In bài viết

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 13/10/2026

(Chinhphu.vn) - Văn phòng Chính phủ vừa có Thông cáo báo chí chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 13/10/2026.

13/10/2026 17:29

Phê duyệt Đề án "Hệ thống học liệu số quốc gia đối với giáo dục phổ thông" 

Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu ký Quyết định số 1965/QĐ-TTg ngày 12/10/2026 phê duyệt Đề án "Hệ thống học liệu số quốc gia đối với giáo dục phổ thông".

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 13/10/2026- Ảnh 1.

Phê duyệt Đề án “Hệ thống học liệu số quốc gia đối với giáo dục phổ thông" - Ảnh minh họa

Hệ thống học liệu số quốc gia đối với giáo dục phổ thông (Hệ thống) là hạ tầng học liệu số dùng chung phục vụ giáo dục phổ thông, được Nhà nước quản lý thống nhất; bảo đảm tuân thủ Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số, kiến trúc số ngành giáo dục và quy định của pháp luật có liên quan. Quyền tác giả, quyền liên quan đối với học liệu do các tổ chức, cá nhân tạo lập được tôn trọng, bảo hộ theo quy định của pháp luật.

Hệ thống được thiết kế theo hướng mở, liên thông, lấy dữ liệu làm trung tâm; ưu tiên kế thừa, kết nối, khai thác các hạ tầng, nền tảng, dịch vụ và thành phần dùng chung của quốc gia.

Bảo đảm công bằng tiếp cận nguồn học liệu số chất lượng cao, chuẩn hóa và miễn phí cho mọi học sinh, giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục trên cả nước; ưu tiên nguồn lực, hạ tầng, thiết bị và giải pháp truy cập cho học sinh, giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, học sinh khuyết tật.

Hệ thống đồng bộ, hiện đại, liên thông, phục vụ đổi mới giáo dục phổ thông

Mục đích của Đề án là xây dựng Hệ thống đồng bộ, hiện đại, liên thông và dùng chung, phục vụ đổi mới giáo dục phổ thông; bảo đảm học sinh, giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục được tiếp cận, khai thác học liệu số có chất lượng, phù hợp với nhu cầu dạy và học.

Về thể chế: Đề án phấn đấu hoàn thiện các văn bản, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, quy định về định danh, thẩm định, bản quyền, quản lý, chia sẻ và khai thác học liệu số theo quy định của pháp luật; vận hành hiệu quả cơ chế bản quyền, chính sách khuyến khích đóng góp và cơ chế phối hợp liên ngành.

Về hạ tầng: Cổng học liệu số quốc gia đối với giáo dục phổ thông (Cổng học liệu số) được xây dựng, vận hành ổn định, an toàn, đáp ứng yêu cầu khai thác, sử dụng tại 100% cơ sở giáo dục phổ thông trên phạm vi toàn quốc theo quy mô và yêu cầu kỹ thuật được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

Về học liệu: Hoàn thành bộ học liệu lõi quốc gia đối với các môn học, cấp học theo Chương trình giáo dục phổ thông, ưu tiên học liệu tương tác đa phương tiện, mô phỏng thực tế và thí nghiệm ảo.

Về người dùng: Giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục, học sinh được bồi dưỡng năng lực số theo lộ trình, bảo đảm đáp ứng yêu cầu khai thác, sử dụng và đóng góp học liệu số; học liệu được khai thác thường xuyên; mức độ hài lòng của người dùng đạt yêu cầu.

Về kết nối, chia sẻ dữ liệu và xác thực người dùng: Danh mục và dữ liệu học liệu số đã được chuẩn hóa được kết nối, chia sẻ với các cơ sở dữ liệu, nền tảng dữ liệu quốc gia có liên quan; kết nối với ứng dụng định danh quốc gia (VNeID) và các phương thức xác thực phù hợp khác phục vụ xác thực người dùng; bảo đảm học sinh không bị hạn chế quyền tiếp cận học liệu do chưa có tài khoản định danh điện tử; đối với học liệu công khai, miễn phí, không bắt buộc đăng nhập. Danh mục và dữ liệu học liệu số được kết nối, chia sẻ với Cơ sở dữ liệu quốc gia về trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực giáo dục phục vụ phát triển, huấn luyện các mô hình trí tuệ nhân tạo trong giáo dục.

Về an ninh mạng, an toàn thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân: Hệ thống được bảo đảm an toàn thông tin theo cấp độ phù hợp; tuân thủ pháp luật về an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu cá nhân và bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng.

Về công bằng giáo dục: Học sinh vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi được tiếp cận nguồn học liệu chất lượng cao như học sinh khu vực đô thị và các vùng thuận lợi, góp phần thu hẹp khoảng cách giáo dục giữa các vùng, miền.

Cấu trúc và các thành phần của hệ thống

Hệ thống là hạ tầng học liệu số dùng chung, gồm các thành phần chủ yếu sau: (i) Cổng học liệu số; (ii) Kho học liệu số quốc gia; (iii) Nền tảng quản lý và khai thác học liệu số; (iv) Hệ thống dữ liệu và các dịch vụ kết nối, chia sẻ; (v) Hạ tầng kỹ thuật bảo đảm vận hành Hệ thống. Hệ thống là thành phần của Nền tảng số giáo dục quốc gia, được kết nối, liên thông với Nền tảng giáo dục thông minh quốc gia thuộc Danh mục nền tảng số dùng chung quốc gia.

Các thành phần của Hệ thống được thiết kế theo kiến trúc mở, bảo đảm khả năng tích hợp, liên thông và kế thừa các hệ thống, nền tảng, cơ sở dữ liệu hiện có, hạn chế đầu tư trùng lặp.

Mô hình quản lý, vận hành và yêu cầu kỹ thuật cụ thể của Hệ thống do Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì xây dựng, tổ chức thực hiện theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành theo quy định của pháp luật.

8 nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm của Đề án

Để thực hiện được các mục tiêu trên, Đề án đưa ra 8 nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm gồm:

Hoàn thiện thể chế, chính sách, tiêu chuẩn kỹ thuật và khung bản quyền học liệu số:

Rà soát, xác định rõ trách nhiệm, thẩm quyền quản lý, thẩm định, phê duyệt, khai thác và chia sẻ học liệu số giữa các cấp theo quy định của pháp luật; ban hành quy định, hướng dẫn về học liệu, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, đặc tả dữ liệu, phân loại dữ liệu, mã định danh học liệu và chia sẻ, liên thông dữ liệu.

Xây dựng cơ chế quản lý, khai thác, chia sẻ và sử dụng học liệu số, bảo đảm quyền tác giả, quyền liên quan và khuyến khích phát triển học liệu mở phù hợp với quy định của pháp luật; phân định rõ quyền sở hữu và quyền sử dụng theo các nhóm chủ thể (Nhà nước đặt hàng; giáo viên đóng góp; doanh nghiệp, nhà xuất bản tham gia).

Ban hành chính sách khuyến khích đóng góp học liệu; chính sách bảo đảm an ninh mạng, an toàn thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân.

Phát triển hạ tầng số và nền tảng công nghệ dùng chung:

Xây dựng và vận hành Cổng học liệu số đa nền tảng (web, ứng dụng di động); hỗ trợ truy cập băng thông thấp và chế độ ưu tiên cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Phát triển hạ tầng, nền tảng, dữ liệu và dịch vụ số lưu trữ trên nền điện toán đám mây, trung tâm dữ liệu dự phòng, mạng phân phối nội dung và giám sát 24/7; tuân thủ Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số; kết nối, liên thông, chia sẻ và sử dụng chung với các nền tảng, cơ sở dữ liệu dùng chung của quốc gia.

Xây dựng học liệu lõi quốc gia:

Đặt hàng biên soạn, số hóa học liệu lõi quốc gia bằng ngân sách nhà nước theo mục tiêu phát triển phẩm chất, năng lực học sinh của Chương trình giáo dục phổ thông, ưu tiên học liệu tương tác đa phương tiện, mô phỏng thực tế, thí nghiệm ảo và nội dung đặc thù.

Xây dựng, tổ chức thực hiện quy trình tiếp nhận, thẩm định, phê duyệt, cập nhật, chỉnh sửa, tạm dừng hoặc gỡ bỏ học liệu; ứng dụng công nghệ, trí tuệ nhân tạo trong các khâu phù hợp, bảo đảm trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền.

Huy động nguồn học liệu xã hội hóa từ nhà xuất bản, doanh nghiệp công nghệ giáo dục và cộng đồng giáo viên qua chức năng đóng góp học liệu trên Cổng học liệu số.

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo hỗ trợ vận hành Kho học liệu số quốc gia:

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo để hỗ trợ quản lý, phân loại, tìm kiếm, đề xuất và khai thác học liệu số phù hợp với yêu cầu của Hệ thống.

Việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo phải bảo đảm sự giám sát, kiểm soát và chịu trách nhiệm của con người đối với các quyết định thuộc thẩm quyền; bảo đảm khả năng kiểm tra, truy xuất và xử lý khiếu nại theo quy định của pháp luật.

Đối với các chức năng trí tuệ nhân tạo thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật về trí tuệ nhân tạo, thực hiện đầy đủ các yêu cầu về quản lý rủi ro, minh bạch, giám sát của con người và các yêu cầu khác theo quy định của pháp luật.

Bảo đảm an ninh mạng, an toàn thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân:

Thiết kế kiến trúc bảo mật nhiều lớp; quản lý định danh, xác thực và phân quyền truy cập tập trung; mã hóa dữ liệu lưu trữ và truyền tải; giám sát an ninh mạng 24/7.

Đối với dữ liệu cá nhân của học sinh là trẻ em, người chưa thành niên: thực hiện theo quy định riêng của pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân đối với nhóm chủ thể này và pháp luật về bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng.

Ẩn danh hóa dữ liệu cá nhân trước khi phân tích, tổng hợp; thực hiện kiểm tra, kiểm thử, đánh giá và kiểm toán an toàn thông tin theo yêu cầu, cấp độ và quy định của pháp luật; tuân thủ đầy đủ Luật An ninh mạng và Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân.

Đào tạo, bồi dưỡng năng lực số và truyền thông, thúc đẩy sử dụng thực chất:

Xây dựng, ban hành hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành khung năng lực số; tổ chức tập huấn cốt cán và bồi dưỡng đại trà năng lực số cho giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục theo lộ trình; tích hợp kỹ năng số vào đào tạo sinh viên sư phạm.

Triển khai kế hoạch quản trị thay đổi và thúc đẩy sử dụng thực chất (mạng lưới giáo viên tiên phong, cộng đồng thực hành số, cơ chế thi đua - ghi nhận, đo lường áp dụng thực tế); ưu tiên hỗ trợ thiết bị, đường truyền cho giáo viên, học sinh vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Phối hợp liên ngành và liên thông dữ liệu:

Bảo đảm cam kết chất lượng dịch vụ; thiết lập cơ chế phối hợp liên ngành định kỳ; kết nối, chia sẻ danh mục và dữ liệu học liệu số đã được chuẩn hóa với các cơ sở dữ liệu, nền tảng dữ liệu quốc gia có liên quan theo quy định của pháp luật; phạm vi, phương thức và tần suất chia sẻ do cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn.

Bảo đảm nguồn lực và phát triển bền vững:

Bố trí kinh phí theo nguyên tắc tách bạch vốn đầu tư công cho xây dựng hạ tầng, nền tảng cốt lõi và kinh phí chi thường xuyên cho vận hành, thuê dịch vụ điện toán đám mây, bảo đảm an toàn thông tin, thẩm định và cập nhật học liệu; kinh phí chi thường xuyên được bố trí trong dự toán ngân sách hằng năm theo quy định của pháp luật, phù hợp với nhiệm vụ được cấp có thẩm quyền phê duyệt và khả năng cân đối ngân sách nhà nước.

Đẩy mạnh xã hội hóa, hợp tác công - tư trên nguyên tắc bảo đảm cạnh tranh, công khai, minh bạch, không thu phí đối với học liệu lõi quốc gia; không gắn quyền tiếp cận học liệu lõi với việc mua sản phẩm, dịch vụ khác; không tạo độc quyền nền tảng và không gây bất bình đẳng trong tiếp cận.

Kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà tại Hội nghị trực tuyến toàn quốc quán triệt triển khai Ngày Văn hóa Việt Nam gắn với Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc năm 2026

Văn phòng Chính phủ vừa ban hành Thông báo số 524/TB-VPCP ngày 13/10/2026 kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà tại Hội nghị trực tuyến toàn quốc quán triệt triển khai Ngày Văn hóa Việt Nam gắn với Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc năm 2026.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 13/10/2026- Ảnh 2.

Mở rộng không gian văn hóa phục vụ công cộng trong tuần văn hóa đại đoàn kết dân tộc

Thông báo nêu: Đến nay, nhiều tỉnh, thành phố đã chủ động xây dựng kế hoạch và tích cực trong việc chuẩn bị nội dung các hoạt động kỷ niệm Ngày Văn hóa Việt Nam (24/11) gắn với Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc (18/11) và chuỗi hoạt động tuần văn hóa đại đoàn kết dân tộc trong từng cộng đồng, khu dân cư, thôn, tổ dân phố, địa bàn cơ sở.

Tuy nhiên, công tác chuẩn bị ở một số bộ, ngành, cơ quan ở Trung ương chưa thật sự kỹ lưỡng, chưa sát với mục tiêu, yêu cầu; một số địa phương xây dựng kế hoạch còn đơn điệu, nặng tính hành chính, chưa rõ sản phẩm, chưa đáp ứng yêu cầu về nội dung, hình thức, phương thức tổ chức các hoạt động kỷ niệm Ngày Văn hóa Việt Nam (24/11) gắn với Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc (18/11) và chuỗi hoạt động tuần văn hóa đại đoàn kết dân tộc trong từng cộng đồng, khu dân cư, thôn, tổ dân phố, địa bàn cơ sở trên toàn quốc theo Chỉ thị số 35/CT-TTg.

Tạo dấu ấn ngay trong lần tổ chức đầu tiên

Phó Thủ tướng yêu cầu Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và các bộ, cơ quan, địa phương quán triệt sâu sắc, đổi mới tư duy về việc tổ chức Ngày Văn hóa Việt Nam gắn với Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc năm 2026, thực hiện nghiêm Quyết định số 1111/QĐ-TTg ngày 19 tháng 6 năm 2026 và Chỉ thị số 35/CT-TTg ngày 30 tháng 9 năm 2026 của Thủ tướng Chính phủ.

Phó Thủ tướng lưu ý phải nhận thức đầy đủ ý nghĩa đặc biệt của việc tổ chức Ngày Văn hóa Việt Nam năm 2026. Đây là năm đầu tiên tổ chức nhằm cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07 tháng 01 năm 2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, đưa văn hóa ngày càng thấm sâu vào đời sống xã hội, để mỗi người dân được trực tiếp tham gia sáng tạo và thụ hưởng văn hóa, cùng nhau giữ gìn, trao truyền, làm giàu thêm giá trị tốt đẹp của văn hoá, đất nước và con người Việt Nam.

Việc gắn Ngày Văn hóa Việt Nam với Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc là sự kết hợp có ý nghĩa sâu sắc; văn hóa bồi đắp bản sắc, nuôi dưỡng con người, gắn kết cộng đồng; đại đoàn kết tạo nên sức mạnh để giá trị văn hóa được gìn giữ và lan tỏa. Sự kết hợp này phải theo hướng tự nhiên, tạo động lực tương tác, bổ trợ để phát huy giá trị văn hóa Việt Nam và sức mạnh đại đoàn kết của dân tộc Việt Nam; đồng thời là dịp kỷ niệm 80 năm Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ Nhất. Việc kết nối thành một tuần văn hóa đại đoàn kết dân tộc, tạo thành một chuỗi hoạt động liên tục, rộng khắp nhằm thực sự đi vào đời sống Nhân dân.

Các hoạt động kỷ niệm Ngày Văn hóa Việt Nam năm 2026 phải tạo được dấu ấn ngay trong lần tổ chức đầu tiên để định hình giá trị và sức sống lâu dài của Ngày Văn hóa Việt Nam, để mỗi năm đến ngày 24 tháng 11, người dân mong đợi, chủ động và thực sự thấy mình là một phần của ngày văn hóa.

Các hoạt động phải gần dân, thuận tiện cho dân, phù hợp với từng đối tượng

Phó Thủ tướng đặt ra một số yêu cầu trọng tâm như: Việc tổ chức các hoạt động kỷ niệm Ngày Văn hóa Việt Nam gắn với Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc và chuỗi hoạt động tuần văn hóa đại đoàn kết dân tộc phải thực sự lấy Nhân dân làm chủ thể, phấn đấu bảo đảm mọi người dân đều được tham gia, sáng tạo và thụ hưởng văn hóa. Các hoạt động phải thực sự gần dân, thuận tiện cho dân, phù hợp với từng đối tượng; không chỉ tổ chức cho Nhân dân xem mà để Nhân dân trực tiếp tham gia và làm nên ngày hội, góp phần khơi dậy lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc, trách nhiệm công dân và khát vọng đóng góp, cống hiến của các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ.

Cộng đồng dân cư phải được xác định là trung tâm, gắn chặt các hoạt động văn hóa với củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đưa hoạt động về với xã, phường, thôn, bản, tổ dân phố; qua đó góp phần tăng cường sự gắn kết giữa con người, gia đình và các thế hệ, giữa các dân tộc, tôn giáo, bồi đắp tình làng nghĩa xóm và củng cố sức mạnh đại đoàn kết.

Mở rộng tối đa các không gian văn hóa để phục vụ Nhân dân; phát huy đồng bộ tất cả hệ thống bảo tàng, thư viện, nhà hát, rạp chiếu phim, di tích, danh lam thắng cảnh, thiết chế văn hóa - thể thao, thiết chế du lịch, vui chơi giải trí, ẩm thực, cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo; khuyến khích mở cửa rộng rãi, kéo dài thời gian phục vụ, miễn hoặc giảm phí dịch vụ phù hợp, nhất là vào ngày 24 tháng 11 để người dân được tham gia và được thụ hưởng.

Bảo đảm huy động được sức mạnh tổng thể toàn xã hội cùng tham gia; trong đó, chính quyền giữ vai trò định hướng, tạo điều kiện; cơ quan Mặt trận Tổ quốc tập hợp, vận động; người dân chủ động, sáng tạo; doanh nghiệp đồng hành bằng các sản phẩm, dịch vụ và các chương trình ưu đãi thiết thực, qua đó tạo nên chuỗi hoạt động phong phú, đa dạng, mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc.

Tạo không khí ngày hội văn hóa đại đoàn kết dân tộc rộng khắp, sinh động, giàu bản sắc trên phạm vi cả nước

Phó Thủ tướng yêu cầu đẩy mạnh truyền thông, tạo không khí ngày hội văn hóa đại đoàn kết dân tộc rộng khắp, sinh động, giàu bản sắc trên phạm vi cả nước. Tổ chức treo cờ Tổ quốc trong suốt tuần lễ từ ngày 18 đến ngày 24 tháng 11 năm 2026; đẩy mạnh truyền thông trên các phương tiện thông tin đại chúng, trên các nền tảng số, mạng xã hội và truyền thông cộng đồng trong cả hệ thống chính trị để tạo sự hưởng ứng, lan tỏa mạnh mẽ trong toàn xã hội. Triển khai đồng bộ các hoạt động băng rôn, khẩu hiệu, biểu ngữ, trang trí khánh tiết và cổ động trực quan; tăng cường ứng dụng công nghệ số, trình chiếu, ánh sáng và các hiệu ứng phù hợp tại di tích, danh lam thắng cảnh, quảng trường, công trình kiến trúc, tòa nhà, khách sạn, trung tâm thương mại và không gian công cộng, tạo diện mạo tươi vui, rực rỡ trong tuần văn hóa đại đoàn kết dân tộc.

Lấy hiệu quả thực chất, sức lan tỏa và giá trị bền vững làm thước đo của các hoạt động hưởng ứng Ngày Văn hoá Việt Nam. Việc tổ chức các hoạt động, sự kiện cần bảo đảm vui tươi, an toàn, tiết kiệm, không phô trương, hình thức; sau ngày hội phải để lại sự gắn kết cộng đồng sâu sắc hơn, các giá trị văn hóa được lan tỏa và những sản phẩm, mô hình, nếp sống văn hóa tốt đẹp được tiếp tục duy trì và phát huy.

Hoàn thiện hướng dẫn chi tiết Khung hoạt động của tuần văn hóa đại đoàn kết dân tộc trước 15/10/2026

Phó Thủ tướng yêu cầu Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan tiếp thu đầy đủ ý kiến tại Hội nghị trực tuyến toàn quốc quán triệt triển khai Ngày Văn hóa Việt Nam gắn với Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc năm 2026; phối hợp chặt chẽ với Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các cơ quan liên quan khẩn trương hoàn thiện ngay hướng dẫn chi tiết Khung hoạt động của tuần văn hóa đại đoàn kết dân tộc (trước 15 tháng 10 năm 2026), làm cơ sở để các địa phương và các Bộ, cơ quan chủ động triển khai thực hiện, tránh trùng lắp, trong đó lưu ý lựa chọn các sản phẩm đặc trưng của từng địa phương; tổ chức họp báo trước ngày 22 tháng 10 năm 2026.

Khẩn trương đưa vào vận hành Nền tảng Bản đồ số Văn hóa Việt Nam, kết nối các địa điểm, sự kiện, chương trình và sản phẩm văn hóa trên toàn quốc; yêu cầu các địa phương chủ động cập nhật thông tin, nội dung hoạt động cũng như lịch sự kiện của địa phương đồng bộ lên nền tảng này để kịp thời nắm bắt, lên kế hoạch tổng thể các hoạt động trong chuỗi sự kiện văn hoá trong cả nước.

Tổ chức Tuần phim Việt Nam

Đồng thời, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì tổ chức Tuần phim Việt Nam và chuỗi hoạt động văn hóa, nghệ thuật, triển lãm, giới thiệu về di sản, bảo tàng, thư viện, trong suốt tuần văn hóa đại đoàn kết dân tộc; chỉ đạo mở cửa tối đa các thiết chế trực thuộc Bộ, miễn hoặc giảm phí phục vụ Nhân dân; đồng thời phải thông tin, tuyên truyền rộng rãi, có hướng dẫn phù hợp để Nhân dân biết, đăng ký tham gia trải nghiệm; triển khai có chất lượng các hoạt động lễ hội văn hoá - thể thao - du lịch trong kế hoạch đã ban hành do bộ chủ trì, phối hợp tổ chức.

Hướng dẫn thống nhất bộ nhận diện Ngày Văn hóa Việt Nam; phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương chuẩn hoá, thống nhất nội dung thông điệp, khẩu hiệu, cổ động, trang trí, khánh tiết và ứng dụng công nghệ trên phạm vi cả nước.

Kết nối, khuyến khích các hiệp hội, doanh nghiệp văn hóa, thể thao, du lịch, công nghiệp văn hóa cùng tham gia chuỗi hoạt động tuần văn hóa đại đoàn kết dân tộc thông qua các sản phẩm, dịch vụ và chương trình ưu đãi cụ thể.

Thường xuyên kiểm tra, đôn đốc và tổng hợp tình hình thực hiện hằng tuần; kịp thời xử lý khó khăn, vướng mắc phát sinh của các địa phương theo thẩm quyền; tổng hợp kết quả thực hiện và kịp thời báo cáo cấp có thẩm quyền hoặc Chính phủ đối với những vấn đề phát sinh vượt thẩm quyền.

Bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn trong suốt tuần văn hóa đại đoàn kết dân tộc

Đồng thời, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng theo chức năng, nhiệm vụ chỉ đạo, triển khai trong toàn quân các hoạt động văn hóa, nhất là các hoạt động gắn kết văn hóa quân dân, chú trọng tại các địa bàn ở vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo. Đồng thời, Bộ Công an chủ trì xây dựng phương án bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn trên phạm vi toàn quốc trong suốt tuần văn hóa đại đoàn kết dân tộc; tập trung các sự kiện đông người, hoạt động của lãnh đạo Đảng, Nhà nước; bảo đảm an toàn giao thông, phòng cháy nổ, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ, an ninh mạng và không để bị động, bất ngờ, nhất là trong dịp cao điểm của tuần văn hoá đại đoàn kết toàn dân tộc.

Bộ Giáo dục và Đào tạo khẩn trương rà soát, điều chỉnh hoặc ban hành mới hướng dẫn trong hệ thống các cơ sở giáo dục từ mầm non đến giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp... về việc tổ chức hoạt động hưởng ứng; đưa học sinh đến với lịch sử, di sản, văn hóa đọc, nghệ thuật truyền thống và thực hành văn hóa, phù hợp với từng cấp học, từng địa bàn và từng vùng miền. Báo cáo Chính phủ kết quả thực hiện trong ngày 26 tháng 11 năm 2026 (qua Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch).

Thúc đẩy giá trị văn hóa trong kinh doanh, thương mại

Bộ Công Thương chỉ đạo thúc đẩy giá trị văn hóa trong kinh doanh, thương mại; vận động hệ thống thương mại, phân phối, cơ sở kinh doanh tổ chức khuyến mại, ưu đãi, giảm giá theo ngày hoặc khung giờ nhất định, nhất là vào ngày 24/11; tăng cường quảng bá hàng Việt Nam, sản phẩm đặc trưng vùng miền, gắn với Cuộc vận động "Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam".

Bộ Nông nghiệp và Môi trường chỉ đạo thúc đẩy giá trị văn hóa trong sản xuất và nông nghiệp; hướng dẫn cụ thể việc tổ chức trưng bày, giới thiệu và bán sản phẩm đặc sắc của địa phương; gắn kết hoạt động nông nghiệp, nông thôn, nông dân với văn hóa, du lịch, nhằm phát huy các sản phẩm du lịch văn hoá đặc trưng của Việt Nam; bảo đảm hoàn thành việc ban hành hướng dẫn cụ thể trước ngày 15 tháng 10 năm 2026.

Bộ Dân tộc và Tôn giáo chủ trì, hướng dẫn việc phát huy các giá trị văn hóa đặc sắc của các dân tộc; vận động các cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo mở cửa, tạo điều kiện để Nhân dân trải nghiệm giá trị văn hóa tâm linh cũng như giá trị văn hóa của các tôn giáo.

Bộ Nội vụ chủ động hướng dẫn tổ chức các hoạt động "Uống nước nhớ nguồn", tri ân người có công; việc sửa sang, chỉnh trang các nghĩa trang liệt sĩ, các công trình ghi công, nhà tưởng niệm, nhà lưu niệm và địa chỉ đỏ để giáo dục truyền thống và hướng dẫn cụ thể công tác thi đua, khen thưởng tuần văn hoá đại đoàn kết dân tộc trước ngày 15 tháng 10 năm 2026.

Bộ Ngoại giao chủ động triển khai tích cực, hiệu quả các hoạt động về tuyên truyền, quảng bá hình ảnh đất nước, con người, di sản văn hóa Việt Nam đến cộng đồng quốc tế và kiều bào; chỉ đạo các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài phối hợp với các Trung tâm văn hóa Việt Nam ở nước ngoài tổ chức các hoạt động hưởng ứng Ngày Văn hóa Việt Nam và chuỗi hoạt động tuần văn hóa đại đoàn kết dân tộc.

Các bộ, cơ quan, địa phương theo chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, chủ động xây dựng kế hoạch và triển khai các hoạt động cụ thể hưởng ứng Ngày Văn hóa Việt Nam và chuỗi hoạt động tuần văn hóa đại đoàn kết dân tộc; tổ chức và tạo điều kiện để cán bộ, công chức, viên chức, người lao động tham gia; đưa hoạt động đến vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo và các nhóm đối tượng đặc thù, đặc biệt là các nhóm đối tượng yếu thế.

Từng địa phương phải lựa chọn điểm nhấn, bản sắc riêng

Phó Thủ tướng đề nghị các tỉnh ủy, thành ủy; Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố khẩn trương rà soát, ban hành kế hoạch tổng thể, bảo đảm phân công rõ trách nhiệm cấp tỉnh - cấp xã - thôn, bản, tổ dân phố; rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ tiến độ và sản phẩm bảo đảm phù hợp với những nội dung, yêu cầu nêu trên; cân đối ngân sách địa phương, huy động nguồn lực, kinh phí hỗ trợ cộng đồng; phân công lãnh đạo sở, ngành về địa bàn cơ sở trực tiếp chỉ đạo và tham gia các hoạt động, sự kiện.

Lựa chọn điểm nhấn, bản sắc riêng của từng địa phương; mỗi cấp, mỗi địa bàn cơ sở có hoạt động, sản phẩm hoặc không gian văn hóa tiêu biểu; bảo đảm quy mô: cấp tỉnh ít nhất 1 hoạt động trong 3 loại hình: Nghệ thuật - Thể thao - Du lịch gắn văn hóa trải nghiệm; cấp xã ít nhất 1 - 2 hoạt động với các loại hình đa dạng, phù hợp với đặc thù của địa phương; thôn, tổ dân phố ít nhất 2 - 3 hoạt động đa dạng; bảo đảm gắn với các giá trị lịch sử, văn hóa, truyền thống cách mạng của địa phương góp phần hình thành mối tương tác, trải nghiệm liên thế hệ.

Đưa trọng tâm về cơ sở và cộng đồng dân cư; để Nhân dân trực tiếp tổ chức, tham gia, sáng tạo và thụ hưởng; lựa chọn những mô hình tốt để tiếp tục duy trì sau ngày hội.

Mở rộng tối đa các không gian văn hóa; các thiết chế công lập mở cửa, kéo dài thời gian phục vụ, miễn hoặc giảm phí; vận động các doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh, các điểm du lịch, vui chơi giải trí, khách sạn, nhà hàng, cơ sở dịch vụ có chương trình ưu đãi thiết thực vào ngày 24 tháng 11 năm 2026; phấn đấu tất cả các cơ sở kinh doanh, thương mại, dịch vụ, các loại hình đều có hình thức để miễn, giảm phí dịch vụ phù hợp cho người dân tham gia.

Tạo không khí Ngày hội trên toàn địa bàn: treo cờ Tổ quốc trong suốt tuần lễ; trang trí, cổ động, ứng dụng ánh sáng, trình chiếu, công nghệ số, bảo đảm ánh sáng, bảo đảm vệ sinh môi trường xanh - sạch - đẹp, sinh động cả ban ngày và ban đêm.

Các tỉnh, thành phố chỉ đạo các sở, ngành, đơn vị chức năng và chính quyền các cấp phối hợp chặt chẽ, triển khai bảo đảm an ninh, an toàn; bảo đảm y tế, vệ sinh môi trường và các điều kiện phục vụ người dân; tổ chức thiết thực, tiết kiệm, không phô trương, hình thức, bảo đảm người dân có môi trường thuận lợi để tổ chức các hoạt động thể dục, thể thao và các hoạt động văn hoá, nghệ thuật thiết thực.

Tổ chức việc đánh giá, tổng kết Ngày Văn hóa Việt Nam cũng như tuần văn hóa đại đoàn kết dân tộc theo quy định; trên cơ sở đó gửi báo cáo về Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam để tổng hợp, báo cáo Ban Chỉ đạo Trung ương (trong ngày 26 tháng 11 năm 2026).

Tổ chức Chương trình nghệ thuật đặc biệt chào mừng Ngày Văn hóa Việt Nam vào tối ngày 24/11/2026

Phó Thủ tướng đề nghị thành ủy, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội, bên cạnh chỉ đạo, thực hiện các nhiệm vụ chung nêu trên, chủ trì, phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Công an và các cơ quan liên quan tổ chức Chương trình nghệ thuật đặc biệt chào mừng Ngày Văn hóa Việt Nam vào tối ngày 24 tháng 11 năm 2026, quy mô khoảng 60.000 người tham gia, bảo đảm đặc sắc, hấp dẫn, an ninh, an toàn tuyệt đối; tạo điểm nhấn ấn tượng của tuần văn hoá đại đoàn kết dân tộc.

Đề nghị Ban Tuyên giáo Trung ương sớm điều chỉnh kế hoạch, định hướng đợt tuyên truyền cao điểm trên phạm vi toàn quốc; phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức họp báo, triển khai các nội dung hướng dẫn truyền thông, truyền tải thông điệp và bộ nhận diện Ngày Văn hóa Việt Nam cũng như tuần văn hóa đại đoàn kết dân tộc; phát huy vai trò của các cơ quan thông tin, báo chí, truyền thông về tuyên truyền, định hướng trên nền tảng số, mạng xã hội; tập trung lan tỏa giá trị văn hóa tiêu biểu, những mô hình hay, những cách làm tốt của các địa phương, cơ sở, tấm gương của người dân, của các nghệ nhân, các nghệ sĩ... trước, trong và sau Ngày Văn hoá Việt Nam.

Đài Truyền hình Việt Nam tổ chức truyền hình trực tiếp Chương trình nghệ thuật đặc biệt tại thành phố Hà Nội (tối 24 tháng 11 năm 2026); phối hợp với địa phương trong việc lựa chọn các chương trình văn hoá tiêu biểu, nổi bật của các địa phương có thể truyền hình trực tiếp trên các kênh và nền tảng VTVgo.

Đưa hoạt động văn hóa về từng khu dân cư, từng gia đình

Phó Thủ tướng đề nghị Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội thành viên tiếp tục phát huy nền tảng Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc (18/11), huy động Nhân dân, đưa hoạt động văn hóa về từng khu dân cư, từng gia đình; khẩn trương có văn bản trước ngày 15 tháng 10 năm 2026 hướng dẫn cụ thể đoàn viên, hội viên trở thành lực lượng nòng cốt tham gia các hoạt động của tuẩn văn hoá đại đoàn kết toàn dân tộc, trong đó:

Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam chỉ đạo, hướng dẫn tổ chức hoạt động văn hóa trong công nhân, người lao động, nhất là tại doanh nghiệp, khu công nghiệp, khu chế xuất.

Trung ương Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh phát huy vai trò xung kích, nòng cốt tại cộng đồng, cơ quan, trường học; đẩy mạnh tinh thần sáng tạo, tình nguyện và lan tỏa văn hóa trên môi trường số, thúc đẩy chuyển đổi số trong tuần văn hóa đại đoàn kết dân tộc.

Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam tiếp tục phát huy vai trò nòng cốt gìn giữ văn hóa gia đình, văn hóa bản địa, ẩm thực, trang phục, nghề truyền thống và các hoạt động nhân đạo, từ thiện.v.v.

Trung ương Hội Cựu chiến binh Việt Nam tiếp tục giữ vai trò nòng cốt trong việc giới thiệu các địa chỉ đỏ, giáo dục truyền thống lịch sử cách mạng cho thanh thiếu niên và học sinh.

Hội Người cao tuổi Việt Nam tiếp tục phát huy vai trò gìn giữ, trao truyền gia phong, truyền thống cộng đồng; phát triển các câu lạc bộ, mô hình liên gia, liên thế hệ, mô hình văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao đặc sắc, có ý nghĩa giáo dục cao.

Tổ chức các chương trình ưu đãi, giảm giá theo ngày hoặc khung giờ

Đề nghị Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, các hiệp hội doanh nghiệp vận động doanh nghiệp tổ chức các chương trình ưu đãi, giảm giá theo ngày hoặc khung giờ, giới thiệu hàng Việt Nam, sản phẩm đặc trưng và đẩy mạnh xây dựng văn hóa doanh nghiệp.

Các ban, ngành ở Trung ương, cơ quan Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên; yêu cầu các Bộ, cơ quan ngang bộ và các địa phương tiếp tục rà soát kỹ, điều chỉnh, bổ sung kế hoạch, bảo đảm công tác triển khai tổ chức tuần văn hóa đại đoàn kết dân tộc năm 2026 đi vào thực chất, ý nghĩa, tạo ra giá trị sâu đậm, huy động được sức mạnh toàn dân tộc; thực hiện thắng lợi mục tiêu để Ngày Văn hóa Việt Nam và Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc đi vào đời sống, đi vào lòng dân, từng bước thực sự trở thành một ngày văn hóa của mỗi người dân Việt Nam, nơi mỗi người cùng trân trọng những giá trị được trao truyền, cùng sáng tạo những giá trị mới và cùng làm giàu thêm bản sắc, sức sống và sức mạnh của văn hóa Việt Nam.

Kết luận của Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu tại cuộc họp về tiến độ sắp xếp các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông; tình hình, tiến độ triển khai xây dựng và vận hành các trường phổ thông nội trú liên cấp tại các xã biên giới 

Văn phòng Chính phủ vừa có Thông báo số 523/TB-VPCP kết luận của Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu tại cuộc họp về tiến độ sắp xếp các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông; tình hình, tiến độ triển khai xây dựng và vận hành các trường phổ thông nội trú liên cấp tại các xã biên giới. 

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 13/10/2026- Ảnh 3.

Bảo đảm vận hành tốt các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông sau sắp xếp

34/34 tỉnh, thành phố đã hoàn thành phương án sắp xếp cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông

Thông báo kết luận nêu rõ, Phó Thủ tướng ghi nhận sự cố gắng, nỗ lực của Bộ Giáo dục và Đào tạo, các Bộ, cơ quan và các địa phương trong việc triển khai thực hiện việc sắp xếp các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông công lập và xây dựng các trường phổ thông nội trú liên cấp tại các xã biên giới đất liền; đạt được những kết quả tích cực bước đầu.

Trong đó, 34/34 tỉnh, thành phố đã hoàn thành phương án sắp xếp cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông, giảm được 18.975 đầu mối cơ sở giáo dục công lập (tương đương 50,6%), vượt mức mục tiêu tối thiểu 30%; cơ cấu lại đội ngũ nhà giáo, tăng cường nhân lực trực tiếp giảng dạy với 28.217 cán bộ quản lý cơ sở giáo dục được chuyển sang công tác giảng dạy; hoạt động giáo dục của các cơ sở giáo dục sau sắp xếp cơ bản được duy trì ổn định, bảo đảm quyền học tập của học sinh.

Việc xây dựng trường phổ thông nội trú liên cấp các xã biên giới được các Bộ, ngành, các địa phương tích cực triển khai, nỗ lực khắc phục khó khăn; đến nay 108 trường giai đoạn 01 đã tổ chức khai giảng phục vụ năm học 2026-2027, trong đó có 40 trường đã hoàn thành 100% hạng mục; đồng thời 121 trường khởi công giai đoạn 2 tại 17 tỉnh, thành phố đang được tập trung triển khai xây dựng theo quy định.

Bên cạnh kết quả đạt được, vẫn còn những hạn chế, khó khăn; trong đó sau quá trình sắp xếp các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, một số cơ sở giáo dục có quy mô rất lớn với nhiều phân hiệu, điểm trường dẫn đến khó khăn trong công tác quản trị nhà trường; vẫn còn một số cán bộ quản lý cơ sở giáo dục dự kiến chuyển sang giảng dạy, cán bộ quản lý và nhân viên chưa có phương án bố trí công việc; việc bàn giao tài chính, tài sản, dữ liệu và hoàn tất các thủ tục pháp nhân mới ở một số nơi thực hiện còn chậm.

Đối với các trường phổ thông nội trú liên cấp giai đoạn 1, vẫn còn nhiều trường chưa hoàn thành toàn bộ hạng mục, dẫn đến tình trạng vừa tổ chức dạy học vừa thi công; việc triển khai nhiều dự án gặp khó khăn do khan hiếm vật liệu, nhân công, vướng mắc trong giải phóng mặt bằng; quá trình vận hành các trường mới còn nhiều lúng túng, nhất là do thiếu hụt nhân lực quản sinh, tư vấn tâm lý, dinh dưỡng và giáo vụ.

Tuyệt đối tránh bệnh thành tích, sắp xếp cơ học, cào bằng

Để tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc nêu trên, bảo đảm thực hiện hiệu quả, vận hành tốt các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông sau sắp xếp và hoàn thành xây dựng các trường phổ thông nội trú liên cấp tại các xã biên giới bảo đảm chất lượng, tiến độ, an ninh, an toàn theo đúng chủ trương của Bộ Chính trị, chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ đề nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo, các bộ, cơ quan liên quan, các địa phương theo chức năng, nhiệm vụ được giao tập trung triển khai thực hiện quyết liệt, đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp đề ra.

Thống nhất quan điểm sắp xếp cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông phải gắn với nâng cao hiệu quả quản trị nhà trường và chất lượng giáo dục; xây dựng trường nội trú biên giới phải bảo đảm đầy đủ điều kiện vận hành, bảo đảm chất lượng, hiệu quả, an ninh, an toàn. Trong đó, chất lượng giáo dục, an toàn và quyền lợi của học sinh là thước đo cuối cùng và quan trọng nhất; tuyệt đối tránh bệnh thành tích, sắp xếp cơ học, cào bằng; xác định rõ việc sắp xếp các cơ sở giáo dục chỉ hoàn thành khi bộ máy mới vận hành ổn định, hiệu quả, bảo đảm đầy đủ đội ngũ, nguồn lực và điều kiện dạy học tốt hơn.

Kịp thời điều chỉnh phù hợp đối với những cơ sở vượt khả năng quản trị

Về sắp xếp cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông công lập: Phó Thủ tướng yêu cầu Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố chịu trách nhiệm trực tiếp về kết quả sắp xếp và vận hành các cơ sở giáo dục trên địa bàn.

Trong đó, rà soát toàn bộ cơ sở giáo dục quy mô lớn, nhiều cấp học, nhiều phân hiệu, nhiều điểm trường, địa bàn rộng, nhất là đối với 114 cơ sở có trên 100 lớp; kịp thời điều chỉnh phù hợp đối với những cơ sở vượt khả năng quản trị, ảnh hưởng đến chất lượng, an toàn hoặc quyền học tập của học sinh; hoàn thành trong tháng 10 năm 2026.

Bảo đảm các điều kiện vận hành của cơ sở giáo dục sau sắp xếp, bàn giao và quản lý tài chính, tài sản, hồ sơ, dữ liệu của nhà trường, con dấu, tài khoản, mã trường, cơ sở vật chất, phân định trách nhiệm tại các phân hiệu, điểm trường và các điều kiện bảo đảm an toàn, chất lượng giáo dục theo quy định; hoàn thành trong tháng 10 năm 2026.

Khẩn trương hoàn thành việc bố trí cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên theo Nghị quyết số 37/2026/NQ-CP của Chính phủ; có phương án xử lý dứt điểm đối với số cán bộ quản lý cơ sở giáo dục dự kiến chuyển sang giảng dạy, cán bộ quản lý và nhân viên chưa có phương án bố trí, báo cáo Bộ Nội vụ, Bộ Giáo dục và Đào tạo kết quả thực hiện; trường hợp chưa hoàn thành phải làm rõ nguyên nhân, trách nhiệm của các đơn vị, cá nhân liên quan và xác định, đề xuất cụ thể thời hạn hoàn thành, gửi Bộ Nội vụ, Bộ Giáo dục và Đào tạo để tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ; hoàn thành trước ngày 15 tháng 10 năm 2026.

Nghiên cứu, đề xuất chế độ phù hợp đối với cán bộ quản lý các cơ sở giáo dục quy mô lớn, nhiều cấp học

Phó Thủ tướng giao Bộ Giáo dục và Đào tạo làm đầu mối tiếp nhận, tổng hợp các khó khăn, vướng mắc của địa phương trong quá trình thực hiện sắp xếp, tổ chức, vận hành cơ sở giáo dục; chủ động xử lý theo thẩm quyền đối với các vấn đề thuộc thẩm quyền; phối hợp, đôn đốc các bộ, ngành liên quan giải quyết những vấn đề thuộc thẩm quyền; kịp thời báo cáo cấp có thẩm quyền những vấn đề vượt thẩm quyền.

Rà soát, hoàn thiện các quy định về tổ chức, quản trị cơ sở giáo dục sau sắp xếp, nhất là trường có quy mô đặc biệt lớn, nhiều cấp học, nhiều phân hiệu, điểm trường; bảo đảm phân định rõ thẩm quyền, trách nhiệm quản lý, phù hợp với điều kiện thực tế và yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục.

Chủ trì, phối hợp với Bộ Nội vụ và các cơ quan liên quan, địa phương rà soát, đề xuất hoàn thiện quy định về vị trí việc làm, số lượng người làm việc, số lượng cấp phó, cơ cấu đội ngũ, chế độ làm việc của giáo viên và các điều kiện bảo đảm hoạt động giáo dục, trong đó có tính đến quy mô học sinh, số lớp, số cấp học, số phân hiệu, điểm trường, khoảng cách địa lý và phạm vi quản lý bảo đảm phù hợp, hiệu quả; không cào bằng giữa các cơ sở giáo dục; hoàn thành trong tháng 10 năm 2026.

Chủ trì, phối hợp với các cơ quan, địa phương liên quan khẩn trương nghiên cứu, xây dựng mô hình trường học xã hội chủ nghĩa tại những địa bàn có đủ điều kiện; báo cáo Thủ tướng Chính phủ trước ngày 15 tháng 11 năm 2026.

Bộ Nội vụ nghiên cứu, đề xuất chế độ, chính sách phù hợp đối với cán bộ quản lý các cơ sở giáo dục quy mô lớn, nhiều cấp học, nhiều phân hiệu, điểm trường; chính sách đối với cán bộ quản lý, nhân viên sau sắp xếp không còn vị trí việc làm phù hợp, nhất là trường hợp có nguyện vọng nghỉ hưu, tinh giản biên chế, thôi giữ chức vụ quản lý hoặc chuyển công tác nhưng chưa thuộc đối tượng được giải quyết theo Nghị định số 154/2025/NĐ-CP và Nghị quyết số 37/2026/NQ-CP của Chính phủ; báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong tháng 10 năm 2026. Rà soát, nghiên cứu sửa đổi, bổ sung quy định về số lượng cấp phó trong các đơn vị sự nghiệp phù hợp với mô hình cơ sở giáo dục sau sắp xếp, hoàn thành trong năm 2026.

Có giải pháp cụ thể về phân luồng, hướng nghiệp, hỗ trợ học nghề

Theo số liệu từ Cục Thống kê, trong quý III năm 2026, Việt Nam hiện có khoảng 1,6 triệu thanh niên (15-24 tuổi) rơi vào tình trạng: không có việc làm, không đi học và không tham gia các chương trình đào tạo. Do vậy, Phó Thủ tướng yêu cầu Bộ Giáo dục và Đào tạo, các bộ, cơ quan liên quan, các địa phương khẩn trương rà soát, có các giải pháp khắc phục tình trạng này.

Trong đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với Bộ Nội vụ và các cơ quan liên quan rà soát, nâng cao hiệu quả công tác hướng nghiệp, phân luồng; nghiên cứu cơ chế hỗ trợ học sinh, sinh viên chuyển tiếp từ nhà trường sang học nghề, việc làm; tăng cường liên kết giữa cơ sở giáo dục, cơ sở giáo dục nghề nghiệp và doanh nghiệp. Chuyển từ chú trọng số lượng tuyển sinh, đào tạo sang đánh giá kết quả thực chất về khả năng tiếp tục học tập, có việc làm và thích ứng với thị trường lao động của người học sau tốt nghiệp.

Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố thực hiện rà soát, đánh giá thực trạng thanh niên từ 15 - 24 tuổi không có việc làm, không đi học và không tham gia các chương trình đào tạo trên địa bàn; làm rõ nguyên nhân, nhất là tình trạng bỏ học, không tiếp tục học sau trung học cơ sở và trung học phổ thông.

Có giải pháp cụ thể về phân luồng, hướng nghiệp, hỗ trợ học nghề, kết nối việc làm; phát huy vai trò của chính quyền cấp xã, cơ sở giáo dục và doanh nghiệp, không để thanh niên rời nhà trường nhưng thiếu cơ hội tiếp tục học tập, đào tạo hoặc tham gia thị trường lao động.

Thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa-xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026 – 2035 

Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng vừa ký Quyết định số 1966/QĐ-TTg ngày 12/10/2026 về việc thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa-xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026 - 2035.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 13/10/2026- Ảnh 4.

Thành lập BCĐ Trung ương thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa-xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026 - 2035

Quyết định nêu rõ: Thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa-xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026 - 2035, gồm các thành viên sau:

Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng làm Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương.

Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng làm Phó Trưởng ban Thường trực.

Các Phó Trưởng ban gồm: Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà; Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng; Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu.

Các Ủy viên Thường trực: Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trịnh Việt Hùng; Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn; Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Hoàng Minh Sơn; Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lâm Thị Phương Thanh; Bộ trưởng Bộ Y tế Đào Hồng Lan; Bộ trưởng Bộ Dân tộc và Tôn giáo Nguyễn Đình Khang.

Các ủy viên gồm: Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Đặng Xuân Phong; Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Hoàng Hiệp; Thứ trưởng Bộ Tài chính Tạ Anh Tuấn; Thứ trưởng Bộ Công an Thượng tướng Lê Văn Tuyến; Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Thượng tướng Nguyễn Quang Ngọc; Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tú; Thứ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Văn Sinh; Thứ trưởng Bộ Nội vụ Nguyễn Thị Hà; Thứ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Việt Sơn; Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Minh Hằng; Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Nguyễn Ngọc Cảnh; đại diện lãnh đạo Bộ Khoa học và Công nghệ; Tổng Giám đốc Ngân hàng Chính sách xã hội Nguyễn Thị Hằng; mời đại diện lãnh đạo: Ủy ban Kiểm tra Trung ương; Ban Tuyên giáo Trung ương; Ban Chính sách, chiến lược Trung ương; Hội đồng Dân tộc của Quốc hội; Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội; Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội; Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội; mời Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Cao Xuân Thạo; Phó Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam Phạm Hồng Hương; Phó Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam Phan Như Nguyện; Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam Nguyễn Thu Hiền; Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Nguyễn Kim Quy; Chủ tịch Liên minh Hợp tác xã Việt Nam Cao Xuân Thu Vân.

Chức năng, nhiệm vụ của Ban Chỉ đạo

Ban Chỉ đạo Trung ương là tổ chức phối hợp liên ngành, giúp Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo, điều phối và xử lý các vấn đề chung, quan trọng, liên ngành trong tổ chức thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026 - 2035 (Chương trình).

Ban Chỉ đạo có nhiệm vụ, quyền hạn: Nghiên cứu, đề xuất với Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp chỉ đạo, điều hành và phối hợp tổ chức thực hiện Chương trình.

Chỉ đạo, điều phối giữa các bộ, cơ quan trung ương, địa phương và cơ quan, tổ chức có liên quan trong tổ chức thực hiện Chương trình; đôn đốc việc thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ; chỉ đạo, điều phối việc xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cấp có thẩm quyền xử lý các vấn đề chung, quan trọng, liên ngành hoặc vượt thẩm quyền; chỉ đạo phối hợp theo dõi, kiểm tra, giám sát, đánh giá, sơ kết, tổng kết việc thực hiện Chương trình.

Thực hiện các nhiệm vụ khác do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao.

Chế độ làm việc

Ban Chỉ đạo Trung ương làm việc theo chế độ kiêm nhiệm, đề cao trách nhiệm cá nhân của Trưởng ban, các Phó Trưởng ban và các Ủy viên Ban Chỉ đạo Trung ương theo nhiệm vụ được phân công.

Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Ban Chỉ đạo Trung ương; phân công nhiệm vụ của Trưởng ban, các Phó Trưởng ban, Ủy viên Thường trực và các Ủy viên Ban Chỉ đạo Trung ương.

Trưởng ban và các Phó Trưởng ban Ban Chỉ đạo Trung ương sử dụng con dấu của Thủ tướng Chính phủ; Ủy viên Thường trực và các Ủy viên Ban Chỉ đạo Trung ương sử dụng con dấu của cơ quan, tổ chức nơi công tác để thực hiện nhiệm vụ được giao.

Trường hợp có thay đổi người giữ chức danh tham gia Ban Chỉ đạo Trung ương, cơ quan, tổ chức có liên quan thông báo bằng văn bản cho Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương để theo dõi, cập nhật.

Thành lập Ban Chỉ đạo Đề án xây dựng Nghị quyết thay thế Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 15/1/2019 của Bộ Chính trị về nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác, sử dụng và phát huy các nguồn lực của nền kinh tế 

Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng ký Quyết định số 1970/QĐ-TTg ngày 13/10/2026 thành lập Ban Chỉ đạo Đề án xây dựng Nghị quyết thay thế Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 15/1/2019 của Bộ Chính trị về nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác, sử dụng và phát huy các nguồn lực của nền kinh tế.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 13/10/2026- Ảnh 5.

Thành lập Ban Chỉ đạo Đề án xây dựng Nghị quyết thay thế Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 15/1/2019 của Bộ Chính trị về nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác, sử dụng và phát huy các nguồn lực của nền kinh tế.

Theo đó, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng làm Trưởng Ban Chỉ đạo.

Phó Trưởng Ban Chỉ đạo gồm: Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng (Phó Trưởng ban Thường trực, trực tiếp chỉ đạo xây dựng Đề án); Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn.

Các ủy viên Ban Chỉ đạo gồm:

1- Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Ngô Đông Hải;

2- Phó Trưởng ban, Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương Nguyễn Đức Hiển;

3- Thứ trưởng Bộ Tài chính Trần Quốc Phương;

4- Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Đoàn Trung Kiên;

5- Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Đặng Ngọc Điệp;

6- Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Phạm Thanh Hà;

7- Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Lê Xuân Định;

8- Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hồ An Phong;

9- Thứ trưởng Bộ Công Thương Phan Thị Thắng;

10- Thứ trưởng Bộ Xây dựng Lê Anh Tuấn;

11- Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tú;

12- Thứ trưởng Bộ Nội vụ Nguyễn Mạnh Khương;

13- Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, Trung tướng Trương Mạnh Dũng;

14- Thứ trưởng Bộ Công an, Thượng tướng Phạm Thế Tùng;

15 - Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Minh Hằng;

16- Thứ trưởng Bộ Y tế Lê Đức Luận;

17- Thứ trưởng Bộ Dân tộc và Tôn giáo Y Vinh Tơr;

18- Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Mai Thị Thu Vân;

19- Phó Tổng Thanh tra Chính phủ Lê Tiến Đạt;

20- Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội Nguyễn Xuân Lưu;

21- Phó Chủ tịch Thường trực Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh Nguyễn Lộc Hà;

22- Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Nguyễn Đức Phong;

23- Phó Chánh Văn phòng Trung ương Đảng Võ Thành Hưng;

24- Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội khóa XVI Nguyễn Minh Sơn;

25- Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Phạm Đình Toản;

26- Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng Đào Trọng Đức;

27 - Phó Chủ tịch Thường trực Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng Hồ Kỳ Minh;

28 - Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ Vương Quốc Nam;

29 - Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Huế Hà Văn Tuấn;

30 - Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Đồng Nai Hồ Văn Hà;

31- Phó Chủ tịch Thường trực Ủy ban nhân dân thành phố Quảng Ninh Vũ Văn Diện;

32 - Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Bắc Ninh Ngô Tân Phượng.

Nhiệm vụ của Ban Chỉ đạo

Ban Chỉ đạo có nhiệm vụ xây dựng Đề án xây dựng Nghị quyết thay thế Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 15 tháng 01 năm 2019 của Bộ Chính trị về nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác, sử dụng và phát huy các nguồn lực của nền kinh tế.

Ban Chỉ đạo làm việc theo chế độ kiêm nhiệm, theo nguyên tắc tập trung, dân chủ, thảo luận công khai, đảm bảo sự chỉ đạo thống nhất.

Trưởng Ban Chỉ đạo chủ trì các cuộc họp theo kế hoạch và triệu tập các cuộc họp đột xuất khi cần thiết, có thể ủy quyền cho Phó Trưởng Ban Chỉ đạo chủ trì các cuộc họp để thảo luận, quyết định một số vấn đề cụ thể thuộc nhiệm vụ của Ban Chỉ đạo.

Bộ Tài chính là cơ quan Thường trực giúp Ban Chỉ đạo triển khai xây dựng Đề án. Giao Bộ trưởng Bộ Tài chính, Phó Trưởng Ban Chỉ đạo quyết định thành lập Tổ Biên tập xây dựng Đề án.

Quyết định này có hiệu lực từ ngày 13/10/2026./.