In bài viết

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 12/8/2026 (1)

(Chinhphu.vn) - Văn phòng Chính phủ vừa có Thông cáo báo chí chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 12/8/2026 (1).

12/08/2026 18:44

Đẩy nhanh tiến độ triển khai các dự án đầu tư xây dựng đường bộ cao tốc tại khu vực Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 12/8/2026 (1)- Ảnh 1.

Đẩy nhanh tiến độ các dự án đầu tư xây dựng đường bộ cao tốc tại khu vực Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ

Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc vừa ký Công điện số 53/CĐ-TTg ngày 12/8/2026 của Thủ tướng Chính phủ yêu cầu đẩy nhanh tiến độ triển khai các dự án đầu tư xây dựng đường bộ cao tốc tại khu vực Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ.

Công điện gửi Bộ trưởng các Bộ: Tài chính, Xây dựng; Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố: Thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Đồng Nai, Tây Ninh, Vĩnh Long, Đồng Tháp, An Giang, Lâm Đồng.

Nội dung công điện nêu rõ: Thực hiện mục tiêu đột phá về phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại; thúc đẩy đầu tư công, huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực xã hội, tạo động lực quan trọng cho tăng trưởng nhanh, bền vững, phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng hai con số trong năm 2026 và các năm tiếp theo, thời gian qua Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo quyết liệt các bộ, ngành, địa phương đẩy nhanh tiến độ chuẩn bị đầu tư, giải phóng mặt bằng, thi công và giải ngân vốn đầu tư các công trình, dự án hạ tầng trọng điểm. Trong đó, việc đầu tư xây dựng các dự án đường bộ cao tốc có ý nghĩa hết sức quan trọng, nhằm nâng cao năng lực giao thông, thúc đẩy khu vực phía Nam phát triển nhanh và bền vững, đóng góp vào sự phát triển chung của đất nước.

Hiện nay, tại khu vực Đông Nam Bộ, Tây Nam Bộ đang triển khai 10 dự án đầu tư xây dựng đường bộ cao tốc, được chia thành 21 dự án thành phần (DATP), Bộ Xây dựng chủ quản 03 DATP, các địa phương chủ quản 18 DATP. Trong đó có 16 DATP đang triển khai thi công, 03 DATP đang lựa chọn nhà đầu tư và 02 DATP đang thẩm định, phê duyệt báo cáo nghiên cứu khả thi. Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố chủ quản các dự án đã tích cực triển khai thực hiện, tuy nhiên đến nay một số dự án còn tồn tại, khó khăn, vướng mắc hoặc có kế hoạch hoàn thành năm 2026 nhưng khối lượng còn lại lớn, cần rất nỗ lực mới có thể đáp ứng yêu cầu. Để sớm hoàn thành đưa vào khai thác các công trình, dự án, phát huy hiệu quả đầu tư, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố là cơ quan chủ quản/ cơ quan có thẩm quyền các dự án:

1. Về công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố: Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Tây Ninh, Đồng Tháp, Lâm Đồng chỉ đạo, huy động cả hệ thống chính trị vào cuộc, tập trung đẩy nhanh công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, di dời các công trình hạ tầng kỹ thuật đối với các dự án còn vướng mặt bằng: Vành đai 4 Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh - Chơn Thành, Thành phố Hồ Chí Minh - Mộc Bài, Gia Nghĩa - Chơn Thành, Thành phố Hồ Chí Minh - Trung Lương - Mỹ Thuận đảm bảo bàn giao mặt bằng sạch cho các công trình, dự án theo kế hoạch. Trong quá trình thực hiện phải quan tâm, chăm lo đời sống, tinh thần, sinh kế của người dân chịu ảnh hưởng; bảo đảm nơi ở, nơi sinh hoạt của người dân.

2. Về nguồn cung vật liệu xây dựng

Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố: Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, An Giang, Vĩnh Long, Đồng Tháp chỉ đạo các cơ quan tham mưu tiếp tục rà soát, quy hoạch, đẩy nhanh thủ tục cấp phép và gia hạn các mỏ, bảo đảm nguồn cung vật liệu xây dựng phục vụ cho các dự án, đặc biệt dự án Châu Đốc - Cần Thơ - Sóc Trăng, Thành phố Hồ Chí Minh - Trung Lương - Mỹ Thuận đang gặp khó khăn về nguồn vật liệu. Các địa phương tăng cường công tác quản lý, kiểm tra, giám sát, chấn chỉnh việc chấp hành pháp luật về giá vật liệu xây dựng; kịp thời công bố giá vật liệu và chỉ số giá xây dựng, kiểm soát mặt bằng giá theo quy định.

3. Về công tác triển khai thi công

Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố là cơ quan chủ quản chỉ đạo chủ đầu tư và các đơn vị liên quan đẩy nhanh tiến độ thi công, đặc biệt các dự án có kế hoạch hoàn thành năm 2026 như, Vành đai 3 Thành phố Hồ Chí Minh, Cao Lãnh - An Hữu, Châu Đốc - Cần Thơ - Sóc Trăng; dự án đã khởi công nhưng tiến độ còn chưa đáp ứng yêu cầu như Thành phố Hồ Chí Minh - Chơn Thành, Gia Nghĩa - Chơn Thành; dự án mới khởi công như Thành phố Hồ Chí Minh - Mộc Bài. Chủ động rà soát, cập nhật tiến độ chi tiết các hạng mục phù hợp thực tế hiện trường, thời tiết, đặc biệt các hạng mục đường găng của dự án; huy động tối đa nguồn lực tài chính, nhân lực xe máy, thiết bị, đầy đủ dây chuyền thi công, khắc phục điều kiện thời tiết, tổ chức thi công "3 ca 4 kíp" để hoàn thành các dự án đúng kế hoạch. Tổ chức thi công khoa học, hiệu quả, tuân thủ quy định của pháp luật; bảo đảm chất lượng, tiêu chuẩn kỹ thuật, an toàn trong cả vòng đời dự án, không vì tiến độ mà bỏ qua các quy trình, tiêu chuẩn kỹ thuật làm ảnh hưởng tới chất lượng công trình.

4. Về công tác giải ngân

Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố là cơ quan chủ quản chỉ đạo chủ đầu tư và các đơn vị liên quan đẩy nhanh tiến độ thực hiện, giải ngân nguồn vốn các dự án bảo đảm đúng kế hoạch, đặc biệt tại các dự án có kế hoạch hoàn thành trong năm 2026, các dự án được giao kế hoạch vốn năm 2026 lớn.

5. Một số nội dung khác

- Đối với dự án Vành đai 4 Thành phố Hồ Chí Minh: Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Đồng Nai, tỉnh Tây Ninh khẩn trương hoàn thành lựa chọn nhà đầu tư đối với 03 DATP đã phê duyệt Báo cáo nghiên cứu khả thi và phê duyệt Báo cáo nghiên cứu khả thi 02 dự án thành phần còn lại, sớm hoàn thành các thủ tục để khởi công toàn bộ 05 dự án thành phần trong Quý IV/2026.

- Đối với dự án Gia Nghĩa - Chơn Thành: Thủ tướng Chính phủ đã thành lập Hội đồng thẩm định nhà nước để thẩm định Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi điều chỉnh Dự án, trong quá trình hoàn thiện các thủ tục liên quan, Ủy ban nhân dân thành phố Đồng Nai chịu trách nhiệm chỉ đạo Nhà đầu tư tiếp tục triển khai thực hiện theo hợp đồng đã ký, bảo đảm không ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện, giải ngân.

6. Bộ Xây dựng theo dõi, đôn đốc các cơ quan, địa phương thực hiện nhiệm vụ được giao tại Công điện này, kịp thời báo cáo Thủ tướng Chính phủ đối với các khó khăn, vướng mắc.

Kết luận của Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc tại cuộc họp về rà soát, đầu tư nâng cấp, hoàn thiện các tuyến cao tốc đã đầu tư theo quy mô phân kỳ

Văn phòng Chính phủ vừa có Thông báo số 422/TB-VPCP ngày 12/8/2026 kết luận của Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc tại cuộc họp về rà soát, đầu tư nâng cấp, hoàn thiện các tuyến cao tốc đã đầu tư theo quy mô phân kỳ.

Thông báo kết luận nêu rõ, phát triển hệ thống đường bộ cao tốc là nhiệm vụ trọng tâm, cấp thiết, nhằm hình thành trục giao thông xương sống của quốc gia; tăng cường liên kết vùng, giảm chi phí logistics, nâng cao năng lực cạnh tranh, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, có ý nghĩa quan trọng để hoàn thành mục tiêu tăng trưởng 2 con số trong năm 2026 và các năm tiếp theo. Đồng thời, góp phần bảo đảm quốc phòng, an ninh, mở rộng không gian phát triển và tạo động lực thu hút đầu tư, phát triển bền vững.

Với tầm quan trọng, chiến lược nêu trên, tại Kết luận số 18-KL/TW ngày 04 tháng 4 năm 2026, Ban chấp hành Trung ương Đảng xác định "đến năm 2030 đưa vào sử dụng trên 5.000km đường bộ cao tốc" và "tập trung đầu tư các tuyến đường bộ cao tốc theo quy hoạch".

Do đó, nhiệm vụ trọng tâm hiện nay là tập trung tổ chức triển khai, đẩy nhanh tiến độ chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư, hoàn thiện hệ thống đường bộ cao tốc theo quy hoạch, trong đó ưu tiên mở rộng các tuyến cao tốc 2 làn xe, từng bước mở rộng cao tốc 4 làn xe hạn chế theo quy hoạch.

Ưu tiên đầu tư mở rộng, nâng cấp các tuyến cao tốc quy mô 2 làn xe thành cao tốc quy mô hoàn chỉnh theo quy chuẩn, quy hoạch

Để hoàn thành mục tiêu phát triển hệ thống đường bộ cao tốc theo đúng Kết luận số 18-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương và chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ thống nhất với đề xuất của Bộ Xây dựng về việc ưu tiên đầu tư mở rộng, nâng cấp các tuyến cao tốc quy mô 2 làn xe thành cao tốc quy mô hoàn chỉnh theo quy chuẩn, quy hoạch. Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp Bộ Xây dựng và các địa phương có liên quan rà soát, nghiên cứu báo cáo cấp có thẩm quyền ưu tiên cân đối, bố trí nguồn vốn đầu tư công trong kế hoạch trung hạn giai đoạn 2026-2030 để thực hiện theo quy định.

Đối với các tuyến cao tốc có quy mô 4 làn xe, Phó Thủ tướng yêu cầu Bộ Xây dựng, các địa phương là cơ quan chủ quản dự án chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan căn cứ nhu cầu vận tải, nghiên cứu phương án đầu tư mở rộng, nâng cấp một số đoạn tuyến bảo đảm quy chuẩn, quy hoạch để quyết định theo thẩm quyền hoặc báo cáo cấp có thẩm quyền quyết định đầu tư nếu huy động được nguồn vốn tư nhân; không bố trí toàn bộ vốn đầu tư công cho các dự án có khả năng huy động được nguồn vốn tư nhân.

Căn cứ nguyên tắc nêu trên, Bộ Xây dựng tổ chức triển khai công tác chuẩn bị đầu tư mở rộng tuyến cao tốc Bắc - Nam phía Đông, làm cơ sở xác định cụ thể nhu cầu vận tải, phạm vi, quy mô, hiệu quả kinh tế - xã hội, phương án tổ chức thực hiện; báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.

Huy động tối đa nguồn lực xã hội để phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đồng bộ, hiện đại

Phó Thủ tướng cũng giao Bộ Xây dựng chủ trì, phối hợp với các địa phương liên quan nghiên cứu, tổ chức Hội nghị xúc tiến đầu tư nhằm giới thiệu, kêu gọi các nhà đầu tư trong nước và quốc tế tham gia đầu tư các dự án đường bộ cao tốc theo các phương thức đầu tư phù hợp, góp phần huy động tối đa nguồn lực xã hội để thực hiện mục tiêu phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đồng bộ, hiện đại; thời gian tổ chức vào đầu tháng 10 năm 2026.

Kế hoạch triển khai thực hiện Thông báo số 123-TB/VPTW ngày 16/7/2026 của Văn phòng Trung ương Đảng thông báo kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại buổi làm việc về chất lượng nguồn lao động Việt Nam, giải pháp tạo việc làm bền vững ở nông thôn, đô thị, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và công tác đào tạo nguồn nhân lực trong giai đoạn phát triển mới

Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà vừa ký Quyết định số 1538/QĐ-TTg ngày 12/8/2026 ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Thông báo số 123-TB/VPTW ngày 16/7/2026 của Văn phòng Trung ương Đảng thông báo kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại buổi làm việc về chất lượng nguồn lao động Việt Nam, giải pháp tạo việc làm bền vững ở nông thôn, đô thị, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và công tác đào tạo nguồn nhân lực trong giai đoạn phát triển mới (Kế hoạch).

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 12/8/2026 (1)- Ảnh 2.

Phát triển nguồn nhân lực, nâng cao chất lượng việc làm trong giai đoạn mới.

Mục đích của Kế hoạch nhằm tổ chức quán triệt sâu sắc và triển khai thực hiện nghiêm túc, đồng bộ, hiệu quả các nội dung nêu trong Thông báo số 123-TB/VPTW.

Đồng thời, từng bước khắc phục các tồn tại, hạn chế; cụ thể hóa trách nhiệm của các bộ, ngành, địa phương trong phát triển nguồn nhân lực, nâng cao chất lượng việc làm, phát triển kỹ năng và kết nối cung - cầu lao động.

5 nhiệm vụ, giải pháp

Kế hoạch yêu cầu các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện đầy đủ, hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp: (1) tạo việc làm bền vững ở đô thị gắn với mô hình tăng trưởng mới, phát triển doanh nghiệp và nâng cao chất lượng sống; (2) tạo việc làm bền vững ở nông thôn gắn với nâng cao giá trị lao động, thúc đẩy chuyển dịch lao động có kỹ năng và bảo đảm sinh kế bền vững; (3) tạo việc làm bền vững ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số gắn với khơi dậy nội lực, giảm nghèo bền vững và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc; (4) đổi mới đào tạo nguồn nhân lực gắn với xây dựng hệ thống phát triển kỹ năng quốc gia, chuyển từ đáp ứng nhu cầu trước mắt sang chuẩn bị năng lực cạnh tranh dài hạn của quốc gia; (5) mở rộng các kênh tạo việc làm, nâng cao kỹ năng của người lao động và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội.

Gắn quy hoạch và tổ chức không gian phát triển với mục tiêu tạo việc làm bền vững

Về tạo việc làm bền vững ở đô thị gắn với mô hình tăng trưởng mới, phát triển doanh nghiệp và nâng cao chất lượng sống, Kế hoạch yêu cầu:

Phát triển mạnh cầu lao động tại đô thị thông qua thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, nhất là kinh tế tư nhân, doanh nghiệp nhỏ và vừa, công nghiệp chế biến, chế tạo, công nghiệp hỗ trợ, logistics, thương mại điện tử, dịch vụ chất lượng cao, kinh tế số, kinh tế xanh và các ngành có giá trị gia tăng cao; gắn quy hoạch và tổ chức không gian phát triển với mục tiêu tạo việc làm bền vững, phân bổ hợp lý việc làm và nguồn nhân lực.

Thu hút, ưu đãi các dự án đầu tư tạo việc làm có năng suất, giá trị gia tăng cao, sử dụng công nghệ tiên tiến, có hoạt động chuyển giao công nghệ và đào tạo người lao động; hạn chế các dự án chủ yếu dựa vào lao động giản đơn, tiêu hao nhiều tài nguyên và năng lượng.

Rà soát, dự báo nhu cầu nhân lực tại các khu công nghiệp, khu kinh tế, khu công nghệ cao, trung tâm kinh tế, dự án lớn và công trình trọng điểm; xây dựng phương án đào tạo, kết nối, điều tiết và thu hút lao động, không để tình trạng thiếu hụt nhân lực làm ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện.

Phát triển mạnh khu vực việc làm chính thức; nghiên cứu, hoàn thiện chính sách hỗ trợ lao động phi chính thức, hộ kinh doanh, cơ sở sản xuất và doanh nghiệp siêu nhỏ chuyển sang hoạt động chính thức; bảo đảm người lao động được giao kết hợp đồng, tham gia bảo hiểm và được bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp.

Gắn tạo việc làm ở đô thị với nâng cao chất lượng sống, cân đối cung - cầu lao động; phát triển nhà ở xã hội, nhà ở công nhân, nhà ở cho thuê, trường học, y tế cơ sở, giao thông công cộng, thiết chế văn hóa và dịch vụ thiết yếu tại các khu vực tập trung đông người lao động.

Nâng cao chất lượng, hiệu quả dịch vụ việc làm, tư vấn, hướng nghiệp, đào tạo kỹ năng và hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp đối với lao động đô thị, nhất là lao động phi chính thức, lao động mất việc làm hoặc có nguy cơ mất việc làm.

Xây dựng, hoàn thiện cơ chế liên thông giữa giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học

Về đổi mới đào tạo nguồn nhân lực gắn với xây dựng hệ thống phát triển kỹ năng quốc gia, chuyển từ đáp ứng nhu cầu trước mắt sang chuẩn bị năng lực cạnh tranh dài hạn của quốc gia, Kế hoạch yêu cầu:

Đổi mới mạnh mẽ công tác phân luồng, hướng nghiệp, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học ứng dụng, thực hành, gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, thị trường lao động và doanh nghiệp; xây dựng, hoàn thiện cơ chế liên thông giữa giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học.

Nghiên cứu phát triển mô hình trung học nghề phù hợp; nâng cao vị thế, thu nhập và cơ hội phát triển nghề nghiệp của lao động kỹ thuật, từng bước đưa giáo dục nghề nghiệp trở thành lựa chọn phù hợp, hấp dẫn đối với người học.

Nghiên cứu, phát triển mô hình đào tạo nghề kép, kết hợp đào tạo kiến thức, kỹ năng cơ bản tại cơ sở giáo dục nghề nghiệp với đào tạo thực hành, thực tập tại doanh nghiệp; khuyến khích doanh nghiệp tham gia xây dựng chương trình, tổ chức đào tạo, cử chuyên gia hướng dẫn, đánh giá kỹ năng và tuyển dụng người học sau đào tạo.

Chú trọng đào tạo theo nhu cầu và đặt hàng của doanh nghiệp, bộ, ngành, địa phương; các bộ quản lý ngành định hướng, xác định nhu cầu nhân lực; địa phương xác định nhu cầu theo quy hoạch và không gian phát triển; doanh nghiệp tham gia xây dựng chương trình, tổ chức thực hành, đánh giá kỹ năng và tuyển dụng.

Tăng cường cơ chế liên kết giữa Nhà nước, cơ sở giáo dục, cơ sở đào tạo, cơ sở nghiên cứu và doanh nghiệp; phát huy vai trò trung tâm của doanh nghiệp trong đặt hàng, tổ chức thực hành và đánh giá chất lượng đầu ra.

Xây dựng, cập nhật chuẩn kỹ năng nghề quốc gia; đẩy mạnh đánh giá, công nhận kỹ năng nghề, công nhận kết quả học tập và kinh nghiệm làm việc; phát triển hồ sơ kỹ năng của người lao động để tích lũy, cập nhật và chuyển đổi kỹ năng trong suốt quá trình làm việc.

Phát triển mạnh công tác đào tạo lại, đào tạo nâng cao và học tập suốt đời; xây dựng cơ chế hỗ trợ người lao động thường xuyên học tập, tích lũy chứng chỉ, tín chỉ kỹ năng, đáp ứng yêu cầu số hóa, xanh hóa, thích ứng với biến đổi khí hậu và tái cấu trúc việc làm.

Xác định cụ thể nhu cầu, nội dung đào tạo theo từng ngành, nghề, trình độ, trong đó ưu tiên công nghiệp chế biến, chế tạo, công nghệ số, bán dẫn, logistics, nông nghiệp công nghệ cao, kinh tế xanh, dịch vụ hiện đại và các nghề phù hợp với sinh kế tại chỗ.

Từng bước đổi mới cơ chế phân bổ nguồn lực cho đào tạo theo hướng gắn với tỷ lệ có việc làm, mức thu nhập sau đào tạo, mức độ đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp và hiệu quả sử dụng lao động.

Thành lập Hội đồng thẩm định điều chỉnh Quy hoạch lâm nghiệp thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050

Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng vừa ký Quyết định số 1540/QĐ-TTg ngày 12/8/2026 thành lập Hội đồng thẩm định điều chỉnh Quy hoạch lâm nghiệp thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050.

Theo Quyết định, Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng làm Chủ tịch Hội đồng thẩm định điều chỉnh Quy hoạch lâm nghiệp thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 (Hội đồng).

Phó Chủ tịch Hội đồng là Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường.

Thành viên Hội đồng bao gồm đại diện Lãnh đạo các bộ, cơ liên quan (Văn phòng Chính phủ, Bộ Tài chính, Bộ Xây dựng, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Công Thương, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Dân tộc và Tôn giáo), lãnh đạo Ủy ban nhân dân một số tỉnh, thành phố (Phú Thọ, Nghệ An, Gia Lai, Đà Nẵng, An Giang); ông Ngô Sỹ Hoài, Tổng Thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam và các chuyên gia là Ủy viên phản biện (ông Triệu Văn Hùng, Chủ tịch Hội KHKT Lâm nghiệp Việt Nam; ông Phí Hồng Hải, Giám đốc Viện Khoa học lâm nghiệp Việt Nam; ông Nguyễn Bá Ngãi, Phó Chủ tịch Hội Chủ rừng Việt Nam; ông Nghiêm Văn Tuấn, Phó Giám đốc Đài Viễn thám Quốc gia).

Nhiệm vụ của Hội đồng

Hội đồng có nhiệm vụ giúp Thủ tướng Chính phủ tổ chức thẩm định điều chỉnh Quy hoạch lâm nghiệp thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 theo quy định của pháp luật về quy hoạch.

Cơ quan thường trực của Hội đồng là Bộ Nông nghiệp và Môi trường.

Trách nhiệm và quyền hạn của Cơ quan thường trực Hội đồng thực hiện theo quy định tại Điều 38 Nghị định số 70/2026/NĐ-CP ngày 09 tháng 3 năm 2026 của Chính phủ.

Hội đồng hoạt động theo hình thức kiệm nhiệm; chấm dứt hoạt động và tự giải thể sau khi điều chỉnh Quy hoạch lâm nghiệp thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt./.