In bài viết

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 11/8/2026

(Chinhphu.vn) - Văn phòng Chính phủ vừa có Thông cáo báo chí chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 11/8/2026.

11/08/2026 18:40

Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Kết luận số 76-KL/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về tiếp tục hoàn thiện, vận hành hiệu quả mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền địa phương 02 cấp

Chính phủ ra Nghị quyết số 221/NQ-CP ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Kết luận số 76-KL/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về tiếp tục hoàn thiện, vận hành hiệu quả mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền địa phương 02 cấp (Chương trình).

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 11/8/2026- Ảnh 1.

Nghị quyết yêu cầu các bộ, cơ quan ngang bộ thực hiện sắp xếp tổ chức bộ máy bên trong đồng bộ với phân cấp, phân quyền, hoàn thành trong tháng 10/2026.

Mục đích của Chương trình nhằm tổ chức triển khai nghiêm túc, toàn diện, đồng bộ, hiệu quả Kết luận số 76-KL/TW và Kế hoạch số 06-KH/TW; tạo sự thống nhất cao trong chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các bộ, ngành, địa phương về tiếp tục hoàn thiện, vận hành hiệu quả mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền địa phương 02 cấp.

Bám sát quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp tại Kết luận số 76-KL/TW, Kế hoạch số 06-KH/TW và các chủ trương, kết luận có liên quan của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư; bảo đảm việc triển khai đúng định hướng, đúng thẩm quyền, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của từng bộ, cơ quan ngang bộ và địa phương.

Đồng thời, cụ thể hóa các nhiệm vụ thuộc trách nhiệm của Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ và chính quyền địa phương; xác định rõ nhiệm vụ, cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp, sản phẩm, thời hạn hoàn thành và cơ chế theo dõi, đôn đốc, kiểm tra, đánh giá. Các nhiệm vụ, giải pháp phải cụ thể, khả thi, có trọng tâm, trọng điểm; xác định rõ việc cần làm ngay, việc thực hiện thường xuyên; bảo đảm rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ tiến độ, rõ kết quả.

Bên cạnh đó, đề cao trách nhiệm của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; kịp thời xử lý khó khăn, vướng mắc; tăng cường theo dõi, đôn đốc, kiểm tra, giám sát và đánh giá kết quả thực hiện.

09 nhiệm vụ, giải pháp

Chương trình đưa ra 09 nhiệm vụ, giải pháp sau: (1) Quán triệt, xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện Kết luận số 76-KL/TW và Kế hoạch số 06-KH/TW; (2) Hoàn thiện thể chế, chức năng, nhiệm vụ, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với nguồn lực, công cụ thực thi và kiểm soát quyền lực, cắt giảm thủ tục hành chính; (3) Nghiên cứu xây dựng khu kinh tế đặc biệt để tạo không gian phát triển mới, nghiên cứu mô hình đơn vị hành chính cấp xã mang tính hạt nhân; (4) Nghiên cứu khung tổ chức hệ thống hành chính nhà nước phù hợp với mô hình mới; (5) Rà soát, hoàn thiện tiêu chí, tiêu chuẩn, định mức kinh tế - kỹ thuật, bảo đảm nguồn lực cho cấp xã; (6) Sắp xếp, tinh gọn bộ máy bên trong các bộ, cơ quan ngang bộ và sắp xếp, tổ chức lại mạng lưới đơn vị sự nghiệp công lập; (7) Cơ cấu lại, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, nhất là cấp xã; (8) Đẩy mạnh chuyển đổi số, liên thông dữ liệu, chuẩn hóa phần mềm phục vụ vận hành mô hình 02 cấp; (9) Xử lý hiệu quả trụ sở, tài sản công, hồ sơ, tài liệu sau sắp xếp.

Đẩy nhanh tiến độ rà soát, ban hành các văn bản pháp luật, tháo gỡ điểm nghẽn thể chế cho địa phương

Về hoàn thiện thể chế, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, cắt giảm thủ tục hành chính, Nghị quyết yêu cầu:

Các bộ, cơ quan ngang bộ tiếp tục hoàn thiện thể chế, đẩy nhanh tiến độ rà soát, ban hành các văn bản pháp luật quy định chi tiết, thi hành nhằm tháo gỡ dứt điểm, kịp thời điểm nghẽn về thể chế cho địa phương; đồng bộ hệ thống pháp luật về phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền gắn với bảo đảm nguồn lực và cơ chế kiểm soát quyền lực.

Trọng tâm là xử lý các quy định còn chồng chéo, giao thoa, chưa rõ trách nhiệm hoặc chưa phù hợp với mô hình mới; bảo đảm một việc có một cơ quan chủ trì, một đầu mối chịu trách nhiệm chính, một nguồn dữ liệu liệu dùng chung, một quy trình phối hợp liên thông và một cơ chế kiểm tra, giám sát. Đẩy mạnh cắt giảm thủ tục hành chính, giảm chi phí thực hiện thủ tục hành chính (thực hiện thường xuyên).

Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan (Bộ Công an, Bảo hiểm xã hội Việt Nam,...) tổ chức rà soát, cắt giảm thủ tục xác nhận, xác minh, xin ý kiến, thỏa thuận trong giải quyết hồ sơ, đặc biệt lưu ý cắt giảm dựa trên dữ liệu, liên thông điện tử của các cơ quan nhà nước, hạn chế tối đa đẩy trách nhiệm cho người dân, doanh nghiệp; bảo đảm tính thống nhất, liên thông và hiệu quả trong quá trình giải quyết thủ tục hành chính cho người dân, doanh nghiệp (hoàn thành trong tháng 10/2027).

Đồng thời, phối hợp với Bộ Nội vụ và các bộ, cơ quan ngang bộ trong quá trình sửa đổi, bổ sung hoặc đề xuất cấp có thẩm quyền điều chỉnh các quy định của pháp luật liên quan đến tổ chức bộ máy, phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền cho địa phương, nhất là cấp xã, bảo đảm bộ máy chính quyền cơ sở tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả (thực hiện thường xuyên).

Bổ sung, điều chỉnh các quy định pháp luật về tổ chức bộ máy trong tháng 10/2026

Bộ Nội vụ chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp và các bộ, cơ quan ngang bộ sửa đổi, bổ sung hoặc đề xuất cấp có thẩm quyền điều chỉnh các quy định của pháp luật liên quan đến tổ chức bộ máy (hoàn thành trong tháng 10/2026).

Bên cạnh đó, tiếp tục rà soát các nhiệm vụ đã phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền cho địa phương, nhất là cấp xã; đánh giá mức độ phù hợp, khả năng thực hiện và điều kiện bảo đảm. Phân cấp, phân quyền phải thực chất, theo phương châm "địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm"; đồng thời gắn với nhân lực, kinh phí, dữ liệu, hạ tầng số, hướng dẫn chuyên môn, công cụ thực thi và cơ chế hậu kiểm. Kiên quyết chấm dứt tình trạng giao nhiệm vụ nhưng không bảo đảm điều kiện thực hiện (thực hiện thường xuyên).

Đồng thời, Bộ Nội vụ chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ và địa phương rà soát, bổ sung và hoàn thiện các quy định về khuyến khích, bảo vệ cán bộ, đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung theo hướng xác định rõ tiêu chí, điều kiện áp dụng, thẩm quyền xem xét, trách nhiệm của các cơ quan liên quan và cơ chế xử lý đối với các trường hợp cụ thể (hoàn thành trong tháng 10/2026).

Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Bộ Quốc phòng và các cơ quan liên quan của Chính phủ thống nhất với Ban Tổ chức Trung ương đề xuất điều chỉnh một số nhiệm vụ còn giao thoa, chồng lấn nêu tại Kết luận số 64-KL/TW ngày 01/7/2026 của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, bảo đảm phù hợp, hiệu lực, hiệu quả, báo cáo Bộ Chính trị xem xét, quyết định (hoàn thành trong tháng 8/2026).

Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, hoàn thiện thể chế về chuyển đổi số, phát triển nguồn nhân lực số đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số; bổ sung chế tài xử lý đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân không hoàn thành nhiệm vụ trong chuyển đổi số (nếu do chủ quan) (thực hiện thường xuyên).

Bộ Tài chính chủ trì cập nhật, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về cơ chế, định mức, tiêu chí phân bổ ngân sách cho cấp xã; hướng dẫn việc phân cấp quản lý tài sản công, tài sản kết cấu hạ tầng của các đơn vị sự nghiệp sau sắp xếp (hoàn thành trong tháng 10/2026).

Hoàn thiện hồ sơ sức khoẻ điện tử trên VNeID và kết nối dữ liệu y tế từ cấp xã đến cấp tỉnh trong tháng 10/2026

Về sắp xếp, tinh gọn bộ máy bên trong các bộ, cơ quan ngang bộ và sắp xếp, tổ chức lại mạng lưới đơn vị sự nghiệp công lập, Nghị quyết yêu cầu các bộ, cơ quan ngang bộ thực hiện sắp xếp tổ chức bộ máy bên trong đồng bộ với phân cấp, phân quyền (hoàn thành trong tháng 10/2026).

Đối với cơ sở giáo dục đại học công lập: Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với Bộ Nội vụ, các bộ, cơ quan ngang bộ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương sắp xếp, tổ chức lại theo hướng: (i) Chuyển cơ sở giáo dục đại học đa ngành, đa lĩnh vực về Bộ Giáo dục và Đào tạo hoặc địa phương quản lý, sáp nhập, hợp nhất cơ sở giáo dục trên cùng địa bàn, trừ các cơ sở giáo dục thuộc lĩnh vực đặc thù; (ii) Giảm tối thiểu 20% đầu mối cơ sở giáo dục đại học công lập (hoàn thành trước ngày 01/4/2027).

Đối với cơ sở giáo dục nghề nghiệp và thường xuyên: Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với Bộ Nội vụ, các bộ, cơ quan ngang bộ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương sắp xếp, tổ chức lại theo hướng: (i) Chuyển cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập trực thuộc bộ, ngành về địa phương quản lý, trừ một số cơ sở giáo dục nghề nghiệp thuộc lĩnh vực đặc thù; (ii) Giảm tối thiểu 30% số cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập (hoàn thành trước ngày 01/10/2026).

Bộ Y tế chủ trì, sắp xếp, tổ chức lại theo hướng giảm các đầu mối bệnh viện, cơ sở giáo dục đại học trực thuộc Bộ Y tế và giảm đầu mối khối giám định pháp y và giám định tâm thần. Chủ trì, hoàn thiện mô hình tổ chức trạm y tế cấp xã bảo đảm cung ứng dịch vụ y tế cơ bản, chăm sóc sức khỏe ban đầu, cơ bản thiết yếu cho người dân ngay tại cơ sở; xác định mô hình và tổ chức, sắp xếp lại các trung tâm y tế khu vực bảo đảm hoạt động hiệu quả, không chồng chéo nhiệm vụ. Phối hợp với các địa phương rà soát, bổ sung nhân lực y tế, trang thiết bị, cơ sở vật chất, thuốc thiết yếu cho trạm y tế cấp xã; xây dựng, hoàn thiện hồ sơ sức khoẻ điện tử trên VNeID và kết nối dữ liệu y tế từ cấp xã đến cấp tỉnh (hoàn thành trong tháng 10/2026).

Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Nội vụ chủ trì, trình Chính phủ hoặc ban hành văn bản theo thẩm quyền hướng dẫn tiếp tục sắp xếp các đơn vị sự nghiệp công lập, các cơ sở giáo dục mầm non, tiểu học, phổ thông ở các xã, phường tại địa phương. Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chỉ đạo tiếp tục sắp xếp các đơn vị sự nghiệp công lập, các cơ sở giáo dục mầm non, tiểu học, phổ thông ở các xã, phường, cơ sở y tế tại địa phương (hoàn thành trong tháng 8/2026).

Quy định về kiểm định và kiểm tra an ninh thiết bị kỹ thuật bảo vệ bí mật nhà nước

Chính phủ ban hành Nghị định số 315/2026/NĐ-CP ngày 10/8/2026 quy định về kiểm định và kiểm tra an ninh thiết bị kỹ thuật bảo vệ bí mật nhà nước.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 11/8/2026- Ảnh 2.

Quy định về kiểm định và kiểm tra an ninh thiết bị kỹ thuật bảo vệ bí mật nhà nước.

Nghị định này quy định về danh mục thiết bị kỹ thuật bắt buộc kiểm định, kiểm tra an ninh liên quan đến bí mật nhà nước; nguyên tắc, thẩm quyền, hồ sơ, trình tự, thủ tục, nội dung, quy trình, quản lý hoạt động kiểm định an ninh, hoạt động kiểm tra an ninh; trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan đến hoạt động kiểm định an ninh, hoạt động kiểm tra an ninh thiết bị kỹ thuật liên quan đến bí mật nhà nước.

Nghị định này không điều chỉnh hoạt động kiểm định, kiểm tra sản phẩm mật mã và các thiết bị điện tử, tin học dùng để cài đặt chương trình phần mềm mật mã; hoạt động kiểm định, kiểm tra an ninh thiết bị kỹ thuật theo Nghị định này không thay thế hoạt động kiểm tra an ninh mạng được điều chỉnh tại Luật An ninh mạng.

Nghị định này áp dụng đối với các cơ quan đảng, nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, doanh nghiệp nhà nước quản lý, sử dụng thiết bị kỹ thuật bắt buộc phải kiểm định, kiểm tra an ninh; đơn vị kiểm định an ninh, đơn vị kiểm tra an ninh; cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động kiểm định, hoạt động kiểm tra an ninh thiết bị kỹ thuật.

Nguyên tắc kiểm định an ninh, kiểm tra an ninh

Nghị định quy định nguyên tắc kiểm định an ninh, kiểm tra an ninh phải tuân thủ pháp luật, khách quan, kịp thời, chính xác.

Đồng thời, bảo đảm sự phân công, phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, tổ chức liên quan; không gây cản trở, ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức sử dụng đối tượng kiểm định, đối tượng kiểm tra.

Bộ Công an, Bộ Quốc phòng theo thẩm quyền giao đơn vị có đủ năng lực, điều kiện về cơ sở vật chất, kỹ thuật và các điều kiện cần thiết thực hiện hoạt động kiểm định an ninh, kiểm tra an ninh theo quy định tại Nghị định này. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giao cơ quan chuyên môn có chức năng quản lý về an ninh, trật tự thực hiện hoạt động kiểm tra an ninh tại địa phương theo hướng dẫn của Bộ trưởng Bộ Công an (trừ lĩnh vực do Bộ Quốc phòng quản lý).

Bộ Công an, Bộ Quốc phòng công bố đơn vị kiểm định, đơn vị kiểm tra thuộc phạm vi quản lý; Ủy ban nhân dân cấp tỉnh công bố đơn vị kiểm tra được giao thực hiện hoạt động kiểm tra an ninh tại địa phương.

Danh mục thiết bị kỹ thuật bắt buộc phải kiểm định, kiểm tra an ninh và tiêu chí về an ninh thiết bị kỹ thuật

Danh mục thiết bị kỹ thuật bắt buộc phải kiểm định, kiểm tra an ninh được quy định tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này. Ngoài danh mục thiết bị kỹ thuật quy định tại Phụ lục I, Bộ Quốc phòng xây dựng, ban hành danh mục thiết bị kỹ thuật bắt buộc phải kiểm định, kiểm tra an ninh thuộc lĩnh vực quốc phòng (*).

Bộ Công an xây dựng, ban hành bộ tiêu chí an ninh thiết bị kỹ thuật làm căn cứ thực hiện hoạt động kiểm định an ninh, kiểm tra an ninh phù hợp với yêu cầu quản lý, điều kiện kỹ thuật, công nghệ của thiết bị kỹ thuật. Ngoài bộ tiêu chí an ninh thiết bị kỹ thuật này, Bộ Quốc phòng xây dựng, ban hành bộ tiêu chí an ninh thiết bị kỹ thuật phù hợp với yêu cầu quản lý, điều kiện kỹ thuật, công nghệ của thiết bị kỹ thuật trong phạm vi, lĩnh vực thuộc Bộ Quốc phòng quản lý.

Yêu cầu đối với thiết bị kỹ thuật đưa vào kiểm định an ninh, kiểm tra an ninh

Nghị định quy định thiết bị đưa vào kiểm định phải bảo đảm nguyên trạng của nhà sản xuất; thiết bị đưa vào kiểm tra phải đang hoạt động bình thường, ổn định.

Đối với việc kiểm định, thiết bị nhập khẩu phải có đủ các loại giấy tờ sau: Giấy chứng nhận xuất xứ (Certificate of origin - CO), Chứng nhận chất lượng (Certificate of quality - CQ).

Tài liệu kỹ thuật và các giấy tờ khác có liên quan (nếu có).

Ngoài các yêu cầu nêu trên, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định yêu cầu đối với thiết bị đưa vào kiểm định an ninh, kiểm tra an ninh trong phạm vi, lĩnh vực quản lý.

Thời gian kiểm định an ninh, kiểm tra an ninh

Kiểm định an ninh thực hiện đối với đối tượng kiểm định trước khi đưa vào sử dụng. Đối với đối tượng kiểm định do cơ quan có thẩm quyền cấp đã được kiểm định an ninh thì không phải thực hiện quy trình kiểm định theo quy định tại Điều 10 Nghị định này.

Kiểm tra an ninh thực hiện định kỳ 03 năm/01 lần tính từ thời điểm thiết bị được dán tem kiểm định hoặc tem kiểm tra gần nhất.

Kiểm tra an ninh bất thường thực hiện đối với đối tượng kiểm tra sau khi khắc phục xong sự cố; sau khi nâng cấp, cài đặt bổ sung, thay thế phần cứng, phần mềm; khi có yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền hoặc theo nhu cầu của tổ chức, cá nhân quản lý, sử dụng đối tượng kiểm tra.

Đối với thiết bị kỹ thuật thuộc danh mục do Bộ Quốc phòng ban hành quy định tại (*), Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định thời gian kiểm tra.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/5/2027.

Đối với thiết bị kỹ thuật đã đưa vào sử dụng trước thời điểm Nghị định này có hiệu lực thì không cần kiểm định an ninh, chỉ áp dụng quy định kiểm tra an ninh theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 8 Nghị định này. Việc kiểm tra định kỳ trong trường hợp này được tính từ thời điểm Nghị định này có hiệu lực.

Chương trình quốc gia phát triển nhân lực trí tuệ nhân tạo đến năm 2030, định hướng đến năm 2035

Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu vừa ký Quyết định số 1528/QĐ-TTg ngày 11/8/2026 phê duyệt Chương trình quốc gia phát triển nhân lực trí tuệ nhân tạo đến năm 2030, định hướng đến năm 2035 (Chương trình).

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 11/8/2026- Ảnh 3.

Mục tiêu đến năm 2030, hình thành hệ thống giáo dục tích hợp trí tuệ nhân tạo ở tất cả các cấp học và trình độ đào tạo.

Mục tiêu của Chương trình nhằm phát triển đội ngũ nhân lực trí tuệ nhân tạo có quy mô, cơ cấu và chất lượng đáp ứng yêu cầu phát triển các ngành công nghệ chiến lược, nâng cao năng lực tự chủ công nghệ quốc gia, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, phát triển kinh tế số, xã hội số; đưa năng lực sử dụng và ứng dụng trí tuệ nhân tạo trở thành một trong những năng lực thiết yếu của người học, người lao động, đội ngũ cán bộ quản lý, quản trị.

Bên cạnh đó, phát triển đội ngũ nhân lực trình độ cao, chuyên sâu có năng lực nghiên cứu, phát triển, làm chủ, triển khai và quản trị các hệ thống trí tuệ nhân tạo an toàn, tin cậy và có trách nhiệm; hướng tới đưa Việt Nam trở thành quốc gia có năng lực phát triển nhân lực trí tuệ nhân tạo thuộc nhóm hàng đầu trong khu vực, góp phần nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh quốc gia và bảo đảm lợi ích quốc gia trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo.

Tối thiểu 50.000 nhân lực từ đại học trở lên, có năng lực ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong các ngành trọng điểm

Phấn đấu đến năm 2030, phổ cập kiến thức, kỹ năng và năng lực sử dụng trí tuệ nhân tạo an toàn, hiệu quả cho người học, người lao động, đội ngũ cán bộ quản lý, quản trị:

Ít nhất 80% học sinh phổ thông, học sinh dự bị đại học được phổ cập kiến thức, kỹ năng cơ bản về trí tuệ nhân tạo phù hợp lứa tuổi; gắn với phát triển tư duy số, tư duy tính toán, đạo đức trong sử dụng trí tuệ nhân tạo và năng lực sử dụng trí tuệ nhân tạo an toàn, có trách nhiệm.

Phấn đấu 100% người học trong các cơ sở giáo dục đại học và ít nhất 80% người học trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp được trang bị kiến thức, kỹ năng cơ bản về trí tuệ nhân tạo, đạo đức và an toàn dữ liệu; có năng lực sử dụng, ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong học tập, nghiên cứu và hoạt động nghề nghiệp một cách an toàn, hiệu quả và có trách nhiệm.

Ít nhất 90% cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong đơn vị sự nghiệp công lập, 100% cán bộ, công chức, viên chức, người lao động lĩnh vực giáo dục và đào tạo được bồi dưỡng, cập nhật kiến thức, kỹ năng về trí tuệ nhân tạo, có năng lực sử dụng, ứng dụng trí tuệ nhân tạo an toàn, hiệu quả và có trách nhiệm trong hoạt động nghề nghiệp, quản lý và quản trị, trong đó: tối thiểu 100.000 giáo viên, giảng viên, cán bộ quản lý giáo dục được bồi dưỡng chuyên sâu, có khả năng hướng dẫn, hỗ trợ và lan tỏa năng lực sử dụng, ứng dụng trí tuệ nhân tạo an toàn, hiệu quả và có trách nhiệm; ít nhất 10 triệu lao động được đào tạo, bồi dưỡng hoặc cập nhật kỹ năng sử dụng trí tuệ nhân tạo cơ bản.

Phát triển nhân lực ứng dụng trí tuệ nhân tạo theo ngành, lĩnh vực: đào tạo mới, đào tạo chuyển đổi và bồi dưỡng nâng cao tối thiểu 50.000 nhân lực trình độ đại học trở lên, có năng lực ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong các ngành, lĩnh vực trọng điểm.

Phát triển nhân lực trí tuệ nhân tạo trình độ cao, chuyên sâu: đào tạo, bồi dưỡng ít nhất 10.000 nhân lực trình độ cao về trí tuệ nhân tạo, bao gồm nhà nghiên cứu, kỹ sư và chuyên gia có năng lực nghiên cứu, phát triển, làm chủ, triển khai, vận hành và quản trị các hệ thống trí tuệ nhân tạo tiên tiến, trong đó có ít nhất 1.500 chuyên gia có khả năng nghiên cứu, phát triển, làm chủ công nghệ lõi và dẫn dắt các nhiệm vụ trí tuệ nhân tạo trọng điểm.

Hình thành hệ thống giáo dục tích hợp trí tuệ nhân tạo ở tất cả các cấp học và trình độ đào tạo; 100% cơ sở giáo dục đại học triển khai quy định về sử dụng trí tuệ nhân tạo trong đào tạo, nghiên cứu và đánh giá; ít nhất 80% chương trình đào tạo cấp văn bằng của giáo dục nghề nghiệp tích hợp chuẩn đầu ra và nội dung đào tạo về năng lực ứng dụng trí tuệ nhân tạo phù hợp với từng lĩnh vực, ngành, nghề đào tạo.

Phát triển mạng lưới cơ sở đào tạo và nghiên cứu về trí tuệ nhân tạo: hình thành ít nhất 10 trung tâm đào tạo và nghiên cứu tiên tiến chuyên sâu về trí tuệ nhân tạo, trong đó có từ 5 đến 7 trung tâm trí tuệ nhân tạo đạt trình độ tiên tiến trong khu vực, từng bước tiệm cận trình độ quốc tế; phát triển ít nhất 25 cơ sở giáo dục đại học là đầu mối đào tạo, nghiên cứu và đổi mới sáng tạo về trí tuệ nhân tạo, triển khai các chương trình đào tạo chuyên sâu về trí tuệ nhân tạo, các chương trình tích hợp trí tuệ nhân tạo theo ngành, lĩnh vực (AI+X) và chương trình ứng dụng trí tuệ nhân tạo (X+AI).

Đến năm 2035, Việt Nam là quốc gia có năng lực phát triển nhân lực trí tuệ nhân tạo hàng đầu trong khu vực

Định hướng đến năm 2035, hình thành hệ sinh thái nhân lực trí tuệ nhân tạo hiện đại, bền vững, có khả năng thích ứng với sự phát triển của công nghệ và hội nhập quốc tế; năng lực sử dụng, ứng dụng trí tuệ nhân tạo trở thành năng lực phổ biến của lực lượng lao động; trí tuệ nhân tạo trở thành công nghệ nền tảng thúc đẩy học tập, lao động, sản xuất, kinh doanh và quản trị quốc gia.

Phát triển đội ngũ nhân lực trí tuệ nhân tạo có quy mô, cơ cấu và chất lượng đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế số, xã hội số, kinh tế xanh, các ngành công nghệ chiến lược và nâng cao năng lực tự chủ công nghệ của quốc gia. Hình thành đội ngũ chuyên gia, kỹ sư, nhà khoa học, giảng viên và nhà quản lý có trình độ cao, có khả năng nghiên cứu, phát triển, làm chủ và dẫn dắt công nghệ trí tuệ nhân tạo và có năng lực cạnh tranh trong mạng lưới phát triển trí tuệ nhân tạo của khu vực và quốc tế.

Hình thành các trung tâm, chương trình đào tạo và nhóm nghiên cứu trí tuệ nhân tạo đạt trình độ tiên tiến trong khu vực và quốc tế; có năng lực đào tạo nhân lực trí tuệ nhân tạo chất lượng cao, nghiên cứu và phát triển công nghệ trí tuệ nhân tạo lõi, thu hút chuyên gia quốc tế và tham gia sâu vào mạng lưới phát triển trí tuệ nhân tạo của khu vực và quốc tế.

Việt Nam trở thành quốc gia có năng lực phát triển nhân lực trí tuệ nhân tạo thuộc nhóm hàng đầu trong khu vực, có hệ sinh thái đào tạo, nghiên cứu, ứng dụng và quản trị trí tuệ nhân tạo an toàn, tin cậy và có trách nhiệm, đóng góp trực tiếp vào tăng năng suất lao động, đổi mới sáng tạo, chất lượng dịch vụ công, năng lực cạnh tranh quốc gia và bảo vệ lợi ích quốc gia trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo.

7 nhóm nhiệm vụ, giải pháp

Để thực hiện được các mục tiêu nêu trên, Chương trình đưa ra các nhóm nhiệm vụ, giải pháp cụ thể như sau: (1) Xây dựng, hoàn thiện thể chế về chuẩn năng lực và hệ thống quản trị phát triển nhân lực trí tuệ nhân nhân tạo; (2) Phát triển đội ngũ nhà giáo, chuyên gia và mạng lưới hỗ trợ đào tạo trí tuệ nhân tạo; (3) Phát triển nhân lực trí tuệ nhân tạo trình độ cao, chuyên sâu và năng lực nghiên cứu, đổi mới sáng tạo; (4) Phổ cập, đào tạo lại và nâng cao kỹ năng trí tuệ nhân tạo cho người học, người lao động, cán bộ, công chức, viên chức; (5) Gắn đào tạo với doanh nghiệp và thị trường lao động; (6) Phát triển hạ tầng, dữ liệu và môi trường thực hành dùng chung phục vụ đào tạo trí tuệ nhân tạo; (7) Truyền thông, nâng cao nhận thức và phổ cập kỹ năng trí tuệ nhân tạo.

Về xây dựng, hoàn thiện thể chế về chuẩn năng lực và hệ thống quản trị phát triển nhân lực trí tuệ nhân nhân tạo, Chương trình yêu cầu:

Xây dựng Khung năng lực trí tuệ nhân tạo quốc gia, trong đó quy định tiêu chuẩn đánh giá năng lực trí tuệ nhân tạo tham chiếu các khung năng lực trí tuệ nhân tạo và chuẩn mực quốc tế, bảo đảm phù hợp với điều kiện Việt Nam.

Xây dựng, ban hành hướng dẫn áp dụng chuẩn chương trình đào tạo, chuẩn đầu ra, chương trình bồi dưỡng về trí tuệ nhân tạo đối với một số nhóm đối tượng trọng tâm, bảo đảm thống nhất, liên thông giữa các trình độ đào tạo.

Rà soát, tích hợp phù hợp nội dung cơ bản về trí tuệ nhân tạo, tư duy tính toán, kỹ năng số và đạo đức trong sử dụng công nghệ vào chương trình giáo dục phổ thông theo lộ trình và thẩm quyền; khuyến khích hoạt động trải nghiệm, nghiên cứu và sáng tạo trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo.

Bổ sung chuẩn năng lực trí tuệ nhân tạo trong chuẩn nghề nghiệp theo từng đối tượng cụ thể theo thẩm quyền và phù hợp với từng ngành, nghề, vị trí việc làm; quy định về công nhận, đánh giá và chứng nhận năng lực trí tuệ nhân tạo nhằm thúc đẩy học tập suốt đời và dịch chuyển lao động.

Xây dựng cơ sở dữ liệu về nhân lực trí tuệ nhân tạo, cho phép theo dõi, đánh giá và dự báo cung, cầu nhân lực và kỹ năng, làm cơ sở cho hoạch định chính sách và điều chỉnh chương trình đào tạo.

Thiết lập và vận hành cơ chế phối hợp liên bộ, liên ngành; xây dựng hệ thống theo dõi, giám sát và đánh giá việc phát triển nhân lực trí tuệ nhân tạo, bảo đảm gắn kết giữa giáo dục, khoa học công nghệ, chuyển đổi số và thị trường lao động, nâng cao hiệu quả điều phối và triển khai Chương trình.

Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, các tổ chức xã hội nghề nghiệp tiếp cận chương trình bồi dưỡng trí tuệ nhân tạo

Về phổ cập, đào tạo lại và nâng cao kỹ năng trí tuệ nhân tạo cho người học, người lao động, cán bộ, công chức, viên chức, Chương trình yêu cầu:

Xây dựng và triển khai các chương trình phổ cập kiến thức, kỹ năng trí tuệ nhân tạo cơ bản cho người học, người lao động và đội ngũ cán bộ quản lý và cộng đồng theo hình thức linh hoạt, phù hợp với từng nhóm đối tượng, kết hợp đào tạo trực tuyến, trực tiếp, tự học có hướng dẫn, học tập cộng đồng và bồi dưỡng tại nơi làm việc.

Xây dựng các chương trình đào tạo lại nâng cao kỹ năng trí tuệ nhân tạo phù hợp với nhu cầu người lao động, vị trí việc làm và yêu cầu của ngành, lĩnh vực chịu tác động mạnh của trí tuệ nhân tạo, tập trung vào khả năng sử dụng công cụ trí tuệ nhân tạo, phân tích dữ liệu, tự động hóa quy trình, phối hợp người - máy, bảo vệ dữ liệu và thích ứng với thay đổi nghề nghiệp.

Tổ chức bồi dưỡng, hướng dẫn tự học, tự tích lũy năng lực ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong công vụ cho cán bộ, công chức, viên chức thông qua khóa học, công cụ tự học và thực hành sử dụng trí tuệ nhân tạo trong thực hiện nhiệm vụ.

Hỗ trợ doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, cơ sở sản xuất kinh doanh và các tổ chức xã hội nghề nghiệp tiếp cận chương trình bồi dưỡng trí tuệ nhân tạo, công cụ đánh giá năng lực, chuyên gia tư vấn và nguồn học liệu dùng chung để nâng cao năng suất lao động và năng lực cạnh tranh.

Ưu tiên hỗ trợ nhóm yếu thế, người lao động có nguy cơ bị thay thế bởi tự động hóa, người học ở vùng khó khăn, phụ nữ trong lĩnh vực công nghệ, người khuyết tật và các nhóm cần được bảo đảm cơ hội tiếp cận công bằng với năng lực trí tuệ nhân tạo.

Xây dựng, rà soát, cập nhật chương trình đào tạo, bồi dưỡng trực tuyến mở nhằm phổ cập năng lực trí tuệ nhân tạo; phát triển hệ thống học liệu mở, tài nguyên giáo dục dùng chung về trí tuệ nhân tạo và phối hợp tích hợp, triển khai trên nền tảng Bình dân học vụ số cùng các nền tảng học tập số hiện có.

Hình thành xã hội học tập, cộng đồng học tập, trong hệ thống giáo dục quốc gia phù hợp với từng tầng tiếp cận: tổ chức đào tạo khóa học, môn học sử dụng nền tảng số, tài nguyên giáo dục mở với tầng phổ cập; phát triển các mô hình đào tạo tích hợp trí tuệ nhân tạo theo ngành, lĩnh vực (X+AI) và các chương trình ứng dụng trí tuệ nhân tạo phù hợp với từng nhóm đối tượng, trình độ và nhu cầu nghề nghiệp (AI+X).

Danh mục lĩnh vực, cơ sở phát thải khí nhà kính phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính (cập nhật)

Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng ký Quyết định số 42/2026/QĐ-TTg ban hành Danh mục lĩnh vực, cơ sở phát thải khí nhà kính phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính (cập nhật).

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 11/8/2026- Ảnh 4.

2441 cơ sở phát thải khí nhà kính phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính

6 lĩnh vực phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính

Quyết định nêu rõ 6 lĩnh vực phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính gồm:

1. Năng lượng (gồm: Công nghiệp sản xuất năng lượng; Tiêu thụ năng lượng trong công nghiệp, thương mại, dịch vụ và dân dụng; Khai thác than; Khai thác dầu và khí tự nhiên);

2. Giao thông vận tải (tiêu thụ năng lượng trong giao thông vận tải)

3. Xây dựng (gồm: Tiêu thụ năng lượng trong ngành xây dựng; Các quá trình công nghiệp trong sản xuất vật liệu xây dựng);

4. Các quá trình công nghiệp (gồm: Sản xuất hóa chất; Luyện kim; Công nghiệp điện tử; Sử dụng sản phẩm thay thế cho các chất làm suy giảm tầng ô-dôn; Sản xuất và sử dụng các sản phẩm công nghiệp khác);

5. Nông nghiệp, lâm nghiệp và sử dụng đất (gồm: Chăn nuôi; Lâm nghiệp và thay đổi sử dụng đất; Trồng trọt; Tiêu thụ năng lượng trong nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản; Các nguồn phát thải khác trong nông nghiệp);

6. Chất thải (gồm: Bãi chôn lấp chất thải rắn; Xử lý chất thải rắn bằng phương pháp sinh học; Thiêu đốt và đốt lộ thiên chất thải; Xử lý và xả thải nước thải).

Danh mục cơ sở phát thải khí nhà kính phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính cập nhật năm 2026

Danh mục các cơ sở phát thải khí nhà kính phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính thuộc ngành Công Thương gồm có 1916 cơ sở.

Danh mục các cơ sở phát thải khí nhà kính phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính thuộc ngành Xây dựng gồm: 53 cơ sở thuộc lĩnh vực giao thông vận tải và 411 cơ sở thuộc lĩnh vực xây dựng.

Danh mục các cơ sở phát thải khí nhà kính phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính thuộc ngành Nông nghiệp và Môi trường có 61 cơ sở.

* DANH MỤC CÁC CƠ SỞ PHÁT THẢI KHÍ NHÀ KÍNH PHẢI THỰC HIỆN KIỂM KÊ KHÍ NHÀ KÍNH

Kiểm tra các cơ sở phát thải khí nhà kính

Phó Thủ tướng yêu cầu các cơ sở phát thải khí nhà kính quy định ở trên có trách nhiệm thực hiện kiểm kê khí nhà kính cấp cơ sở theo hướng dẫn của các Bộ: Nông nghiệp và Môi trường, Công Thương, Xây dựng; xây dựng và nộp báo cáo kiểm kê khí nhà kính của cơ sở theo quy định tại Nghị định số 06/2022/NĐ-CP ngày 07 tháng 01 năm 2022 của Chính phủ về giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng ô-dôn được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 119/2025/NĐ-CP ngày 09 tháng 6 năm 2025 và Nghị định số 83/2026/NĐ-CP ngày 23 tháng 3 năm 2026.

Các Bộ: Nông nghiệp và Môi trường, Công Thương, Xây dựng trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao có trách nhiệm hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra các cơ sở phát thải khí nhà kính thuộc thẩm quyền quản lý thực hiện nghĩa vụ kiểm kê và nộp báo cáo kiểm kê khí nhà kính theo đúng quy định của pháp luật.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố cập nhật Danh mục lĩnh vực, cơ sở phát thải khí nhà kính phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định theo quy định của pháp luật.

Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố chỉ đạo các cơ quan chuyên môn có liên quan đôn đốc các cơ sở phát thải khí nhà kính trên địa bàn thuộc Danh mục ban hành kèm theo Quyết định này thực hiện kiểm kê khí nhà kính theo quy định; chủ trì, phối hợp với các Bộ: Nông nghiệp và Môi trường, Công Thương, Xây dựng rà soát, cập nhật thông tin đối với các cơ sở phát thải khí nhà kính trên địa bàn quản lý; chịu trách nhiệm về tính chính xác, đầy đủ của Danh mục cơ sở phát thải khí nhà kính trên địa bàn phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính.

Quyết định này có hiệu lực thi hành từ ngày 25 tháng 9 năm 2026.

Kiện toàn Ban Chỉ đạo Nhà nước về Du lịch

Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà ký Quyết định số 1526/QĐ-TTg ngày 11/8/2026 của Thủ tướng Chính phủ về việc kiện toàn Ban Chỉ đạo Nhà nước về Du lịch.

Theo đó, Trưởng Ban Chỉ đạo là Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà.

Phó Trưởng ban là bà Lâm Thị Phương Thanh, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.

Các Ủy viên Ban Chỉ đạo gồm: Ông Hồ An Phong, Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (Ủy viên thường trực); Thượng tướng Nguyễn Trường Thắng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng; Thượng tướng Phạm Thế Tùng, Thứ trưởng Bộ Công an; ông Ngô Lê Văn, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao; ông Đỗ Ngọc Huỳnh, Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ; bà Nguyễn Thị Bích Ngọc, Thứ trưởng Bộ Tài chính; ông Nguyễn Sinh Nhật Tân, Thứ trưởng Bộ Công Thương; bà Nguyễn Thị Hà, Thứ trưởng Bộ Nội vụ; ông Võ Văn Hưng, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường; bà Nguyễn Thị Quyên Thanh, Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo; ông Nguyễn Xuân Sang, Thứ trưởng Bộ Xây dựng; ông Bùi Hoàng Phương, Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ; ông Trần Văn Thuấn, Thứ trưởng Bộ Y tế; ông Nguyễn Trùng Khánh, Cục trưởng Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Ủy viên, Chánh Văn phòng Ban Chỉ đạo.

Ban Chỉ đạo hoạt động theo Quy chế được ban hành kèm theo Quyết định số 170/QĐ-BCĐNNDL ngày 21 tháng 11 năm 2025 của Ban Chỉ đạo Nhà nước về Du lịch.

Quyết định này có hiệu lực từ ngày 11 tháng 8 năm 2026 và thay thế Quyết định số 1532/QĐ-TTg ngày 15 tháng 7 năm 2025 của Thủ tướng Chính phủ về việc kiện toàn Ban Chỉ đạo Nhà nước về Du lịch./.