất theo yêu cầu của cơ quan giao đất, cho thuê đất theo quy định của pháp luật về đất đai.

Cơ quan, tổ chức, cộng đồng dân cư, hộ gia đình và cá nhân gây ô nhiễm cho môi trường đất có trách nhiệm thực hiện việc điều tra, đánh giá chi tiết theo quy định; xây dựng và thực hiện phương án xử lý, cải tạo và phục hồi khu vực ô nhiễm môi trường đất.

Phương án xử lý, cải tạo và phục hồi môi trường đất phải được gửi tới cơ quan chuyên môn về bảo vệ môi trường cấp tỉnh để tổ chức kiểm tra, giám sát.

Phòng ngừa, giảm thiểu ô nhiễm môi trường nước

Theo Nghị định, nội dung chính của kế hoạch quản lý chất lượng nước mặt được quy định tại Khoản 2 Điều 9 Luật Bảo vệ môi trường. Một số nội dung được quy định chi tiết như sau:

Về đánh giá chất lượng môi trường nước mặt; xác định vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt, hành lang bảo vệ nguồn nước mặt; xác định khu vực sinh thủy bao gồm các nội dung: Hiện trạng, diễn biến chất lượng môi trường nước mặt đối với sông, hồ giai đoạn tối thiểu 3 năm gần nhất; tổng hợp hiện trạng các vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt, hành lang bảo vệ nguồn nước mặt, nguồn sinh thủy đã được xác định theo quy định của pháp luật về tài nguyên nước.

Biện pháp phòng ngừa và giảm thiểu ô nhiễm môi trường nước mặt; giải pháp hợp tác, chia sẻ thông tin và quản lý ô nhiễm nước mặt xuyên biên giới bao gồm: Các biện pháp quy định tại Khoản 2 Điều 7 Luật Bảo vệ môi trường đối với đoạn sông, hồ không còn khả năng chịu tải; các biện pháp, giải pháp bảo vệ các vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt, hành lang bảo vệ nguồn nước mặt, nguồn sinh thủy theo quy định của pháp luật về tài nguyên nước

Các giải pháp bảo vệ, cải thiện chất lượng môi trường nước mặt bao gồm: Các giải pháp về khoa học, công nghệ xử lý, cải thiện chất lượng môi trường nước mặt; các giải pháp về cơ chế, chính sách; các giải pháp về tổ chức, huy động sự tham gia của cơ quan, cộng đồng, tổ chức; các giải pháp công trình, phi công trình khác.

Biện pháp khẩn cấp trong trường hợp không khí bị ô nhiễm nghiêm trọng

Nghị định cũng quy định về thực hiện biện pháp khẩn cấp trong trường hợp chất lượng môi trường không khí bị ô nhiễm nghiêm trọng. Theo đó, trường hợp chất lượng môi trường không khí bị  ô nhiễm nghiêm trọng do sự cố môi trường, việc ứng phó sự cố môi trường được thực hiện theo quy định tại Mục 1 Chương X Luật Bảo vệ môi trường.

Trường hợp chất lượng môi trường không khí bị ô nhiễm nghiêm trọng không thuộc quy định trên, cơ quan có thẩm quyền chỉ đạo thực hiện các biện pháp khẩn cấp sau: Hạn chế, tạm dừng hoặc điều chỉnh thời gian hoạt động của cơ sở sản xuất có lưu lượng xả bụi, khí thải lưu lượng lớn ra môi trường và thuộc loại hình sản xuất có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường; hạn chế, phân luồng hoạt động của các phương tiện giao thông vận tải đường bộ; tạm dừng hoặc điều chỉnh thời gian làm việc của các cơ quan, tổ chức, trường học; tạm dừng hoạt động tập trung đông người ở ngoài trời.

Các hệ sinh thái tự nhiên trong di sản thiên nhiên phải được ưu tiên bảo tồn

Về bảo vệ môi trường đối với di sản thiên nhiên, Nghị định quy định: Hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong vùng lõi của di sản thiên nhiên được kiểm soát như đối với vùng bảo vệ nghiêm ngặt theo quy định về phân vùng môi trường của pháp luật về bảo vệ môi trường; hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong vùng đệm của di sản thiên nhiên được kiểm soát như đối với vùng hạn chế phát thải theo quy định về phân vùng môi trường của pháp luật về bảo vệ môi trường.

Các hệ sinh thái tự nhiên trong di sản thiên nhiên phải được ưu tiên bảo tồn và phục hồi nguyên trạng tự nhiên; môi trường đất, môi trường nước trong di sản thiên nhiên bị ô nhiễm, suy thoái phải được cải tạo, phục hồi.

Các giá trị cốt lõi của thiên nhiên và  đa dạng sinh học của di sản thiên nhiên phải được bảo vệ, bảo tồn nguyên vẹn; dịch vụ hệ sinh thái tự nhiên của di sản thiên nhiên phải được duy trì, phát triển và sử dụng bền vững.

Các chỉ số đặc trưng về địa chất, cảnh quan, sinh thái, đa dạng sinh học của di sản thiên nhiên phải được điều tra, đánh giá, theo dõi, giám sát, kiểm kê, báo cáo theo quy định.

Kết luận của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính tại buổi làm việc với lãnh đạo tỉnh Hưng Yên

Văn phòng Chính phủ vừa ban hành Thông báo số 10/TB-VPCP ngày 11/1/2022 kết luận của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính tại buổi làm việc với lãnh đạo tỉnh Hưng Yên.

Thủ tướng Chính phủ đánh giá cao, biểu dương nỗ lực của các cấp, các ngành, cộng đồng doanh nghiệp, nhân dân tỉnh Hưng Yên và những kết quả phát triển kinh tế-xã hội khá toàn diện đã đạt được trong năm 2021. GRDP ước tăng 6,52% (kế hoạch 6%); chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 8,8% (kế hoạch 8%); xuất khẩu đạt 5,167 tỷ USD, tăng 23,8%; tổng mức bán lẻ, dịch vụ tăng 7,06%; GRDP bình quân đầu người đạt 87,7 triệu đồng/năm. Thu ngân sách đạt 18.500 tỷ đồng, tăng 12,23%; thu hút được 69 dự án mới với số vốn đăng ký đạt 2,945 tỷ USD. Các lĩnh vực văn hóa, xã hội, công tác an sinh, phúc lợi xã hội tiếp tục được quan tâm thực hiện. Tỉ lệ hộ nghèo còn 2,55% (theo chuẩn mới); tỉ lệ tham gia bảo hiểm y tế đạt 92%; tỉ lệ lao động trong độ tuổi tham gia bảo hiểm xã hội đạt 35%; tỉ lệ lao động qua đào tạo đạt 67%. Cơ bản làm tốt công tác phòng chống dịch bệnh; giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội. Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ngày càng được nâng lên.

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, Hưng Yên còn một số khó khăn, hạn chế: Quy mô kinh tế phát triển chưa tương xứng với điều kiện thuận lợi, tiềm năng, lợi thế nổi trội, với truyền thống, lịch sử văn hóa của tỉnh, mong muốn của lãnh đạo Đảng, Nhà nước và của nhân dân. Phát triển chưa theo chiều sâu, chưa dựa nhiều vào khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Công tác quy hoạch chưa được tập trung nghiên cứu, đầu tư thỏa đáng. Phát triển đô thị còn hạn chế. Hạ tầng giao thông, hạ tầng số, hạ tầng ứng phó biến đổi khí hậu, hạ tầng y tế, hạ tầng xã hội chưa phát triển như mong muốn. Nguồn nhân lực nhất là nhân lực chất lượng cao chưa đáp ứng nhu cầu của các nhà đầu tư. Cải cách thủ tục hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh còn ở mức thấp so với các địa phương trong vùng.

8 nhiệm vụ, giải pháp

Thủ tướng đặt ra 8 nhiệm vụ, giải pháp trong thời gian tới đối với tỉnh Hưng Yên. Cụ thể:

1. Về định hướng phát triển: Tiếp tục triển khai, cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần XIII, các nghị quyết, kết luận của Trung ương, Nghị quyết của Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX và chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại lễ kỷ niệm 25 năm tái thành lập tỉnh Hưng Yên, để xây dựng Hưng Yên sớm trở thành tỉnh công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ hiện đại, hiệu quả cao, phát triển nhanh và bền vững.

2. Khẩn trương hoàn thiện các quy hoạch của tỉnh để tìm và phát huy tiềm năng khác biệt, cơ hội nổi trội, lợi thế cạnh tranh, khắc phục các hạn chế, yếu kém, thách thức, giải quyết mâu thuẫn giữa tiềm năng rất lớn nhưng cơ chế, chính sách còn hạn hẹp, hiệu quả chưa cao. Chú trọng công tác quy hoạch, quản lý đô thị, bảo đảm các yêu cầu về pháp lý và không ảnh hưởng đến mô hình phát triển của tỉnh trong tương lai.

3. Đa dạng hóa huy động nguồn lực, đẩy mạnh hợp tác công tư, lấy nguồn lực Nhà nước dẫn dắt và kích hoạt mọi nguồn lực xã hội bằng 3 hình thức: Lãnh đạo công - quản trị tư; đầu tư tư-sử dụng công; đầu tư công-quản lý tư.

4. Phát huy tính tự lực, tự cường, tự chủ, linh hoạt để phát huy tối đa truyền thống lịch sử văn hóa, điều kiện tự nhiên; phát triển kinh tế-xã hội đi đôi với bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống và bảo vệ môi trường; giải quyết tốt các vấn đề xã hội. Nâng cao năng suất lao động, chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng phát triển kinh tế xã hội của tỉnh.

5. Phát triển hệ thống hạ tầng chiến lược, tập trung vào giao thông kết nối, phát triển đô thị, hạ tầng số để thúc đẩy Chính phủ số, công dân số, kinh tế số; chú trọng hạ tầng thích ứng biến đổi khí hậu, hạ tầng y tế và giáo dục. Phát triển các khu công nghiệp theo hướng bền vững, hiện đại; thu hút các ngành công nghiệp sạch, công nghiệp công nghệ cao.

6. Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền, nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh; tăng cường dịch vụ công trực tuyến. Quyết tâm khắc phục những hạn chế, tồn tại, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh để thu hút nguồn lực từ bên ngoài, thúc đẩy phát triển kinh tế và phát triển bền vững.

7. Tiếp tục thực hiện nghiêm các chỉ  đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Ban Chỉ  đạo quốc gia, Bộ Y tế về phòng, chống dịch COVID-19, tập trung thần tốc hơn nữa việc tiêm vaccine để  đạt mục tiêu Chính phủ đã đề ra, đảm bảo khoa học, an toàn, hiệu quả, triển khai thực hiện kế hoạch thích ứng an toàn, linh hoạt kiểm soát hiệu quả dịch COVID-19 trong tình hình mới.

8. Coi trọng công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức Đảng và đảng viên, thực hiện nghiêm túc, quyết liệt, hiệu quả các nghị quyết, kết luận, chỉ thị của Trung ương, gắn với học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Cương quyết, kiên trì xây dựng bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, xây dựng đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực, nhất là người đứng đầu, tinh giản biên chế gắn với cơ cấu lại và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Giữ vững đoàn kết, thống nhất trên cơ sở tình cảm chân thành, tin cậy lẫn nhau, tuân thủ quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, phát huy truyền thống đoàn kết của các lớp cha anh đi trước trong tỉnh và tinh thần đại đoàn kết của dân tộc.

Phê duyệt Đề án Bồi dưỡng nghiệp vụ đối với cán bộ, công chức làm công tác tín ngưỡng, tôn giáo

Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh vừa ký Quyết định số 43/QĐ-TTg ngày 11/1/2022 phê duyệt Đề án “Bồi dưỡng nghiệp vụ đối với cán bộ, công chức làm công tác tín ngưỡng, tôn giáo giai đoạn 2022 - 2026”.

Theo Quyết định, đối tượng làm công tác tín ngưỡng, tôn giáo gồm:

a) Công chức làm công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo của Ban Tôn giáo Chính phủ trực thuộc Bộ Nội vụ; cơ quan chuyên môn làm nhiệm vụ quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; cơ quan chuyên môn làm nhiệm vụ quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo thuộc Ủy ban nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc thành phố trực thuộc Trung ương.

b) Cán bộ, công chức làm công tác tín ngưỡng, tôn giáo của các tổ chức chính trị-xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện, gồm: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Cựu Chiến binh Việt Nam; cán bộ, công chức làm công tác tín ngưỡng, tôn giáo của Ban Dân vận Trung ương, Ban Dân vận cấp tỉnh, cấp huyện; cán bộ, công chức làm công tác tín ngưỡng, tôn giáo thuộc các Bộ: Ngoại giao, Công an, Quốc phòng.

c) Cán bộ, công chức kiêm nhiệm công tác tín ngưỡng, tôn giáo ở cấp xã.

Đề án được triển khai tại 63 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, trong đó chú trọng vùng trọng điểm về tín ngưỡng, tôn giáo.

Mục tiêu của Đề án là nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng và hiệu quả xử lý các vấn đề liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo cho cán bộ, công chức làm công tác tín ngưỡng, tôn giáo; đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra trong tình hình mới, góp phần thực hiện thành công chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo.

Đề án nêu rõ, phấn đấu thực hiện bồi dưỡng, tập huấn nghiệp vụ tín ngưỡng, tôn giáo đối với 100% công chức làm công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo ở trung ương; 80% công chức làm công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng ở cấp tỉnh, cấp huyện; 80% cán bộ, công chức kiêm nhiệm công tác tín ngưỡng, tôn giáo ở cấp xã...

4 nhóm nhiệm vụ và giải pháp

Để đạt được mục tiêu đề ra, Quyết định cũng nêu rõ 4  nhóm nhiệm vụ và giải pháp gồm:

1. Nâng cao nhận thức về vai trò, nhiệm vụ của công tác tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ tín ngưỡng, tôn giáo. Đổi mới công tác tập huấn, bồi dưỡng kỹ năng nghiệp vụ về tín ngưỡng, tôn giáo gồm: nội dung chương trình; tài liệu tập huấn, bồi dưỡng; phương pháp giảng dạy để phù hợp với từng loại đối tượng và cập nhật kiến thức cho cán bộ, công chức làm công tác tín ngưỡng, tôn giáo.

2. Xây dựng, hoàn thiện chương trình, tài liệu tập huấn, bồi dưỡng: Xây dựng 03 khung chương trình, tài liệu tập huấn, bồi dưỡng, gồm cơ bản, chuyên sâu và kỹ năng, nghiệp vụ về tín ngưỡng, tôn giáo theo vị trí việc làm.

3. Tổ chức tập huấn, bồi dưỡng: Bộ Nội vụ chủ trì tổ chức tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ tín ngưỡng, tôn giáo đối với cán bộ, công chức làm công tác tín ngưỡng, tôn giáo của cơ quan, tổ chức chính trị-xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh.

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chủ trì tổ chức tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ tín ngưỡng, tôn giáo đối với cán bộ, công chức làm công tác tín ngưỡng, tôn giáo của cơ quan, tổ chức chính trị-xã hội ở cấp huyện, cấp xã.

4. Nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên: Xây dựng đội ngũ giảng viên có trình độ chuyên môn phù hợp, có kinh nghiệm trong hoạt động thực tiễn, quản lý; có năng lực chuyên môn và kỹ năng sư phạm.

Đề án thực hiện từ năm 2022 đến hết năm 2026. Kinh phí thực hiện Đề án do ngân sách nhà nước đảm bảo theo phân cấp ngân sách hiện hành.

Bổ nhiệm lại Phó Tổng Giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam

Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Khái đã ký Quyết định số 26/QĐ-TTg ngày 8/1/2022 bổ nhiệm lại ông Đào Việt Ánh giữ chức Phó Tổng Giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam.

Bảo quản, tu bổ, phục hồi Quần thể di tích Cố đô Huế

Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam vừa ký Quyết định số 42/QĐ-TTg ngày 11/1/2022 phê duyệt nhiệm vụ lập Quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi Quần thể di tích Cố đô Huế.

Phạm vi nghiên cứu lập quy hoạch gồm: Không gian hình thành và phát triển Cố đô lịch sử, không gian cảnh quan, các địa danh, địa điểm, địa giới tự nhiên có quan hệ mật thiết trong quá trình hình thành Quần thể di tích Cố đô Huế, bao gồm: Khu vực Kinh thành Huế, Kim Long, Bao Vinh, Gia Hội, núi Kim Phụng, núi Ngự Bình, đồi Vọng Cảnh, cồn Hến, cồn Dã Viên, cửa biển Thuận An, đầm phá Tam Giang-Cầu Hai, lưu vực sông Hương và các chi lưu thuộc địa giới hành chính thành phố Huế, thị xã Hương Trà, thị xã Hương Thủy, huyện Quảng Điền và huyện Phú Vang.

Quy mô lập quy hoạch, bao gồm:

Khu vực bảo vệ của Di sản văn hóa thế giới Quần thể di tích Cố đô Huế được UNESCO công nhận vào năm 1993, cập nhật năm 2011, bao gồm các điểm di tích: Kinh thành Huế, chùa Thiên Mụ, Văn Miếu và Võ Miếu, Hổ Quyền và Voi Ré, Đàn Nam Giao, điện Hòn Chén, các lăng: Dục Ðức, Tự Đức, Ðồng Khánh, Thiệu Trị, Khải Định, Minh Mạng, Gia Long và Trấn Hải Thành.

Khu vực bảo tồn cảnh quan sông Hương gắn với di tích; các trục, tuyến không gian cảnh quan văn hóa, các quần cư lâu đời gắn với từng di tích; các khu vực tổ chức hoạt động phát huy giá trị di tích, kết nối hạ tầng kỹ thuật nội bộ và hệ thống giao thông, hạ tầng chung có liên quan.

Một trong những nội dung nhiệm vụ lập quy hoạch là nghiên cứu bối cảnh vùng, những nội dung có liên quan được nêu trong chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội, quốc phòng, an ninh của tỉnh Thừa Thiên Huế đã được phê duyệt. Xác định vai trò, vị thế của Quần thể di tích Cố đô Huế trong chiến lược phát triển đô thị di sản Thừa Thiên Huế nói chung và thành phố Huế nói riêng.

Bên cạnh đó, yêu cầu nghiên cứu khảo sát, đánh giá hiện trạng di tích; xác định đặc trưng và giá trị tiêu biểu của di tích; nghiên cứu, nhận diện, làm rõ giá trị về di sản văn hóa, lịch sử, kiến trúc nghệ thuật, cảnh quan thiên nhiên, di sản văn hóa phi vật thể, di sản tư liệu và giá trị khác có liên quan; xác định quan điểm, mục tiêu dài hạn, ngắn hạn của quy hoạch.

Về nội dung và định hướng quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi và phát huy giá trị di tích; định hướng tổ chức không gian kiến trúc, cảnh quan và xây dựng công trình mới, xác định ranh giới khu vực khoanh vùng bảo vệ di tích, khu vực cảnh quan thiên nhiên, khu vực hạn chế xây dựng, khu vực xây dựng mới; đề xuất việc xếp hạng bổ sung công trình, địa điểm di tích mới phát hiện. Định hướng giải phóng mặt bằng, giải tỏa lấn chiếm và phương án tái định cư.

Quy hoạch phân vùng chức năng theo cụm di tích, từng di tích bao gồm: các khu vực bảo vệ di tích, bảo vệ cảnh quan văn hóa, sinh thái, môi trường; các khu vực phát huy giá trị di tích, hạ tầng kinh tế-xã hội, hạ tầng kỹ thuật và giao thông; thiết lập hoàn chỉnh các không gian chức năng, kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội, văn hóa, du lịch, hạ tầng kỹ thuật, cân bằng giữa bảo tồn di sản và phát triển kinh tế, du lịch.

Đề xuất phương án bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích; danh mục công trình cần bảo quản, tu bổ, phục hồi và mức độ bảo quản, tu bổ, phục hồi đối với từng công trình; nguyên tắc và giải pháp cơ bản đối với việc bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích; định hướng giải pháp bảo quản, tu bổ, phục hồi các di tích, cảnh quan không gian, di sản văn hoá phi vật thể, di sản tư liệu liên quan đến di tích; đề xuất nghiên cứu khảo cổ học bổ sung trong khu vực di tích; nghiên cứu xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu, số liệu, hồ sơ khoa học cho toàn bộ quần thể Di tích Cố đô Huế và từng điểm di tích.

Đề xuất giải pháp kết nối, tổ chức không gian và các giải pháp phát huy giá trị di sản thông qua hoạt động du lịch văn hóa; thiết lập khung sáng kiến cộng đồng, đa dạng hóa sản phẩm gắn với chiến lược truyền thông và thương hiệu; hoàn thiện cơ chế, chính sách, đề xuất lộ trình chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ và tự động hóa trong quản trị bảo tồn và phát huy giá trị di tích./.