In bài viết

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 12/02/2026

(Chinhphu.vn) - Văn phòng Chính phủ vừa có Thông cáo báo chí chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 12/02/2026.

13/02/2026 10:49
Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 12/02/2026- Ảnh 1.

Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt của Viêt Nam để thực hiện Bản Thỏa thuận thúc đẩy thương mại song phương giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Vương quốc Campuchia giai đoạn 2025 - 2026

Chính phủ ban hành Nghị định 56/2026/NĐ-CP ngày 12/2/2026 Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt của Viêt Nam để thực hiện Bản Thỏa thuận thúc đẩy thương mại song phương giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Vương quốc Campuchia giai đoạn 2025 - 2026.

Nghị định 56/2026/NĐ-CP quy định thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt và điều kiện hưởng thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt theo Bản Thỏa thuận thúc đẩy thương mại song phương giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Vương quốc Campuchia giai đoạn 2025 - 2026 (sau đây viết tắt là Bản Thỏa thuận Việt Nam - Campuchia giai đoạn 2025 - 2026).

Ban hành kèm theo Nghị định này:

Phụ lục I - Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt của Việt Nam để thực hiện Bản Thỏa thuận Việt Nam - Campuchia giai đoạn 2025 - 2026.

Phụ lục II - Danh mục hàng hóa nhập khẩu theo hạn ngạch thuế quan của Việt Nam để thực hiện Bản Thỏa thuận Việt Nam - Campuchia giai đoạn 2025 - 2026.

Phụ lục III - Danh mục các cặp cửa khẩu được phép thông quan các mặt hàng hưởng thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt theo Bản Thỏa thuận Việt Nam - Campuchia giai đoạn 2025 - 2026.

Điều kiện áp dụng thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt

Theo Nghị định, hàng hóa nhập khẩu được áp dụng thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt của Việt Nam để thực hiện Bản Thỏa thuận Việt Nam - Campuchia giai đoạn 2025 - 2026 phải đáp ứng đủ các điều kiện sau:

1. Thuộc Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt để thực hiện Bản Thỏa thuận Việt Nam -Campuchia giai đoạn 2025 - 2026 tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này.

2. Có Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa mẫu S (C/O form S) do cơ quan có thẩm quyền của Vương quốc Campuchia cấp.

3. Thông quan qua các cặp cửa khẩu quy định tại Phụ lục III ban hành kèm theo Nghị định này.

Thuế suất và hạn ngạch thuế quan đối với mặt hàng lúa gạo và lá thuốc lá khô có xuất xứ từ Vương quốc Campuchia

Mặt hàng lúa gạo và lá thuốc lá khô nếu đáp ứng các điều kiện áp dụng thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt nêu trên và quy định của Bộ Công Thương về việc nhập khẩu theo hạn ngạch thuế quan theo Bản Thỏa thuận Việt Nam - Campuchia giai đoạn 2025 - 2026 thì được hưởng thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt theo số lượng hạn ngạch nhập khẩu.

Đối với mặt hàng lúa gạo, trường hợp mặt hàng lúa gạo nhập khẩu ngoài số lượng hạn ngạch (gọi tắt là nhập khẩu vượt hạn ngạch) thì số lượng nhập khẩu vượt hạn ngạch được áp dụng thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt của các Hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam và Campuchia cùng là thành viên nếu đáp ứng đủ các điều kiện quy định tại các Nghị định Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt tương ứng; hoặc được áp dụng thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ về Biếu thuế xuất khẩu, Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi, Danh mục hàng hóa và mức thuế tuyệt đối, thuế hỗn hợp, thuế nhập khẩu ngoài hạn ngạch thuế quan và các văn bản sửa đổi, bổ sung (nếu có).

Đối với mặt hàng lá thuốc lá khô, trường hợp lượng lá thuốc lá khô nhập khẩu vượt số lượng hạn ngạch nhưng vẫn nằm trong tổng mức hạn ngạch theo WTO và bảo đảm các điều kiện quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam về hạn ngạch thuế quan thì số lượng vượt hạn ngạch này được áp dụng mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ về Biểu thuế xuất khẩu, Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi, Danh mục hàng hóa và mức thuế tuyệt đối, thuế hỗn hợp, thuế nhập khẩu ngoài hạn ngạch thuế quan và các văn bản sửa đổi, bổ sung (nếu có).

Trường hợp lượng lá thuốc lá khô nhập khẩu vượt số lượng hạn ngạch và nằm ngoài tổng mức hạn ngạch theo WTO thì áp dụng mức thuế suất thuế nhập khẩu ngoài hạn ngạch đối với mặt hàng lá thuốc lá khô theo quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ về Biểu thuế xuất khẩu, Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi, Danh mục hàng hóa và mức thuế tuyệt đối, thuế hỗn hợp, thuế nhập khẩu ngoài hạn ngạch thuế quan và các văn bản sửa đổi, bổ sung (nếu có).

Số lượng mặt hàng lúa gạo và lá thuốc lá khô được nhập khẩu thuộc các trường hợp quy định tại (a) và (b) dưới đây, không tính vào số lượng hạn ngạch của mặt hàng tương ứng quy định tại Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị định này:

a) Các mặt hàng lúa gạo do phía Việt Nam đầu tư, trồng tại Campuchia nhập khẩu về Việt Nam áp dụng theo quy định hiện hành của pháp luật.

b) Các mặt hàng lúa gạo và lá thuốc lá khô có xuất xứ từ Campuchia do các doanh nghiệp Việt Nam nhập khẩu về Việt Nam để tái xuất đi các thị trường khác thực hiện theo cơ chế tạm nhập tái xuất của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và các Hiệp định khu vực, quốc tế mà hai bên tham gia ký kết.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 12/2/2026 cho đến hết ngày 31/12/2026.

Đối với các tờ khai hải quan của các mặt hàng nêu tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này đăng ký từ ngày 28/4/2025 đến trước ngày 12/2/2026, nếu đáp ứng đủ điều kiện được hưởng mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt quy định tại Nghị định này và đã nộp thuế theo mức thuế suất cao hơn thì được cơ quan hải quan xử lý tiền thuế nộp thừa theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.

Chính phủ thống nhất nội dung dự án Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi)

Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết số 25/NQ-CP ngày 12/2/2026 về dự án Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi).

Cụ thể, Chính phủ cơ bản thống nhất nội dung dự án Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi) do Bộ Tư pháp trình Chính phủ tại Tờ trình số 19/TTr-BTP ngày 07/02/2026 và được chỉnh lý, hoàn thiện theo Báo cáo số 75/BC-BTP ngày 12/02/2026 của Bộ Tư pháp.

Chính phủ giao Bộ trưởng Bộ Tư pháp thừa ủy quyền Thủ tướng Chính phủ, thay mặt Chính phủ ký Tờ trình của Chính phủ về dự án Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi), trình Quốc hội tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI.

Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm về nội dung tiếp thu, chỉnh lý, hoàn thiện dự án Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi), bảo đảm tính khả thi, tránh phát sinh thủ tục mang tính hình thức, không hiệu quả, gây áp lực lên hệ thống bộ máy Nhà nước.

Đồng thời, phối hợp chặt chẽ với các cơ quan của Quốc hội và chủ động báo cáo, giải trình trong quá trình thẩm tra, tiếp thu ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về dự án Luật; báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về việc giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật theo đúng quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Chính phủ phân công Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng chỉ đạo trong quá trình hoàn thiện dự án Luật này.

Nghị quyết này có hiệu lực kể từ ngày ký ban hành (12/2/2026).

Ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật Chuyển đổi số

Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Chí Dũng vừa ký Quyết định số 268/QĐ-TTg ngày 12/2/2026 ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật Chuyển đổi số (Kế hoạch).

Mục đích của Kế hoạch nhằm xác định cụ thể, đầy đủ, toàn diện các nhiệm vụ, thời hạn, tiến độ hoàn thành và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức có liên quan trong việc triển khai thi hành Luật Chuyển đổi số số 148/2025/QH15 (sau đây gọi tắt là Luật) bảo đảm kịp thời, đồng bộ, thống nhất, hiệu lực, hiệu quả. Phân công nhiệm vụ cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp trong việc thực hiện các hoạt động triển khai thi hành Luật theo quan điểm "06 rõ: rõ người, rõ việc, rõ thẩm quyền, rõ trách nhiệm, rõ thời gian, rõ kết quả". Nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các bộ, ngành, địa phương, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc triển khai thi hành Luật, tạo sự thống nhất trong nhận thức và hành động, góp phần đưa các điểm mới, tinh thần và mục tiêu của Luật sớm đi vào cuộc sống, phát huy hiệu quả trong thực tiễn thi hành.

Xây dựng, ban hành các văn bản quy định chi tiết một số điều Luật Chuyển đổi số

Kế hoạch đưa ra các nội dung nhiệm vụ cụ thể để các bộ, ngành, địa phương triển khai thực hiện như sau:

1. Xây dựng, ban hành các văn bản quy định chi tiết một số điều Luật Chuyển đổi số thực hiện theo quy định tại Quyết định số 2835/QĐ-TTg ngày 31/12/2025 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Danh mục và phân công cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản quy định chi tiết thi hành các luật, nghị quyết được Quốc hội khóa XV thông qua tại kỳ họp thứ 10.

2. Các bộ, cơ quan ngang bộ rà soát, công bố hoặc trình cấp có thẩm quyền công bố việc tiếp tục có hiệu lực toàn bộ hoặc một phần theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật đối với các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, quy định biện pháp cụ thể để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Công nghệ thông tin số 67/2006/QH11 đã được ban hành trước ngày Luật Chuyển đổi số có hiệu lực thi hành; gửi kết quả rà soát về Bộ Khoa học và Công nghệ trong tháng 5/2026.

Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì rà soát các văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền quản lý nhà nước của mình; làm đầu mối tổng hợp kết quả rà soát, đề xuất của các bộ, ngành, địa phương để báo cáo Thủ tướng Chính phủ trong tháng 6/2026.

Đa dạng hóa hình thức tuyên truyền cho từng nhóm đối tượng, ưu tiên các nhóm yếu thế và vùng khó khăn

3. Năm 2026 và các năm tiếp theo, tổ chức quán triệt, thông tin, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về nội dung của Luật và các văn bản quy định chi tiết thi hành. Cụ thể:

Xây dựng, biên soạn tài liệu giới thiệu nội dung cơ bản của Luật Chuyển đổi số, phối hợp với Bộ Tư pháp đăng tải trên Cổng Thông tin điện tử Phổ biến giáo dục pháp luật quốc gia.

Tổ chức hội nghị quán triệt, phổ biến kiến thức về Luật Chuyển đổi số cho các bộ, ngành, địa phương và cơ quan, tổ chức có liên quan.

Tổ chức tuyên truyền, phổ biến về Luật Chuyển đổi số để cơ quan, tổ chức, cá nhân kịp thời tiếp cận, nắm bắt thông tin thông qua phương tiện truyền thông đại chúng, nền tảng số; các chuyên mục, chương trình, tin, bài chuyên sâu; sử dụng nhiều hình thức như mạng xã hội, ứng dụng di động, webinar trực tuyến, video, infographic... khuyến khích hình thức tuyên truyền trực quan, đa ngôn ngữ (đặc biệt với địa bàn có đông đồng bào dân tộc thiểu số), gắn với các nền tảng số phổ biến tại cơ sở; bảo đảm đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền phù hợp với từng nhóm đối tượng cụ thể theo quy định của pháp luật, chú trọng người khuyết tật, người cao tuổi, trẻ em, người dân sinh sống ở khu vực biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn, các nhóm dễ bị tổn thương khác.

Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp và các bộ, ngành, địa phương và các cơ quan, tổ chức liên quan biên soạn tài liệu giới thiệu Luật, tổ chức hội nghị quán triệt, phổ biến ở trung ương.

Bộ Khoa học và Công nghệ, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam và các cơ quan thông tin đại chúng khác ở trung ương và địa phương tổ chức tuyên truyền, phổ biến theo lĩnh vực, địa bàn thuộc phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn được phân công.

Tổ chức triển khai các chiến lược, chương trình, dự án và chính sách về ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số theo quy định của Luật

4. Hằng năm, Bộ Khoa học và Công nghệ; các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được giao chủ trì hoặc trình ban hành chiến lược, chương trình, kế hoạch, đề án, dự án cấp quốc gia về chuyển đổi số tổ chức rà soát, đánh giá việc thực hiện các chiến lược, chương trình, kế hoạch, đề án, dự án cấp quốc gia đang triển khai có liên quan đến chuyển đổi số; đề xuất sửa đổi, bổ sung hoặc xây dựng các nhiệm vụ, giải pháp mới (nếu cần thiết) để phù hợp với quy định của Luật.

Bên cạnh đó, Bộ Khoa học và Công nghệ; các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, các cơ quan khác ở trung ương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo lĩnh vực, địa bàn thuộc phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn được phân công tổ chức thực hiện các chiến lược, chương trình, kế hoạch, đề án, dự án, nhiệm vụ liên quan đến ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số để triển khai các hoạt động chuyển đổi số quy định tại Điều 4 của Luật; triển khai các chính sách của Nhà nước về chuyển đổi số quy định tại Điều 9 của Luật.

5. Năm 2026 và các năm tiếp theo, Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp Bộ Tư pháp, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, các cơ quan khác ở trung ương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và các cơ quan có liên quan kiểm tra, giám sát, đôn đốc, theo dõi, hướng dẫn thi hành Luật.

Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ có trách nhiệm giúp Thủ tướng Chính phủ theo dõi, kiểm tra, đôn đốc các bộ, ngành, địa phương triển khai thực hiện nhiệm vụ được nêu trong Kế hoạch, báo cáo Thủ tướng Chính phủ kết quả thực hiện hằng năm theo quy định; đề xuất biểu dương, khen thưởng theo quy định pháp luật các sản phẩm truyền thông có giá trị tuyên truyền cao, có sức lan tỏa xã hội, góp phần đưa Luật vào cuộc sống hiệu quả.

Căn cứ nội dung Kế hoạch và tình hình thực tiễn, các bộ, ngành, địa phương được phân công chủ trì thực hiện nhiệm vụ theo Kế hoạch có trách nhiệm lồng ghép kế hoạch triển khai thi hành Luật trong chương trình, kế hoạch chung của bộ, ngành, địa phương mình, báo cáo Thủ tướng Chính phủ kết quả thực hiện theo quy định.

Kế hoạch triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chuyển giao công nghệ

Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Chí Dũng vừa ký Quyết định số 269/QĐ-TTg ngày 12/02/2026 ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chuyển giao công nghệ (Kế hoạch).

Mục đích của Kế hoạch nhằm bảo đảm sự chỉ đạo thống nhất của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; sự phối hợp chặt chẽ, thường xuyên, có hiệu quả giữa các bộ, ngành, địa phương và các cơ quan, tổ chức liên quan trong triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chuyển giao công nghệ số 115/2025/QH15 (sau đây gọi tắt là Luật).

Xác định cụ thể nội dung công việc, thời hạn, tiến độ hoàn thành và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức có liên quan trong triển khai thi hành Luật, bảo đảm kịp thời, đồng bộ, thống nhất, hiệu lực, hiệu quả.

Nâng cao nhận thức về Luật và trách nhiệm của các bộ, ngành, địa phương và Nhân dân trong việc thi hành Luật.

Bảo đảm việc tổ chức triển khai hiệu quả các nội dung đổi mới trong Luật, đặc biệt là xây dựng cơ sở dữ liệu về công nghệ, hoạt động chuyển giao công nghệ trên Nền tảng quản lý khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia; hoạt động cung cấp thông tin công nghệ, hoạt động chuyển giao công nghệ trên môi trường điện tử nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, phục vụ người dân, doanh nghiệp.

Xây dựng, tổ chức quán triệt, tuyên truyền, phổ biến văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật

Kế hoạch đưa ra các nhiệm vụ cụ thể để các bộ, ngành, địa phương và các cơ quan liên quan triển khai thực hiện như sau:

1. Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ và các bộ, ngành, cơ quan, địa phương xây dựng, ban hành Nghị định quy định chi tiết thi hành một số điều Luật Chuyển giao công nghệ số 07/2017/QH13 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chuyển giao công nghệ số 115/2025/QH15; trình trong tháng 02/2026.

2. Năm 2026 và các năm tiếp theo, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Tư pháp, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam và các cơ quan thông tin đại chúng khác ở trung ương và địa phương tổ chức tuyên truyền, phổ biến theo lĩnh vực, địa bàn thuộc phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn được phân công về nội dung Luật và các văn bản quy định chi tiết thi hành. Cụ thể:

Xây dựng, biên soạn tài liệu giới thiệu nội dung cơ bản và những điểm mới của Luật, phối hợp với Bộ Tư pháp đăng tải trên Cổng thông tin điện tử phổ biến, giáo dục pháp luật quốc gia.

Tổ chức hội nghị quán triệt, phổ biến kiến thức về Luật cho các bộ, ngành, địa phương và các cơ quan, tổ chức có liên quan.

Tổ chức tập huấn, tuyên truyền, phổ biến nội dung cơ bản của Luật, đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền, phổ biến bảo đảm thực chất, hiệu quả, phù hợp với điều kiện, tình hình thực tế và từng nhóm đối tượng cụ thể; đăng tải thông tin tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng ở trung ương và địa phương để các cơ quan, tổ chức, cá nhân kịp thời tiếp cận, nắm bắt thông tin.

3. Bộ Khoa học và Công nghệ, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến Luật thuộc thẩm quyền quản lý nhà nước được phân công; thực hiện theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền kịp thời sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc ban hành mới các văn bản quy phạm pháp luật bảo đảm phù hợp với quy định của Luật và văn bản quy định chi tiết Luật.

Thời gian thực hiện phù hợp với lộ trình sau khi Nghị định quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Chuyển giao công nghệ số 07/2017/QH13 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chuyển giao công nghệ số 115/2025/QH15 được ban hành, bảo đảm đồng bộ với việc triển khai thi hành Luật.

Tổ chức kiểm tra việc thi hành Luật và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật

4. Bộ Khoa học và Công nghệ, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chủ động thực hiện theo chức năng, nhiệm vụ được giao thường xuyên kiểm tra, giám sát, đôn đốc, theo dõi việc thi hành Luật và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật.

5. Bộ Khoa học và Công nghệ, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương theo chức năng, nhiệm vụ được giao thường xuyên hướng dẫn áp dụng các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết thi hành Luật.

Đồng thời, tổ chức tiếp nhận và xử lý các kiến nghị, đề xuất của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quá trình thực hiện Luật và các văn bản hướng dẫn; tổ chức rà soát, đánh giá và cập nhật hệ thống cơ sở dữ liệu liên quan.

Bảo đảm các điều kiện thi hành theo quy định tại Điều 59 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 64/2015/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và Nghị định số 80/2025/NĐ-CP ngày 01/4/2025 của Chính phủ về tổ chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật.

Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ có trách nhiệm giúp Thủ tướng Chính phủ theo dõi, kiểm tra, đôn đốc các bộ, ngành, địa phương triển khai thực hiện nhiệm vụ được nêu trong Kế hoạch, báo cáo Thủ tướng Chính phủ kết quả thực hiện hằng năm theo quy định; đề xuất biểu dương, khen thưởng theo quy định pháp luật các sản phẩm truyền thông có giá trị tuyên truyền cao, có sức lan tỏa xã hội, góp phần đưa Luật vào cuộc sống hiệu quả.

Căn cứ nội dung Kế hoạch và tình hình thực tiễn, các bộ, ngành, địa phương được phân công chủ trì thực hiện nhiệm vụ theo Kế hoạch có trách nhiệm lồng ghép kế hoạch triển khai thi hành Luật trong chương trình, kế hoạch chung của bộ, ngành, địa phương mình, báo cáo Thủ tướng Chính phủ kết quả thực hiện theo quy định.

Trong quá trình triển khai thực hiện Kế hoạch, trường hợp có phát sinh khó khăn, vướng mắc, các bộ, ngành và địa phương kịp thời phản ánh về Bộ Khoa học và Công nghệ để tổng hợp, hướng dẫn, giải quyết theo thẩm quyền hoặc phối hợp với các bộ, ngành liên quan để làm rõ, thống nhất hướng dẫn thực hiện. Trường hợp vượt quá thẩm quyền, Bộ Khoa học và Công nghệ trình cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.

Thành lập Khu kinh tế chuyên biệt Hải Phòng

Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Hồng Hà ký Quyết định 288/QĐ-TTg ngày 12/2/2026 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Khu kinh tế chuyên biệt Hải Phòng, thành phố Hải Phòng.

Theo đó, Khu kinh tế chuyên biệt Hải Phòng, thành phố Hải Phòng là khu kinh tế chuyên biệt có quy mô diện tích 5.300 ha, nằm trên địa bàn 06 xã: Thượng Hồng, Nguyễn Lương Bằng, Bắc Thanh Miện, Thanh Miện, Hải Hưng và Bình Giang.

Khu kinh tế chuyên biệt Hải Phòng có các khu chức năng phù hợp với mục tiêu phát triển của khu kinh tế gồm: khu vực phát triển công nghiệp (khu công nghiệp, cụm công nghiệp ); khu thương mại - dịch vụ tổng hợp; khu vực phi thuế quan và khu dịch vụ logistic; trung tâm logicstic, trung tâm đổi mới sáng tạo.

Quy mô, vị trí của từng khu chức năng được xác định trong quy hoạch xây dựng Khu kinh tế chuyên biệt Hải Phòng theo phê duyệt của cấp có thẩm quyền.

Xây dựng và phát triển khu kinh tế chuyên biệt Hải Phòng có kết cấu hạ tầng đồng bộ hiện đại

Về mục tiêu phát triển chủ yếu của Khu kinh tế chuyên biệt Hải Phòng, khai thác tối đa lợi thế về nền tảng phát triển công nghiệp, dịch vụ, trọng tâm là phát triển các ngành công nghiệp có hàm lượng công nghệ cao, thân thiện với môi trường gắn với tiềm năng, thế mạnh của thành phố Hải Phòng; tăng cường kết nối kinh tế, thương mại, dịch vụ với các địa bàn lân cận và quốc tế; kết hợp chặt chẽ giữa thu hút đầu tư, phát triển kinh tế với đảm bảo quốc phòng, an ninh, bảo tồn và phát huy di tích lịch sử, văn hóa và bảo đảm an sinh xã hội.

Xây dựng và phát triển khu kinh tế chuyên biệt Hải Phòng có kết cấu hạ tầng đồng bộ hiện đại, trở thành động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế - xã hội của thành phố Hải Phòng và vùng đồng bằng sông Hồng (với mục tiêu định hướng đóng góp khoảng 3 - 4% GRDP của thành phố Hải Phòng đến năm 2030 và trên 5% giai đoạn sau 2030); thực hiện các cơ chế, chính sách minh bạch, thông thoáng, thân thiện với doanh nghiệp, người dân; đồng thời, là trung tâm về phát triển các ngành công nghiệp công nghệ cao, trung tâm đổi mới sáng tạo, phát triển khu đô thị, dịch vụ hiện đại, kết nối hiệu quả với các trung tâm kinh tế của vùng, cả nước và khu vực; có cơ sở hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội hiện đại, đồng bộ và bảo đảm an ninh quốc phòng, tạo chuỗi giá trị sản xuất hoàn thiện, bền vững.

Tạo việc làm, đào tạo và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nâng cao thu nhập cho người dân.

Hoạt động, cơ chế, chính sách và tổ chức quản lý đối với Khu kinh tế chuyên biệt Hải Phòng thực hiện theo pháp luật về khu công nghiệp, khu kinh tế, pháp luật về đầu tư và các văn bản pháp luật liên quan.

Lộ trình và kế hoạch phát triển

Quyết định nêu rõ, giai đoạn 2025 - 2026, hoàn thành quy hoạch chung và một số quy hoạch phân khu xây dựng 1/2000 đối với các phân khu quan trọng.

Giai đoạn 2026 - 2030, hoàn thiện các thủ tục và triển khai các hoạt động đầu tư, xây dựng. Bước đầu vận hành hiệu quả các công trình, dự án đã xây dựng; tiếp tục hoàn thiện đồng bộ kết cấu hạ tầng kỹ thuật, nhất là hạ tầng đô thị, công nghiệp, dịch vụ trong khu kinh tế; nghiên cứu triển khai một số mô hình, dự án sản xuất mới trong khu kinh tế.

Giai đoạn 2031 - 2035, hoàn thiện hệ thống kết cấu kinh tế, xã hội của khu kinh tế đồng bộ, hiện đại; đẩy nhanh tiến trình đô thị hóa, hình thành diện mạo của đô thị xanh thông minh, với các dịch vụ chất lượng cao; tiếp tục thu hút đầu tư các ngành, lĩnh vực theo định hướng trong khu kinh tế.

Kế hoạch cải cách hành chính nhà nước trọng tâm giai đoạn 2026 - 2030

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính vừa ký Quyết định 282/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch cải cách hành chính nhà nước trọng tâm giai đoạn 2026 - 2030.

Theo đó, giai đoạn 2026 - 2027, hoàn thành việc sửa đổi, bổ sung hệ thống thể chế về tổ chức và hoạt động của bộ máy hành chính, bảo đảm cơ sở pháp lý thống nhất, đồng bộ, ổn định, khả thi cho bộ máy chính quyền từ trung ương đến địa phương hoạt động thông suốt, liên tục, hiệu lực và hiệu quả.

Hoàn thiện thể chế, chính sách về đổi mới cơ chế quản lý, cơ chế tự chủ tài chính đơn vị sự nghiệp công lập bảo đảm kịp thời, đúng chủ trương của Đảng.

Hoàn thành việc sắp xếp các đơn vị sự nghiệp, trường học, cơ sở y tế, doanh nghiệp nhà nước.

100% các nền tảng số quốc gia, nền tảng số dùng chung của ngành, lĩnh vực phục vụ Chính phủ số được hoàn thành và đưa vào sử dụng thống nhất từ trung ương đến địa phương theo đúng kế hoạch.

100% bộ, ngành, địa phương đạt cấp độ 3 mức độ trưởng thành về quản trị dữ liệu.

100% thủ tục hành chính có đủ điều kiện được cung cấp dịch vụ công trực tuyến toàn trình trên cổng Dịch vụ công quốc gia.

Giai đoạn 2028 - 2030, có hệ thống pháp luật công bằng, đồng bộ, thống nhất, công khai, minh bạch và khả thi.

Xây dựng được đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức chuyên nghiệp, có chất lượng cao, có số lượng, cơ cấu hợp lý; đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ thời kỳ mới.

Mức độ hài lòng trong tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính của người dân, doanh nghiệp đạt tối thiếu 95%, trong đó, mức độ hài lòng về giải quyết các thủ tục hành chính lĩnh vực đất đai, xây dựng, đầu tư đạt tối thiểu 90%...

Tiếp tục đột phá xây dựng và hoàn thiện thể chế

Theo Kế hoạch, nhiệm vụ trọng tâm là cải cách thể chế. Cụ thể, tiếp tục đột phá xây dựng và hoàn thiện thể chế, giải phóng mọi nguồn lực cho phát triển; coi đây là "đột phá của đột phá", lợi thế cạnh tranh quốc gia.

Xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo môi trường pháp lý thuận lợi, thông thoáng, minh bạch, an toàn, chi phí tuân thủ thấp; thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh ổn định.

Tiếp tục rà soát, hoàn thiện thể chế về sở hữu và phát triển các thành phần kinh tế, bảo đảm thực chất quyền tự do kinh doanh, quyền sở hữu tài sản và quyền tự do hợp đồng, sự bình đẳng giữa các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế.

Hoàn thiện hệ thống pháp luật, kịp thời tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế và triển khai đồng bộ các giải pháp để thúc đẩy phát triển kinh tế nhà nước trở thành lực lượng tiên phong kiến tạo phát triển, dẫn dắt, mở đường, thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cơ cấu lại nền kinh tế và xác lập mô hình tăng trưởng mới. Đẩy mạnh cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước; tập trung nâng cao hiệu quả hoạt động, áp dụng công nghệ tiên tiến, mô hình quản trị hiện đại theo chuẩn mực quốc tế.

Xây dựng, hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển mạnh mẽ khu vực kinh tế tư nhân trở thành động lực quan trọng nhất của nền kinh tế.

Tạo đột phá trong tổ chức thi hành pháp luật, bảo đảm pháp luật được thực hiện công bằng, nghiêm minh, nhất quán, kịp thời, hiệu lực và hiệu quả; gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.

Tiếp tục nghiên cứu, đề xuất đổi mới, hoàn thiện quy trình lập pháp, lập quy theo hướng khoa học, hiện đại, chuyên nghiệp, tăng cường tham vấn ý kiến chuyên gia, tổ chức và người dân, bảo đảm pháp luật minh bạch, nhất quán, ổn định và có tính dự báo cao.

Tiếp tục rà soát, đề xuất loại bỏ các thủ tục rườm rà, chồng chéo dễ bị lợi dụng để tham nhũng, gây khó khăn cho người dân

Về cải cách thủ tục hành chính, tiếp tục kiểm soát chặt chẽ việc ban hành các quy định thủ tục hành chính trong quá trình xây dựng, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, nhất là các thủ tục hành chính liên quan đến người dân, doanh nghiệp, bảo đảm thủ tục hành chính mới ban hành phải thực sự cần thiết và đơn giản, dễ hiểu, dễ thực hiện.

Đẩy mạnh thực hiện rà soát, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính gắn với sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy và dựa trên dữ liệu.

Cụ thể, tiếp tục rà soát, đề xuất loại bỏ các thủ tục rườm rà, chồng chéo dễ bị lợi dụng để tham nhũng, gây khó khăn cho người dân, tổ chức; loại bỏ các thành phần hồ sơ không cần thiết, không hợp lý; tích hợp, cắt giảm mạnh các mẫu đơn, tờ khai, thành phần hồ sơ yêu cầu chứng thực và các giấy tờ không cần thiết hoặc có nội dung thông tin trùng lặp trên cơ sở khai thác, sử dụng có hiệu quả các dữ liệu có sẵn trên các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành.

Tập trung sửa đổi, bổ sung, ban hành các quy định pháp luật để thực thi các phương án cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt; tháo gỡ các rào cản về thủ tục để tạo điều kiện thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân và kinh tế nhà nước theo Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04 tháng 5 năm 2025 và Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06 tháng 01 năm 2026 của Bộ Chính trị và các nghị quyết khác liên quan đến đầu tư, kinh doanh.

Tổ chức triển khai có hiệu quả việc cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu theo Nghị quyết số 66.7/2025/NQ-CP ngày 15 tháng 11 năm 2025 của Chính phủ và các quy định khác có liên quan.

Đẩy mạnh cắt giảm, đơn giản hóa các thủ tục hành chính nội bộ giữa các cơ quan hành chính nhà nước: Thường xuyên rà soát, công bố kịp thời, đầy đủ các thủ tục hành chính nội bộ; tổ chức thực thi các phương án đơn giản hóa thủ tục hành chính theo đúng lộ trình được cấp có thẩm quyền phê duyệt; tái cấu trúc quy trình thủ tục, tăng kết nối liên thông, chia sẻ dữ liệu phục vụ công tác quản lý, điều hành và nâng cao năng suất lao động trong các cơ quan hành chính nhà nước.

Đổi mới toàn diện việc tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính, cung cấp dịch vụ công:

- Thường xuyên rà soát, cập nhật, công bố, công khai kịp thời, đầy đủ các thủ tục hành chính theo quy định.

- Đẩy mạnh thực hiện giải quyết thủ tục hành chính không phụ thuộc vào địa giới hành chính trên cơ sở rà soát, tăng cường tái cấu trúc quy trình, khai thác có hiệu quả các dữ liệu đã được số hóa và các biểu mẫu điện tử tương tác để cung cấp dịch vụ công trực tuyến toàn trình.

- Xây dựng, nâng cấp và vận hành có hiệu quả hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính theo mô hình tập trung, tích hợp trên cổng Dịch vụ công quốc gia, bảo đảm thống nhất, đồng bộ, dễ thực hiện, giúp tiết kiệm thời gian, chi phí và tránh đầu tư trùng lặp.

- Hoàn thiện quy trình nội bộ, quy trình điện tử đối với các thủ tục hành chính; tiếp tục triển khai có hiệu quả cơ chế một cửa, một cửa liên thông theo quy định của Chính phủ.

- Tăng cường kiểm tra trách nhiệm thực hiện công vụ của công chức, viên chức trong giải quyết thủ tục hành chính, cung cấp dịch vụ công cho người dân, doanh nghiệp.

Xóa cơ chế "xin - cho", tăng trách nhiệm người đứng đầu

Về cải cách tổ chức bộ máy, tiếp tục rà soát, hoàn thiện quy định về chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, bảo đảm đồng bộ, thống nhất, rõ ràng, không chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ trên cơ sở cụ thể hoá các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Rà soát, sắp xếp tinh gọn các đầu mối tổ chức bên trong của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, bảo đảm tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả.

Hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách để đẩy mạnh phân cấp, phân quyền đi kèm với cơ chế kiểm soát quyền lực, xóa cơ chế "xin - cho", tăng trách nhiệm người đứng đầu, bảo đảm việc thực thi hiệu quả.

Đẩy mạnh rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách quản lý nhà nước để nâng cao hiệu lực, hiệu quả vận hành mô hình tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp, trọng tâm vào các lĩnh vực: Tài chính - ngân sách, đất đai, quy hoạch, tổ chức bộ máy, cán bộ, chuyển đổi số, khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo.

Rà soát, nghiên cứu, đề xuất ban hành, sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật để thực hiện sắp xếp các đơn vị sự nghiệp, trường học, cơ sở y tế, doanh nghiệp nhà nước.

Rà soát, xây dựng và hoàn thiện vị trí việc làm phù hợp

Nhiệm vụ trọng tâm khác là cải cách chế độ công vụ. Cụ thể, rà soát, sửa đổi, bổ sung, ban hành mới các quy định pháp luật để tổ chức triển khai đồng bộ, hiệu quả Luật Cán bộ, công chức năm 2025 và Luật Viên chức năm 2025.

Sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các quy định pháp luật để triển khai thực hiện có hiệu quả các cơ chế đặc biệt trong tuyển dụng, bố trí, sử dụng, đãi ngộ cán bộ, công chức, viên chức theo Kết luận số 205-KL/TW ngày 07/11/2025 của Bộ Chính trị về một số giải pháp đột phá trong tuyển dụng, bố trí, sử dụng, đãi ngộ cán bộ. Nghiên cứu, xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về nhân tài Việt Nam; có cơ chế theo dõi, đánh giá, sàng lọc thường xuyên, công khai, minh bạch.

Rà soát, xây dựng và hoàn thiện vị trí việc làm phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan, đơn vị, tổ chức làm cơ sở cho việc tuyển dụng, bổ nhiệm, sử dụng cán bộ, công chức, viên chức.

Cải cách chế độ tiền lương, tiền thưởng và đa dạng chính sách đãi ngộ đối với cán bộ, công chức, viên chức.

Đổi mới chương trình, tài liệu, phương pháp bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức từ tiếp cận theo nội dung sang tiếp cận theo vị trí việc làm và khung năng lực của vị trí việc làm.

Tăng cường kỷ cương, kỷ luật hành chính, trách nhiệm giải trình và phòng, chống tham nhũng trong hoạt động công vụ./.