Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 148/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 72/2015/NĐ-CP ngày 07/9/2015 của Chính phủ về quản lý hoạt động thông tin đối ngoại.

Quy định mới về quản lý hoạt động thông tin đối ngoại.
Nghị định số 148/2026/NĐ-CP bổ sung khoản 5, khoản 6 Điều 3 về nguyên tắc hoạt động thông tin đối ngoại như sau:
"5. Khi triển khai hoạt động thông tin đối ngoại trên không gian mạng, mạng xã hội và các nền tảng trực tuyến, phải bảo đảm tuân thủ các nguyên tắc về bảo mật thông tin; xác thực nguồn tin; kiểm soát nội dung theo quy định của pháp luật; bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng và ngăn ngừa việc phát tán tin giả, tin sai sự thật về Việt Nam; tuân thủ quy định pháp luật về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng; quy định của pháp luật về cung cấp thông tin và dịch vụ công trực tuyến của cơ quan quản lý nhà nước trên môi trường mạng.
6. Hoạt động thông tin đối ngoại được triển khai bảo đảm sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước có thẩm quyền với Ban Chỉ đạo Trung ương về công tác thông tin đối ngoại, Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương trong công tác định hướng truyền thông; Ban Chỉ đạo 35 Trung ương trong công tác đấu tranh, phản bác các thông tin thiếu chính xác, sai sự thật về Việt Nam; Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ trong việc vận động, huy động các nguồn lực tham gia hoạt động thông tin đối ngoại theo chức năng, nhiệm vụ được giao."
Đồng thời, Nghị định số 148/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung các điểm b, đ và e khoản 3 Điều 7 về cung cấp thông tin chính thức về Việt Nam theo hướng mở rộng phạm vi, bổ sung điều kiện quản lý trên không gian mạng và làm rõ chủ thể được áp dụng và kênh truyền tải thông tin. Cụ thể:
"b) Phát ngôn chính thức của lãnh đạo cấp cao; phát ngôn chính thức của các cơ quan quản lý nhà nước.
đ) Chương trình, sản phẩm báo chí trên các phương tiện thông tin đại chúng, kênh nội dung chính thức, ứng dụng chính thức trên không gian mạng của các cơ quan báo chí chủ lực (Thông tấn xã Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam) tuân thủ các quy định của pháp luật về an ninh mạng và an toàn thông tin mạng.
e) Đăng tải trên Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, Trang Thông tin đối ngoại điện tử của Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, trang thông tin điện tử đối ngoại, cổng thông tin điện tử và các kênh nội dung chính thức trên không gian mạng của các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tuân thủ các quy định của pháp luật về an ninh mạng và an toàn thông tin mạng."
Bên cạnh đó, Nghị định số 148/2026/NĐ-CP cũng sửa đổi, bổ sung điểm c và bổ sung điểm g khoản 3 Điều 8 về cung cấp thông tin quảng bá hình ảnh Việt Nam theo hướng quy định các thông tin đăng tải trên không gian mạng phải tuân thủ các quy định của pháp luật về an ninh mạng và an toàn thông tin mạng.
Nghị định số 148/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung khoản 2 của Điều 9 về cách thức cung cấp thông tin tình hình thế giới vào Việt Nam. Theo đó, thông tin tình hình thế giới vào Việt Nam do Bộ Ngoại giao, các bộ, cơ quan ngang bộ, Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, các cơ quan tổ chức khác của Việt Nam ở nước ngoài, các cơ quan báo chí chủ lực (Thông tấn xã Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam), phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật, thu thập, tổng hợp và cung cấp cho cơ quan có thẩm quyền, báo chí và người dân Việt Nam.
Các nguồn thông tin được sử dụng để thu thập, tổng hợp thông tin tình hình thế giới vào Việt Nam bao gồm: Thông tin từ các nguồn công khai, chính thống của nước ngoài; thông tin từ nguồn cơ sở dữ liệu hợp pháp trong và ngoài nước cung cấp; thông tin được chia sẻ, trao đổi thông qua cơ chế phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
Đồng thời, Nghị định số 148/2026/NĐ-CP cũng bổ sung thêm một hình thức cung cấp thông tin "thông qua hoạt động báo cáo hoặc cung cấp thông tin theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền" tại điểm đ khoản 3 Điều này.
Ngoài ra, Nghị định số 148/2026/NĐ-CP bổ sung khoản 5 Điều 12 về cơ sở dữ liệu về thông tin đối ngoại. Theo đó, giao Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì hướng dẫn xây dựng, vận hành hệ thống dữ liệu về thông tin đối ngoại của các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và các cơ quan thông tấn, báo chí của Việt Nam; xây dựng cơ chế phối hợp, cung cấp thông tin phục vụ cơ sở dữ liệu thông tin đối ngoại.
Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026.
Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng vừa ký Chỉ thị số 19/CT-TTg ngày 12/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ về đẩy mạnh việc thực hiện Chiến lược công tác dân tộc đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Đẩy mạnh thực hiện Chiến lược công tác dân tộc đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Chỉ thị nêu, trong những năm qua, được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, nhiều chương trình, chính sách dân tộc đã được ban hành và tổ chức thực hiện, trong đó có Chiến lược công tác dân tộc giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045 được ban hành tại Nghị quyết số 10/NQ-CP ngày 28/01/2022 của Chính phủ, góp phần quan trọng làm thay đổi đáng kể bộ mặt vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào được cải thiện rõ rệt, tỷ lệ hộ nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giảm nhanh hơn tỷ lệ giảm nghèo chung cả nước. Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; niềm tin vào sự lãnh đạo, quản lý của Đảng và Nhà nước ngày được nâng cao, góp phần bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.
Tuy nhiên, kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi phát triển còn chậm; kết cấu hạ tầng chưa đáp ứng yêu cầu phát triển; chất lượng giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực còn thấp; năng lực, trình độ của đội ngũ cán bộ cơ sở, cán bộ là người dân tộc thiểu số ở một số địa phương chưa đáp ứng yêu cầu, việc đào tạo, sử dụng cán bộ người dân tộc thiểu số chưa được quan tâm đúng mức; an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội ở một số nơi còn tiềm ẩn các yếu tố phức tạp, mất ổn định; bức xúc của người dân về đất ở, nhà ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt; quy hoạch, sắp xếp ổn định dân cư ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi còn vướng mắc chưa được giải quyết dứt điểm,...
Những hạn chế, yếu kém nêu trên, ngoài nguyên nhân khách quan, còn có nguyên nhân chủ quan là nhận thức về vai trò, vị trí công tác dân tộc, quản lý nhà nước về công tác dân tộc, việc tổ chức thực hiện Chiến lược công tác dân tộc có nơi, có lúc chưa được quan tâm thỏa đáng; còn một số bộ, ngành chưa xây dựng và trình phê duyệt các đề án được giao tại Chương trình hành động thực hiện Chiến lược đúng tiến độ; xuất phát điểm kinh tế - xã hội của vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi thấp, chất lượng nguồn nhân lực còn hạn chế; hệ thống tổ chức bộ máy làm công tác dân tộc chưa hoàn chỉnh, thiếu đồng bộ, không ổn định,...
Để đẩy mạnh việc thực hiện Chiến lược công tác dân tộc giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành, cơ quan trung ương, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố tổ chức thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm sau:
Các cấp, các ngành tiếp tục quán triệt sâu sắc đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác dân tộc; trọng tâm là Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 12/3/2003 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về công tác dân tộc trong tình hình mới; Kết luận số 65-KL/TW ngày 30/10/2019 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX; Nghị quyết số 10/NQ-CP ngày 28/01/2022 của Chính phủ về ban hành Chiến lược công tác dân tộc giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045 và Quyết định số 1657/QĐ-TTg ngày 30/12/2022 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành Chương trình hành động thực hiện Chiến lược công tác dân tộc giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về công tác dân tộc, thể chế hóa những quan điểm của Đảng về công tác dân tộc thành cơ chế, chính sách cụ thể. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện chính sách dân tộc.
Đẩy nhanh tiến độ thực hiện các chính sách, chương trình, dự án ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Chủ động huy động, lồng ghép các nguồn lực để thực hiện các chính sách, chương trình, dự án trên địa bàn, nhất là vùng đặc biệt khó khăn.
Tập trung nguồn lực và có chính sách phù hợp đối với các địa bàn đặc biệt khó khăn, vùng biên giới và các dân tộc thiểu số rất ít người; gắn phát triển kinh tế - xã hội với bảo vệ môi trường sinh thái, quản lý, sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên, giữ vững quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội, góp phần củng cố khối đại đoàn kết các dân tộc và phát triển bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Xây dựng kế hoạch chi tiết cho từng năm và có giải pháp cụ thể để hoàn thành các nhóm nhiệm vụ, phấn đấu đạt và vượt các chỉ tiêu đã đề ra; thực hiện nghiêm chế độ thông tin báo cáo hằng năm, sơ kết, tổng kết việc thực hiện Chiến lược công tác dân tộc.
Thủ tướng Chính phủ giao nhiệm vụ cụ thể cho các bộ, ngành và địa phương vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Cụ thể như sau:
Bộ Dân tộc và Tôn giáo chủ trì, phối hợp với các cơ quan, địa phương theo dõi, đôn đốc, tổng hợp báo cáo hằng năm kết quả thực hiện Chiến lược công tác dân tộc; khẩn trương ban hành theo thẩm quyền các văn bản hướng dẫn địa phương tổ chức thực hiện có hiệu quả các nội dung của Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 - 2035, giai đoạn I: từ năm 2026 - 2030; ưu tiên tập trung nguồn lực để thực hiện hiệu quả các chính sách dân tộc, giải quyết các vấn đề cấp thiết như: đất ở, nhà ở, đất sản xuất, điện, nước sinh hoạt và hạ tầng xã hội thiết yếu để ổn định cuộc sống của đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; tham mưu xây dựng và tổ chức thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ, đề án, chính sách theo kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước.
Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan trung ương, địa phương trình cấp có thẩm quyền bố trí ngân sách nhà nước và huy động các nguồn vốn hợp pháp khác để hỗ trợ vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi theo quy định hiện hành.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, phối hợp với các cơ quan và địa phương tiếp tục nghiên cứu, xây dựng chính sách bố trí ổn định dân cư; phát triển cơ sở hạ tầng thiết yếu tại các vùng khó khăn nhằm ổn định đời sống dân cư; đồng thời chỉ đạo, hướng dẫn phát triển kinh tế gắn với bảo vệ rừng và nâng cao thu nhập cho người dân đã được phê duyệt trong Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 - 2035, trong đó ưu tiên các đối tượng người nghèo, người dân tộc thiểu số tại các xã nghèo và thôn, bản đặc biệt khó khăn.
Bộ Nội vụ chủ trì, phối hợp với Bộ Dân tộc và Tôn giáo và các bộ, cơ quan, địa phương liên quan tăng cường kiểm tra việc thực hiện cơ chế, chính sách ưu đãi trong việc đào tạo, quy hoạch, tuyển dụng, sử dụng cán bộ là người dân tộc thiểu số, nhất là đối với cán bộ nữ, cán bộ là người dân tộc thiểu số rất ít người và các dân tộc hiện có ít cán bộ; tiếp tục nghiên cứu, đề xuất sửa đổi, bổ sung cơ chế, chính sách ưu đãi phù hợp với thực tiễn.
Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với các cơ quan, địa phương nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao dân trí vùng dân tộc thiểu số và miền núi; nghiên cứu phương án nâng cấp, mở rộng quy mô các trường THPT ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi và khu vực xã biên giới để tạo điều kiện học tập thuận lợi, thúc đẩy phát triển toàn diện và nâng cao tỷ lệ học sinh sau tốt nghiệp THCS tiếp tục theo học cấp THPT tại địa bàn. Tổ chức triển khai hiệu quả Đề án Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao người dân tộc thiểu số trong một số ngành, lĩnh vực trọng điểm giai đoạn 2026-2035, định hướng đến năm 2045.
Bộ Y tế chủ trì, phối hợp với các cơ quan, địa phương rà soát, nghiên cứu, bổ sung chính sách đào tạo nguồn nhân lực y tế cho vùng khó khăn và đặc biệt khó khăn; quan tâm đầu tư xây dựng, cải tạo cơ sở vật chất và cung cấp trang thiết bị thỏa đáng cho các cơ sở y tế tuyến xã tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương rà soát, nghiên cứu, đề xuất hoàn thiện cơ chế, chính sách đặc thù nhằm ưu tiên đầu tư, hỗ trợ từ ngân sách nhà nước cho công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số, trong đó chú trọng các dân tộc rất ít người và các giá trị văn hóa có nguy cơ mai một. Đồng thời, tổ chức bảo tồn, phát triển không gian văn hóa, làng văn hóa truyền thống gắn với phát triển du lịch bền vững; ưu tiên phát triển du lịch văn hóa, du lịch cộng đồng có sự tham gia và hưởng lợi của đồng bào dân tộc thiểu số.
Bộ Công Thương chỉ đạo, đôn đốc các địa phương và cơ quan liên quan tập trung đầu tư phát triển hệ thống điện cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; phấn đấu đến năm 2030, 100% số hộ dân được sử dụng điện.
Bộ Xây dựng chủ trì, phối hợp với các cơ quan, địa phương tập trung nguồn lực phát triển hệ thống đường giao thông nông thôn, cầu dân sinh vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; tiếp tục thực hiện chính sách hỗ trợ nhà ở cho người nghèo, ưu tiên cho đối tượng là hộ dân tộc thiểu số.
Bộ Công an chủ trì, phối hợp với các cơ quan, địa phương tăng cường các biện pháp giữ vững ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; kiên quyết đấu tranh với các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo để chống phá sự nghiệp phát triển đất nước; xóa bỏ tệ nạn ma túy và các tệ nạn xã hội khác ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Bộ Quốc phòng chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương thực hiện tốt nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, an ninh gắn với phát triển kinh tế - xã hội; giúp dân giảm nghèo bền vững, chú trọng đầu tư xây dựng các Khu kinh tế quốc phòng; đảm bảo quốc phòng, an ninh ở khu vực biên giới, giữ vững độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, nhất là các địa bàn chiến lược, trọng điểm, khu vực biên giới, hải đảo.
Bộ Ngoại giao chủ trì, phối hợp với các cơ quan, địa phương tăng cường quan hệ chính trị tốt đẹp, tin cậy với các nước, nhất là các nước láng giềng, các tổ chức quốc tế, từ đó tiếp tục vận động các nước, các đối tác tiếp tục hỗ trợ Việt Nam triển khai các dự án liên quan đến dân tộc thiểu số; phối hợp thông tin cho các đối tác về các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước về công tác dân tộc; phối hợp thúc đẩy hợp tác song phương và đa phương trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực phục vụ công tác dân tộc.
Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố xây dựng và hoàn thiện kế hoạch, quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ người dân tộc thiểu số trong hệ thống chính trị.
Đồng thời, tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, đánh giá sơ kết, tổng kết kết quả thực hiện chính sách dân tộc trên địa bàn.
Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan trung ương khẩn trương xây dựng và hoàn thiện trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt các Đề án chưa hoàn thành trong Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 10/NQ-CP ngày 28/01/2022 của Chính phủ, xây dựng kế hoạch thực hiện Chiến lược của đơn vị sau sắp xếp, sáp nhập; Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố đặc biệt là các địa phương thực hiện sáp nhập năm 2025 rà soát, xây dựng và ban hành Kế hoạch thực hiện Chiến lược công tác dân tộc đảm bảo thống nhất, phù hợp với chủ trương của Đảng, Nhà nước trong giai đoạn mới; tổ chức, triển khai thực hiện nghiêm túc Chỉ thị này.
Thủ tướng Chính phủ đề nghị Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chủ trì, phối hợp với Bộ Dân tộc và Tôn giáo, tăng cường vận động đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, nêu cao ý thức tự lực, tự cường, củng cố khối đại đoàn kết dân tộc; chăm lo, bồi dưỡng và phát huy vai trò của người có uy tín trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Phó Thủ tướng Phan Văn Giang ký Quyết định số 829/QĐ-TTg ban hành Quy chế phối hợp trong đấu tranh, ngăn chặn hoạt động trốn tránh các biện pháp trừng phạt tài chính mục tiêu liên quan đến phổ biến vũ khí huỷ diệt hàng loạt.

Bộ đội Hóa học thực hành tiêu tẩy phóng xạ trong diễn tập. Ảnh: Báo QĐND
Quy chế này quy định về nguyên tắc, mục đích, hình thức, nội dung và trách nhiệm phối hợp giữa các bộ, cơ quan ngang bộ trong đấu tranh, ngăn chặn hoạt động trốn tránh các biện pháp trừng phạt tài chính mục tiêu liên quan đến phổ biến vũ khí huỷ diệt hàng loạt.
Quyết định quy định phối hợp phải đảm bảo chặt chẽ, hiệu quả trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi cơ quan trong quá trình hoạt động; đảm bảo đúng chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; phù hợp với các điều ước quốc tế trong lĩnh vực phòng, chống phổ biến vũ khí huỷ diệt hàng loạt mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
Hoạt động phối hợp phải thực hiện thường xuyên, kịp thời, đảm bảo đúng nội dung và hiệu quả và bảo đảm tuân thủ pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước; chỉ sử dụng thông tin, tài liệu được cung cấp phục vụ công tác nghiệp vụ khi đủ điều kiện.
Phối hợp nhằm mục đích bảo đảm sự chỉ đạo, điều hành tập trung, thống nhất, kịp thời của lãnh đạo các bộ, cơ quan ngang bộ trong đấu tranh, ngăn chặn hoạt động trốn tránh các biện pháp trừng phạt tài chính mục tiêu liên quan đến phổ biến vũ khí huỷ diệt hàng loạt.
Thiết lập cơ chế phối hợp thống nhất, đồng bộ, kịp thời, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và năng lực thực thi các biện pháp trừng phạt được ban hành theo các nghị quyết của Hội đồng bảo an Liên hợp quốc.
Tăng cường trách nhiệm giữa các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân khác trong đấu tranh, ngăn chặn kịp thời, hiệu quả với hoạt động trốn tránh các biện pháp trừng phạt tài chính mục tiêu liên quan đến phổ biến vũ khí huỷ diệt hàng loạt.
Các hình thức phối hợp được thực hiện như sau:
- Trao đổi thông tin bằng văn bản hoặc điện tử;
- Tổ chức họp trao đổi lấy ý kiến;
- Tổ chức kiểm tra liên ngành;
- Tổ chức đào tạo, tập huấn chung;
- Tổ chức sơ kết, tổng kết và xây dựng báo cáo kết quả phối hợp;
- Các hình thức phối hợp khác phù hợp với quy định của pháp luật.
Nội dung phối hợp gồm: Phối hợp trao đổi, cung cấp thông tin, tài liệu; phối hợp thực hiện thông tin, tuyên truyền; phối hợp kiểm tra thực hiện các quy định của pháp luật; phối hợp kiểm tra, xác minh; phối hợp thực hiện trì hoãn giao dịch, phong tỏa tài khoản, tạm ngừng lưu thông, tạm giữ tiền, tài sản liên quan đến trốn tránh các biện pháp trừng phạt tài chính mục tiêu liên quan đến phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt; phối hợp thực hiện hợp tác quốc tế.
Trong phối hợp kiểm tra, xác minh, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an có trách nhiệm chỉ đạo các cơ quan, đơn vị thuộc quyền xác minh làm rõ các dấu hiệu liên quan đến hoạt động trốn tránh các biện pháp trừng phạt tài chính mục tiêu liên quan đến phổ biến vũ khí huỷ diệt hàng loạt của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Khi có căn cứ cho rằng các tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động trốn tránh các biện pháp trừng phạt tài chính mục tiêu, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành áp dụng ngay các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn đối tượng thực hiện hoạt động trốn tránh các biện pháp trừng phạt tài chính mục tiêu liên quan đến phổ biến vũ khí huỷ diệt hàng loạt; củng cố tài liệu, chứng cứ để làm cơ sở xử lý theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
Các bộ, cơ quan ngang bộ có trách nhiệm chỉ đạo các cơ quan, đơn vị thuộc phạm vi quản lý của mình cung cấp, trao đổi thông tin kịp thời cho Bộ Quốc phòng, Bộ Công an xác định tính liên quan, tính chính xác, kết luận bản chất nguồn tin nghi liên quan đến hoạt động trốn tránh các biện pháp trừng phạt tài chính mục tiêu liên quan đến phổ biến vũ khí huỷ diệt hàng loạt; phối hợp với Bộ Quốc phòng, Bộ Công an áp dụng các biện pháp ngăn chặn các đối tượng tiếp tục thực hiện hành vi trốn tránh các biện pháp trừng phạt tài chính mục tiêu liên quan đến phổ biến vũ khí huỷ diệt hàng loạt./.