In bài viết

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 14/7/2026

(Chinhphu.vn) - Văn phòng Chính phủ vừa có Thông cáo báo chí chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 14/7/2026.

14/07/2026 19:02

Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 123/2024/NĐ-CP ngày 04/10/2024 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai

Chính phủ ban hành Nghị định 281/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 123/2024/NĐ-CP ngày 04/10/2024 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 14/7/2026- Ảnh 1.

Sửa đổi, bổ sung một số quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai.

Bổ sung nguyên tắc xác định hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai

Trong đó, Nghị định số 281/2026/NĐ-CP bổ sung Điều 3a vào sau Điều 3 quy định về nguyên tắc xác định hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai như sau:

1- Việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai đối với đơn vị hành chính đặc khu được công nhận loại đô thị theo quy định của pháp luật thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn tương ứng của chính quyền địa phương ở phường thì áp dụng mức xử phạt như đơn vị hành chính của phường; việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai đối với đơn vị hành chính đặc khu thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn tương ứng của chính quyền địa phương ở xã thì áp dụng mức xử phạt như đơn vị hành chính của xã.

2- Vợ và chồng chung quyền sử dụng đất thì áp dụng xử phạt vi phạm hành chính như đối với một cá nhân.

Bổ sung một số biện pháp khắc phục hậu quả

Đáng chú ý là Nghị định số 281/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung điểm b khoản 2 và bổ sung các điểm p, q, r, s vào sau điểm o khoản 3 Điều 4 theo hướng bổ sung các biện pháp khắc phục hậu quả như: Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm; buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu của mốc địa giới đơn vị hành chính; buộc thực hiện lại thủ tục hành chính về đất đai và buộc nộp lại các giấy tờ đã bị tẩy xóa, sửa chữa, làm sai lệch nội dung, giấy tờ giả đã sử dụng.

Xác định số lợi bất hợp pháp

Bên cạnh đó, Nghị định số 281/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 6 quy định việc xác định số lợi bất hợp pháp thu được từ hành vi vi phạm.

Cụ thể, số lợi bất hợp pháp là số lợi được tính thành tiền do tổ chức, cá nhân thực hiện hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai có được từ việc sử dụng đất sau vi phạm và phải nộp vào ngân sách nhà nước.

Trường hợp hành vi vi phạm do nhiều tổ chức, cá nhân cùng thực hiện trên một thửa đất thì số lợi bất hợp pháp phải nộp được chia đều cho các tổ chức, cá nhân cùng vi phạm.

Một nội dung mới được bổ sung là: Trường hợp người vi phạm đã nộp các khoản tiền vào ngân sách nhà nước từ việc sử dụng đất vi phạm thì số lợi bất hợp pháp phải nộp được khấu trừ các khoản tiền đã nộp vào ngân sách nhà nước.

Thay đổi quy định xử phạt đối với hành vi không thực hiện đăng ký biến động đất đai

Nghị định số 281/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 16 quy định mức xử phạt đối với hành vi không đăng ký đất đai theo hướng bổ sung quy định về trường hợp không bị xử phạt.

Cụ thể: Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi không thực hiện đăng ký biến động đất đai theo quy định tại các điểm a, b, i, k, l, m và q khoản 1 Điều 133 Luật Đất đai, trừ trường hợp nhận quyền sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư thông qua việc thỏa thuận về nhận quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 127 Luật Đất đai.

Tăng thẩm quyền xử phạt

Ngoài ra, Nghị định số 281/2026/NĐ-CP cũng sửa đổi, bổ sung một số quy định tại Điều 30, Điều 31 về thẩm quyền xử phạt của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã; cơ quan thanh tra chuyên ngành.

Theo quy định mới, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có quyền: Phạt cảnh cáo; phạt tiền đến 250.000.000 đồng; đình chỉ hoạt động dịch vụ tư vấn có thời hạn 03 tháng và áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại khoản 3 Điều 4 Nghị định 123/2024/NĐ-CP (theo quy định cũ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã chỉ có quyền phạt tiền đến 5.000.000 đồng).

Trưởng đoàn kiểm tra chuyên ngành về đất đai do Cục trưởng Cục Quản lý đất đai thành lập, Trưởng đoàn kiểm tra do Thủ trưởng tổ chức thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường được giao thực hiện nhiệm vụ kiểm tra trong phạm vi quản lý nhà nước của Bộ thành lập, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường có quyền phạt tiền đến 400.000.000 đồng (quy định cũ là 50.000.000 đồng); tịch thu các giấy tờ đã bị tẩy xóa, sửa chữa, làm sai lệch nội dung, giấy tờ giả đã sử dụng trong việc sử dụng đất; đình chỉ hoạt động dịch vụ tư vấn có thời hạn 03 tháng...

Trưởng đoàn kiểm tra chuyên ngành về đất đai do Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường thành lập, Cục trưởng Cục Quản lý đất đai, Thủ trưởng tổ chức thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường được giao thực hiện nhiệm vụ kiểm tra trong phạm vi quản lý nhà nước của Bộ có quyền phạt tiền đến 500.000.000 đồng; tịch thu các giấy tờ đã bị tẩy xóa, sửa chữa, làm sai lệch nội dung, giấy tờ giả đã sử dụng trong việc sử dụng đất; đình chỉ hoạt động dịch vụ tư vấn có thời hạn 03 tháng...

Nghị định số 281/2026/NĐ-CP cũng quy định rõ, các chức danh thanh tra thuộc lực lượng Công an nhân dân quy định tại Điều 7 Nghị định số 189/2025/NĐ-CP ngày 1/7/2025 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Xử lý vi phạm hành chính về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính có thẩm quyền xử phạt đối với các hành vi vi phạm hành chính trong sử dụng đất an ninh theo quy định tại Nghị định này.

Các chức danh Công an theo quy định tại Điều 8 Nghị định số 189/2025/NĐ-CP ngày 1/7/2025 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Xử lý vi phạm hành chính về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính được xử phạt đối với các hành vi vi phạm hành chính trong sử dụng đất an ninh quy định tại khoản 1, khoản 5 Điều 12; khoản 1, khoản 4, khoản 6 Điều 13; Điều 15; khoản 3 Điều 27 và Điều 28 Nghị định số 123/2024/NĐ-CP theo thẩm quyền.

Nghị định số 281/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 31/8/2026.

Quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý, đầu tư vốn nhà nước, giám sát, đánh giá hiệu quả đầu tư vốn tại Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Chính phủ ban hành Nghị định số 280/2026/NĐ-CP quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý, đầu tư vốn nhà nước, giám sát, đánh giá hiệu quả đầu tư vốn tại Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 14/7/2026- Ảnh 2.

Nghị định số 280/2026/NĐ-CP quy định về hoạt động bảo hiểm tiền gửi

Về hoạt động bảo hiểm tiền gửi, Nghị định quy định nội dung hoạt động của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam gồm:

1. Cấp, cấp lại, thu hồi, tạm thu hồi Chứng nhận tham gia bảo hiểm tiền gửi.

2. Tính và thu phí bảo hiểm tiền gửi đối với tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi theo quy định của Luật Bảo hiểm tiền gửi.

3. Trả tiền bảo hiểm hoặc ủy quyền cho tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi khác thực hiện trả tiền bảo hiểm cho người được bảo hiểm tiền gửi theo quy định của Luật Bảo hiểm tiền gửi và quy định khác của pháp luật có liên quan.

4. Theo dõi, kiểm tra việc chấp hành quy định pháp luật về bảo hiểm tiền gửi của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi và kiến nghị Ngân hàng Nhà nước xử lý hành vi vi phạm quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi.

5. Thực hiện kiểm tra tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi theo kế hoạch, nội dung do Ngân hàng Nhà nước giao.

6. Tổng hợp, phân tích và xử lý thông tin về tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi nhằm phát hiện và kiến nghị Ngân hàng Nhà nước xử lý kịp thời vi phạm quy định về an toàn hoạt động ngân hàng, rủi ro gây mất an toàn trong hệ thống tổ chức tín dụng.

7. Thu thập thông tin về tiền gửi của khách hàng tại tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi theo quy định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn một số nội dung về hoạt động bảo hiểm tiền gửi.

8. Tiếp nhận hỗ trợ theo nguyên tắc có hoàn trả từ ngân sách nhà nước theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ hoặc vay của tổ chức tín dụng, tổ chức khác có bảo lãnh của Chính phủ trong trường hợp nguồn vốn của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam tạm thời không đủ để trả tiền bảo hiểm; tiếp nhận các nguồn tài trợ của các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài để tăng cường năng lực hoạt động; vay đặc biệt từ Ngân hàng Nhà nước theo quy định tại Luật Bảo hiểm tiền gửi, Luật Các tổ chức tín dụng và quy định khác của pháp luật có liên quan.

9. Thực hiện hoạt động đầu tư theo quy định tại các điểm a, b, c khoản 1 Điều 29 Luật Bảo hiểm tiền gửi.

10. Tham gia vào quá trình can thiệp sớm, kiểm soát đặc biệt, xử lý tổ chức tín dụng theo quy định tại khoản 14 Điều 14 Luật Bảo hiểm tiền gửi.

11. Tham gia xử lý sự cố, khủng hoảng trong hoạt động của tổ chức tín dụng theo quy định tại Điều 39 Luật Bảo hiểm tiền gửi.

12. Tham gia quản lý, thanh lý tài sản của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi theo quy định của pháp luật về các tổ chức tín dụng và pháp luật khác có liên quan.

13. Thực hiện công tác tuyên truyền chính sách, pháp luật và hoạt động về bảo hiểm tiền gửi; tổ chức đào tạo, phổ biến kiến thức về bảo hiểm tiền gửi và các nội dung liên quan cho tổ chức, cá nhân có liên quan; nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ và phương thức quản lý phù hợp với yêu cầu phát triển của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam.

14. Thực hiện các hoạt động khác theo quy định của pháp luật.

Quy định về ủy quyền trả tiền bảo hiểm

Nghị định quy định Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam được ủy quyền cho tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi chi trả số tiền bảo hiểm cho người được bảo hiểm tiền gửi. Việc ủy quyền phải thông qua hợp đồng ủy quyền trả tiền bảo hiểm theo đúng quy định của pháp luật.

Tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi được Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam ủy quyền chi trả tiền bảo hiểm phải đáp ứng các điều kiện:

a) Hoạt động kinh doanh có lãi theo báo cáo tài chính đã được kiểm toán độc lập trong ít nhất 02 năm liền kề trước thời điểm được ủy quyền chi trả;

b) Có mạng lưới đặt ở địa điểm thích hợp cho việc chi trả tiền bảo hiểm.

Nhận tiền bảo hiểm

Khi nhận tiền bảo hiểm, người được bảo hiểm tiền gửi phải xuất trình các tài liệu, dữ liệu sau:

- Thẻ căn cước, căn cước công dân, hộ chiếu hoặc thông tin định danh điện tử của cá nhân được khai thác từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư theo quy định của pháp luật;

- Tài liệu chứng minh quyền sở hữu tiền gửi được bảo hiểm như: Thẻ tiết kiệm, sổ tiết kiệm, chứng chỉ tiền gửi hoặc các tài liệu, dữ liệu khác chứng minh quyền sở hữu hợp pháp đối với khoản tiền gửi được bảo hiểm.

Trường hợp tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi được Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam ủy quyền chi trả tiền bảo hiểm bằng phương tiện điện tử, người nhận tiền bảo hiểm cung cấp thông qua phương tiện điện tử đầy đủ, chính xác dữ liệu chứng minh quyền sở hữu hợp pháp đối với các khoản tiền gửi được bảo hiểm và nhận tiền bảo hiểm bằng phương tiện điện tử theo hướng dẫn của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi đó.

Trường hợp người nhận tiền bảo hiểm là người được ủy quyền, người thừa kế hợp pháp hoặc người đại diện theo pháp luật của người được bảo hiểm tiền gửi, ngoài các tài liệu, dữ liệu quy định ở trên, phải cung cấp văn bản ủy quyền, văn bản xác nhận quyền thừa kế hợp pháp hoặc tài liệu chứng minh tư cách đại diện theo pháp luật còn hiệu lực theo quy định của pháp luật.

Hỗ trợ tài chính đối với Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam trong trường hợp nguồn vốn của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam không đủ để trả tiền bảo hiểm

Trường hợp nguồn vốn của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam tạm thời không đủ để trả tiền bảo hiểm, Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam được tiếp nhận hỗ trợ theo nguyên tắc có hoàn trả từ ngân sách nhà nước theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ hoặc được vay của tổ chức tín dụng, tổ chức khác có bảo lãnh của Chính phủ.

Trình tự, thủ tục hỗ trợ:

- Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam lập hồ sơ theo quy định, gửi Ngân hàng Nhà nước;

- Trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước thẩm định hồ sơ, có văn bản lấy ý kiến Bộ Tài chính;

- Trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đề nghị của Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính có ý kiến gửi Ngân hàng Nhà nước;

- Trên cơ sở ý kiến tham gia của Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước trình Thủ tướng Chính phủ quyết định việc hỗ trợ theo nguyên tắc có hoàn trả từ ngân sách nhà nước đối với Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam.

Nghị định nêu rõ việc cấp bảo lãnh Chính phủ đối với khoản vay tổ chức tín dụng, tổ chức khác của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam thực hiện theo quy định của Chính phủ về cấp và quản lý bảo lãnh Chính phủ.

Các quy định trên có hiệu lực từ ngày 13/7/2026.

Kết luận của Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng tại phiên họp lần thứ hai của Hội đồng Thi đua - Khen thưởng Trung ương nhiệm kỳ 2026-2031

Văn phòng Chính phủ có Thông báo số 371/TB-VPCP ngày 14/7/2026 kết luận của Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng Chủ tịch Hội đồng Thi đua - Khen thưởng Trung ương tại phiên họp lần thứ hai của Hội đồng nhiệm kỳ 2026-2031.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 14/7/2026- Ảnh 3.

Thủ tướng Lê Minh Hưng phát biểu chỉ đạo phiên họp - Ảnh: VGP/Nhật Bắc.

Trong 6 tháng đầu năm, công tác thi đua, khen thưởng vừa bảo đảm tính liên tục, vừa có những chuyển biến tích cực, bám sát các mục tiêu chiến lược theo Nghị quyết và chương trình hành động Đại hội XIV của Đảng. Hội đồng Thi đua – Khen thưởng Trung ương đã chủ động, kịp thời tham mưu, thể chế hóa các chủ trương của Đảng về thi đua, khen thưởng trong giai đoạn phát triển mới, nhất là đã trình Quốc hội thông qua Luật Thi đua, khen thưởng sửa đổi.

Các cấp, các ngành, các địa phương đã chủ động phát động và triển khai các phong trào thi đua sôi nổi, thiết thực, để thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm về phát triển kinh tế, xã hội, tập trung giải quyết dứt điểm những việc khó, việc cấp bách phát sinh, đóng góp tích cực vào việc hoàn thành các mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra.

Thủ tướng Chính phủ ghi nhận, biểu dương các cấp, các ngành, các địa phương, người dân, doanh nghiệp đã tích cực hưởng ứng, triển khai các phong trào thi đua, công tác khen thưởng, tạo động lực thúc đẩy sự phát triển chung và góp phần quan trọng vào những kết quả tích cực của đất nước trong thời gian qua.

Bên cạnh các mặt tích cực, một số phong trào thi đua còn nặng về hình thức, chưa bám sát gắn chặt với việc thực hiện nhiệm vụ của ngành, của địa phương. Việc phát hiện, bồi dưỡng và nhân rộng điển hình tiên tiến, đặc biệt là các mô hình hay về phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh... còn chậm, chưa tạo sự lan tỏa đồng đều.

Một số cấp ủy, chính quyền chưa thật sự quan tâm, coi trọng công tác thi đua khen thưởng; nhiều nơi trông chờ, ỷ lại vào hướng dẫn của cấp trên trong triển khai. Còn tình trạng nể nang, bệnh thành tích trong khen thưởng.

Công tác ứng dụng công nghệ thông tin trong thi đua, khen thưởng chưa có nhiều đổi mới; cơ sở dữ liệu trên hệ thống quản lý thi đua, khen thưởng toàn quốc còn hạn chế, chưa đồng bộ.

Hoàn thiện thể chế, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thi đua, khen thưởng

Với các mục tiêu phát triển đất nước cho cả nhiệm kỳ, đặc biệt là trong năm đầu tiên triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, các nghị quyết, kết luận, chỉ đạo của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Quốc hội, Chính phủ, khối lượng công việc rất nặng nề và bên cạnh những kết quả tích cực, bước đầu đã đạt được, vẫn còn rất nhiều khó khăn, thách thức đặt ra.

Do đó, cần tiếp tục đẩy mạnh công tác thi đua khen thưởng, thúc đẩy các phong trào thi đua yêu nước hiệu quả, thực chất hơn nữa trên toàn quốc và các ngành, các cấp, nhất là các lực lượng trực tiếp tham gia các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu đã đề ra, đóng góp, lan tỏa vào nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quyết tâm tăng trưởng "2 con số". Thủ tướng lưu ý một số nhiệm vụ trọng tâm cần thực hiện như sau:

Tiếp tục hoàn thiện thể chế về thi đua, khen thưởng, tạo cơ sở pháp lý vững chắc để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thi đua, khen thưởng. Bộ Nội vụ phối hợp với các cơ quan liên quan khẩn trương hoàn thành các văn bản hướng dẫn thi hành và tổ chức hướng dẫn, phổ biến trong hệ thống làm công tác thi đua, khen thưởng các cấp nhất là các điểm mới để việc thực hiện Luật và các văn bản quy định chi tiết Luật được thuận lợi, đồng bộ, khắc phục những tồn tại, hạn chế trong thời gian qua, tạo sự chuyển biến rõ nét trong công tác thi đua, khen thưởng, góp phần tạo khí thế, động lực thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội của đất nước.

Triển khai mạnh mẽ, có hiệu quả phong trào thi đua "Quyết tâm thực hiện thắng lợi mục tiêu tăng trưởng bền vững "2 con số" giai đoạn 2026 - 2030". Các bộ, ngành, địa phương khẩn trương ban hành chương trình hành động với các nhiệm vụ, chỉ tiêu cụ thể, thực chất, sát thực tiễn, gắn với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của mỗi cấp, mỗi ngành, mỗi địa phương, tạo đột phá hoàn thành và hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu, nhiệm vụ đã đề ra.

Phong trào thi đua không chỉ nằm ở khẩu hiệu, mà phải gắn với việc hoàn thành các nhiệm vụ, mục tiêu cụ thể; chỉ tiêu mang tính định lượng; kết quả, sản phẩm đầu ra, lấy sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp và chỉ số phát triển làm thước đo (như kết quả tăng trưởng GRDP; thu ngân sách; giải ngân vốn đầu tư công; bảo đảm tiến độ, chất lượng các dự án trọng điểm quốc gia; xử lý các dự án ách tắc, tồn đọng; hoàn thiện thể chế, pháp luật; đột phá phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; phát triển hạ tầng công nghệ, cơ sở dữ liệu, các sản phẩm công nghệ chiến lược phục vụ trực tiếp cho nhiệm vụ quản lý nhà nước và sản xuất kinh doanh trên các lĩnh vực...).

Đẩy mạnh cải cách hành chính và ứng dụng công nghệ số trong thi đua, khen thưởng

Đổi mới công tác khen thưởng theo hướng thực chất, hướng mạnh về cơ sở, ưu tiên người lao động trực tiếp, nhà khoa học, doanh nghiệp... có mô hình hay, đột phá, lan tỏa cao. Chủ động phát hiện, biểu dương khen thưởng các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong vận hành chính quyền địa phương 2 cấp; giải phóng mặt bằng cho triển khai các dự án trọng điểm quốc gia; trong Chiến dịch 500 ngày đêm tìm kiếm, quy tập hài cốt và xác định danh tính liệt sĩ; tham gia cứu hộ, cứu nạn động đất tại Venezuela; xây dựng các trường bán trú tại các xã biên giới; bảo đảm cung ứng điện, xăng dầu trong điều kiện hết sức khó khăn; tham gia xây dựng khung kiến trúc tổng thể quốc gia số...

Rà soát, kịp thời kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về công tác thi đua khen thưởng và Hội đồng Thi đua - Khen thưởng các cấp phù hợp với yêu cầu trong tình hình mới, nhất là chính quyền địa phương 2 cấp; đồng thời đẩy mạnh phân cấp, phân quyền phù hợp với điều kiện, năng lực của cơ sở và chú trọng công tác kiểm tra, giám sát để phòng tránh tiêu cực.

Phát huy vai trò của từng thành viên Hội đồng, nhất là trong việc rà soát, tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện phong trào thi đua tại các cụm, khối thi đua được phân công phụ trách; kịp thời phát hiện các mô hình hay, cách làm tốt để đề xuất khen thưởng, cũng như những vướng mắc tại địa phương để tham mưu cho Hội đồng giải quyết.

Đẩy mạnh cải cách hành chính và ứng dụng công nghệ số trong thi đua, khen thưởng. Bộ Nội vụ phối hợp với các cơ quan liên quan nghiên cứu xây dựng Bộ Chỉ tiêu với các chỉ số đo lường cụ thể để phục vụ công tác đánh giá thi đua, khen thưởng. Việc chấm điểm, bình xét thi đua phải dựa trên dữ liệu thực, quy trình đánh giá phải khách quan, minh bạch, hồ sơ khen thưởng phải giảm thiểu tối đa thủ tục hành chính, giấy tờ cho cơ sở và đối tượng được khen thưởng.

Danh sách các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Bộ Tư pháp

Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu ký Quyết định số 1273/QĐ-TTg ngày 14/7/2026 ban hành danh sách các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Bộ Tư pháp.

Theo Quyết định này, Bộ Tư pháp có 3 đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc, bao gồm:

1. Trường Đại học Luật Hà Nội.

2. Nhà Xuất bản Tư pháp.

3. Quỹ hỗ trợ xây dựng chính sách, pháp luật.

Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ban hành (14/7/2026); thay thế Quyết định số 1111/QĐ-TTg ngày 10/6/2025 của Thủ tướng Chính phủ ban hành danh sách các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Bộ Tư pháp.

Kỷ luật Cảnh cáo đối với nguyên Chủ tịch và Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Giang nhiệm kỳ 2016-2021

Ngày 14/7/2026, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc đã ký 2 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về việc thi hành kỷ luật đối với nguyên Chủ tịch và Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Giang nhiệm kỳ 2016-2021.

Cụ thể, tại Quyết định số 1275/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ quyết định thi hành kỷ luật bằng hình thức Cảnh cáo đối với ông Nguyễn Văn Linh, nguyên Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Giang nhiệm kỳ 2016-2021 do đã có vi phạm, khuyết điểm trong công tác và Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã thi hành kỷ luật về Đảng. Thời gian thi hành kỷ luật tính từ ngày Quyết định số 67-QĐ/UBKTTW ngày 22/5/2026 của Ủy ban Kiểm tra Trung ương có hiệu lực.

Đồng thời, tại Quyết định số 1276/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ quyết định thi hành kỷ luật bằng hình thức Cảnh cáo đối với ông Lại Thanh Sơn, nguyên Phó Chủ tịch Thường trực Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Giang nhiệm kỳ 2016-2021 do đã có vi phạm, khuyết điểm trong công tác và Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã thi hành kỷ luật về Đảng. Thời gian thi hành kỷ luật tính từ ngày Quyết định số 68 QĐ/UBKTTW ngày 22/5/2026 của Ủy ban Kiểm tra Trung ương có hiệu lực.

2 Quyết định trên có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký (14/7/2026)./.