In bài viết

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 14/9/2026

(Chinhphu.vn) - Văn phòng Chính phủ vừa có Thông cáo báo chí chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 14/9/2026.

14/09/2026 18:07

Kết luận của Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc tại buổi làm việc với Hiệp hội doanh nghiệp điện tử Việt Nam và một số doanh nghiệp xuất nhập khẩu lớn ngành điện tử bán dẫn

Văn phòng Chính phủ vừa ban hành Thông báo số 481/TB-VPCP ngày 14/9/2026 kết luận của Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc tại buổi làm việc với Hiệp hội doanh nghiệp điện tử Việt Nam và một số doanh nghiệp xuất nhập khẩu lớn ngành điện tử bán dẫn.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 14/9/2026- Ảnh 1.

Ưu tiên hỗ trợ doanh nghiệp trong nước nghiên cứu, làm chủ công nghệ ngành điện tử

Đẩy nhanh hoạt động sản xuất, xuất khẩu

Thông báo nêu: Năm 2026, tình hình thế giới và khu vực tiếp tục diễn biến nhanh, phức tạp, khó lường; cạnh tranh chiến lược, xung đột địa chính trị, chính sách thương mại, thuế quan của Hoa Kỳ và một số nền kinh tế lớn có nhiều điều chỉnh; giá năng lượng và chi phí logistics tiếp tục tác động trực tiếp đến tăng trưởng và thương mại toàn cầu. Trong bối cảnh đó, hoạt động sản xuất, xuất khẩu tiếp tục là những động lực tăng trưởng chủ yếu của nền kinh tế, góp phần tạo việc làm, ổn định kinh tế vĩ mô và nâng cao vị thế của đất nước trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

Tuy nhiên, qua số liệu thống kê do Bộ Công Thương báo cáo cho thấy: (i) Giá trị nhập khẩu linh kiện, nguyên vật liệu, thiết bị đầu vào lớn hơn nhiều so với giá trị xuất khẩu trong cùng kỳ, phát sinh hiện tượng nhập siêu cục bộ ở nhóm máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện và ở một số doanh nghiệp; (ii) Ngành vẫn phụ thuộc lớn vào nguồn cung linh kiện, nguyên vật liệu, công nghệ từ nước ngoài, giá trị gia tăng nội địa còn hạn chế; (iii) Các doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi sản xuất, chuỗi cung ứng còn thấp. Đây là vấn đề cần được các Bộ, ngành quan tâm giải quyết đồng bộ, kịp thời nhằm nâng cao năng lực nội tại, tính tự chủ và sức chống chịu của ngành điện tử trước biến động thương mại quốc tế, thúc đẩy xuất khẩu ngành điện tử bán dẫn, góp phần hạn chế nhập siêu trong những tháng cuối năm 2026.

Để triển khai kịp thời, đồng bộ, hiệu quả các giải pháp nhằm phát triển thương mại cân bằng, bền vững, đóng góp vào tăng trưởng "hai con số" của cả nước, bên cạnh việc tiếp tục tập trung triển khai các nhiệm vụ, giải pháp đã được giao tại Thông báo số 443/TB-VPCP ngày 20 tháng 8 năm 2026, Phó Thủ tướng yêu cầu Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương và hiệp hội làm việc với các doanh nghiệp có chênh lệch lớn giữa kim ngạch nhập khẩu và xuất khẩu, nhất là doanh nghiệp nhập siêu lớn; làm rõ cơ cấu, mục đích nhập khẩu, mức độ phục vụ sản xuất, xuất khẩu để có giải pháp phù hợp, đẩy nhanh hoạt động sản xuất, xuất khẩu sản phẩm; hoàn thành trong tháng 9 năm 2026.

Rà soát, cập nhật danh mục sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên cho ngành điện tử, tập trung vào các linh kiện, vật liệu có nhu cầu lớn, có khả năng nội địa hóa; nghiên cứu cơ chế hỗ trợ theo chuỗi, theo sản phẩm, thay cho hỗ trợ dàn trải, đơn lẻ; tăng cường cảnh báo sớm và hỗ trợ doanh nghiệp ứng phó với biến động thương mại quốc tế; hướng dẫn về quy tắc xuất xứ, phòng vệ thương mại, tận dụng các FTA thế hệ mới; đẩy mạnh xúc tiến thương mại, đa dạng hóa thị trường xuất khẩu và nguồn cung đầu vào.

Kết nối nhà cung cấp Việt Nam với các tập đoàn điện tử, bán dẫn và công nghệ trong và ngoài nước

Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với Bộ, cơ quan, địa phương, hiệp hội xây dựng chương trình kết nối, phát triển nhà cung cấp Việt Nam cho các tập đoàn điện tử, bán dẫn và công nghệ trong và ngoài nước theo từng chuỗi sản phẩm, tiêu chuẩn kỹ thuật và nhu cầu của doanh nghiệp.

Rà soát, báo cáo Thủ tướng Chính phủ việc thay thế Quyết định số 10/2017/QĐ-TTg ngày 03 tháng 4 năm 2017 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế quản lý và thực hiện Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ, theo hướng hoàn thiện cơ chế triển khai Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ, trong đó nghiên cứu đặt hàng nhiệm vụ hằng năm, bảo đảm rõ nhiệm vụ, rõ nguồn lực và rõ trách nhiệm thực hiện; hoàn thành trong tháng 10 năm 2026.

Xử lý các kiến nghị về ưu đãi thuế cho sản xuất linh kiện, vật liệu điện tử và công nghiệp hỗ trợ

Bộ Tài chính tổng hợp, rà soát xử lý theo thẩm quyền các kiến nghị về ưu đãi thuế cho sản xuất linh kiện, vật liệu điện tử và công nghiệp hỗ trợ. Trong đó, lưu ý rà soát kỹ chính sách thuế đối với máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu nhập khẩu phục vụ đầu tư, mở rộng sản xuất điện tử, bán dẫn gắn với yêu cầu triển khai Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 08 tháng 6 năm 2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và chủ trương, định hướng phát triển các ngành công nghiệp chiến lược; kịp thời báo cáo cấp có thẩm quyền đối với những vấn đề vượt thẩm quyền.

Đồng thời, đẩy mạnh chuyển đổi số, hoàn thiện và kết nối cơ sở dữ liệu xuất nhập khẩu, bảo đảm cung cấp kịp thời số liệu phục vụ phân tích, cảnh báo sớm, quản trị rủi ro và theo dõi tình hình nhập siêu; tăng cường kiểm tra, giám sát trị giá hải quan đối với linh kiện, nguyên vật liệu nhập khẩu phục vụ sản xuất, gia công, lắp ráp điện tử, điện thoại; kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm gian lận thương mại, chuyển giá và các hành vi vi phạm (nếu có).

Đề xuất chính sách thuế phù hợp

Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Công Thương rà soát, đề xuất chính sách thuế phù hợp, vừa khuyến khích sản xuất trong nước đối với linh kiện, sản phẩm đã có khả năng sản xuất, vừa bảo đảm thuận lợi cho nhập khẩu máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu mà trong nước chưa đáp ứng được; hoàn thành trong tháng 10 năm 2026.

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam nghiên cứu, ban hành theo thẩm quyền hoặc đề xuất cấp có thẩm quyền chính sách tín dụng phù hợp cho doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ điện tử, doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ, tự động hóa, chuyển đổi số; tạo điều kiện tiếp cận vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia chuỗi cung ứng điện tử, bán dẫn; theo dõi sát tác động của tỷ giá và chính sách tiền tệ đến hoạt động sản xuất, xuất nhập khẩu ngành điện tử; chủ động có giải pháp phù hợp trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao.

Ưu tiên hỗ trợ doanh nghiệp trong nước nghiên cứu, làm chủ công nghệ lõi, công nghệ nền

Bộ Khoa học và Công nghệ rà soát, hoàn thiện cơ chế, chính sách khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, ưu tiên hỗ trợ doanh nghiệp trong nước nghiên cứu, làm chủ công nghệ lõi, công nghệ nền trong bán dẫn, vi mạch, vật liệu điện tử và tự động hóa; đánh giá thực chất mức độ tham gia và giá trị Việt Nam tạo ra trong chuỗi cung ứng điện tử toàn cầu, từ đó đề xuất giải pháp nâng cao vị thế, giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam.

Khẩn trương triển khai các nhiệm vụ phát triển công nghệ lõi ngành điện tử, bán dẫn, nhất là thiết kế vi mạch, vật liệu bán dẫn, đóng gói - kiểm thử; gắn các chương trình khoa học, công nghệ trọng điểm với danh mục sản phẩm, linh kiện có khả năng nội địa hóa.

Bộ Khoa học và Công nghệ phối hợp với Bộ, ngành liên quan nghiên cứu cơ chế ưu đãi đối với doanh nghiệp đầu tư R&D, sản xuất linh kiện, vật liệu điện tử trong nước; đẩy mạnh bảo hộ sở hữu trí tuệ, đăng ký sáng chế; hoàn thiện tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật phù hợp thông lệ quốc tế, tạo điều kiện cho doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu.

Ưu tiên các sản phẩm, linh kiện có khả năng thay thế nhập khẩu

Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Nội vụ đẩy mạnh đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho các lĩnh vực thiết kế vi mạch, bán dẫn, điện tử, tự động hóa, vật liệu; tăng cường hợp tác quốc tế, thu hút chuyên gia và nhân lực chất lượng cao.

Thúc đẩy liên kết giữa nhà trường - viện nghiên cứu - doanh nghiệp trong đào tạo, nghiên cứu, chuyển giao và thương mại hóa kết quả nghiên cứu; ưu tiên các sản phẩm, linh kiện có khả năng thay thế nhập khẩu và tham gia chuỗi cung ứng của các tập đoàn FDI.

Ủy ban nhân dân các địa phương theo dõi sát tình hình sản xuất, đơn hàng, xuất khẩu của doanh nghiệp chủ lực; đôn đốc đưa các dự án, nhà máy và nguyên liệu, thiết bị đã nhập khẩu vào sản xuất, xuất khẩu; kịp thời xử lý hoặc kiến nghị xử lý các khó khăn về thị trường, lao động, logistics và các quy định của thị trường nhập khẩu.

Rà soát các yêu cầu của thị trường nhập khẩu mà doanh nghiệp trên địa bàn chưa đáp ứng, tập trung hỗ trợ về kiểm nghiệm, chứng nhận, truy xuất nguồn gốc, quản lý chất lượng và hồ sơ kỹ thuật; chủ động cung cấp thông tin thị trường, hàng rào kỹ thuật và cơ hội từ các FTA; hỗ trợ doanh nghiệp thích ứng nhanh với biến động của thị trường quốc tế.

Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) chủ động nắm bắt, tổng hợp và phân loại các khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp; kiến nghị rõ vấn đề, cơ quan xử lý và giải pháp, tập trung vào những vướng mắc cản trở sản xuất, xuất khẩu, phát triển công nghiệp hỗ trợ và tham gia chuỗi cung ứng; phối hợp với Bộ Công Thương, Hiệp hội Doanh nghiệp điện tử Việt Nam (VEIA) và các cơ quan liên quan thúc đẩy liên kết doanh nghiệp, kết nối doanh nghiệp trong nước với các tập đoàn FDI, phát triển nhà cung cấp Việt Nam và nâng cao tỷ lệ giá trị gia tăng trong nước.

Hiệp hội Doanh nghiệp điện tử Việt Nam (VEIA) phải thực sự là đầu mối liên kết của ngành, kết nối doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước; xây dựng cơ chế kết nối cung - cầu, xác định rõ các sản phẩm, linh kiện, vật liệu, công đoạn có khả năng nội địa hóa để tập trung phát triển; không chỉ "phản ánh khó khăn" mà cần "đồng hành giải quyết khó khăn" cùng với các Bộ, cơ quan và doanh nghiệp; định kỳ tổng hợp, phân loại vướng mắc, đề xuất cơ quan có thẩm quyền xem xét xử lý...

Gắn chặt nhập khẩu với sản xuất và xuất khẩu

Phó Thủ tướng yêu cầu doanh nghiệp FDI phải chủ động tham gia phát triển hệ sinh thái điện tử tại Việt Nam, mở rộng danh sách nhà cung cấp Việt Nam; chia sẻ tiêu chuẩn, quy trình quản lý chất lượng, đào tạo nhân lực, tạo điều kiện để doanh nghiệp Việt Nam từng bước tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng.

Doanh nghiệp trong nước phải tiếp tục chủ động nâng cấp năng lực, nhất là công nghệ, quản trị chất lượng, tự động hóa, chuyển đổi số, R&D và nhân lực; từng bước chuyển từ công đoạn giá trị gia tăng thấp sang sản xuất linh kiện, vật liệu và các khâu có hàm lượng công nghệ cao hơn.

Gắn chặt nhập khẩu với sản xuất và xuất khẩu; sử dụng hiệu quả nguyên liệu, máy móc, thiết bị nhập khẩu, nâng cao năng suất và hiệu quả sử dụng đầu vào, bảo đảm nhập khẩu thực sự tạo ra năng lực sản xuất, giá trị gia tăng và kim ngạch xuất khẩu tại Việt Nam.

Đẩy mạnh R&D, đổi mới và làm chủ công nghệ, ưu tiên các lĩnh vực có tiềm năng như thiết kế vi mạch, đóng gói - kiểm thử, linh kiện và vật liệu điện tử, thiết bị điện tử, tự động hóa, AI, máy chủ và thiết bị phục vụ trung tâm dữ liệu; tuân thủ nghiêm quy định về xuất xứ, hải quan và thương mại quốc tế; không để xảy ra chuyển tải bất hợp pháp hoặc lợi dụng Việt Nam để né tránh biện pháp phòng vệ thương mại, ảnh hưởng đến uy tín của doanh nghiệp và ngành điện tử Việt Nam.

Doanh nghiệp có kim ngạch nhập khẩu, nhập siêu lớn phải chủ động làm việc với Bộ Công Thương, các địa phương và Hiệp hội, làm rõ cơ cấu, mục đích nhập khẩu và mức độ đóng góp cho sản xuất, xuất khẩu; đồng thời xây dựng kế hoạch nâng cao giá trị gia tăng, phát triển nhà cung cấp trong nước và từng bước cải thiện cán cân thương mại.

Chính phủ bãi bỏ toàn bộ hoặc một phần đối với 24 nghị định

Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu thay mặt Chính phủ ký ban hành Nghị định số 356/2026/NĐ-CP ngày 14/9/2026 bãi bỏ một số nghị định của Chính phủ.

Theo Bộ Tư pháp, thời gian qua, một số bộ, cơ quan ngang bộ đã thực hiện rà soát và phát hiện một số văn bản quy phạm pháp luật không còn được áp dụng trên thực tế nhưng chưa có căn cứ pháp lý để xác định hết hiệu lực theo quy định tại các Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (năm 1996, năm 2008, năm 2015, năm 2020, năm 2025 và các Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật). Về nguyên tắc, các văn bản này vẫn được xác định là "còn hiệu lực".

Do đó, để bảo đảm tính công khai, minh bạch của hệ thống pháp luật, đồng thời bảo đảm tuân thủ đúng quy định về hiệu lực của văn bản theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025, Nghị định số 78/2025/NĐ-CP ngày 01/4/2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Nghị định số 187/2025/NĐ-CP), việc ban hành văn bản để bãi bỏ các văn bản nêu trên là cần thiết.

Trên cơ sở đó, Chính phủ ban hành Nghị định 356/2026/NĐ-CP bãi bỏ toàn bộ hoặc một phân 24 nghị định nhằm chấm dứt hiệu lực của các văn bản quy phạm pháp luật hoặc một phần văn bản quy phạm pháp luật do Chính phủ ban hành đã không còn được áp dụng trên thực tế nhưng chưa có căn cứ xác định hết hiệu lực theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, đảm bảo tính công khai, minh bạch của hệ thống pháp luật.

Bãi bỏ toàn bộ 18 nghị định

Cụ thể, Nghị định số 356/2026/NĐ-CP bãi bỏ toàn bộ 18 Nghị định sau đây:

1. Nghị định số 35-CP ngày 27 tháng 5 năm 1995 của Chính phủ về đặt Cục Dự trữ Quốc gia trực thuộc Chính phủ.

2. Nghị định số 88-CP ngày 14 tháng 12 năm 1995 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong các hoạt động văn hoá, dịch vụ văn hoá và phòng chống một số tệ nạn xã hội.

3. Nghị định số 36-CP ngày 19 tháng 6 năm 1996 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều khoản của Quy chế ban hành kèm theo Nghị định số 87-CP (12/12/1995); của Nghị định số 88-CP (14/12/1995) và Nghị định số 194-CP (31/12/1994) của Chính phủ.

4. Nghị định số 05/1999/NĐ-CP ngày 03 tháng 02 năm 1999 của Chính phủ về Chứng minh nhân dân.

5. Nghị định số 08/2003/NĐ-CP ngày 10 tháng 02 năm 2003 của Chính phủ về hoạt động của Cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài phục vụ nhiệm vụ phát triển kinh tế.

6. Nghị định số 66/2004/NĐ-CP ngày 19 tháng 02 năm 2004 của Chính phủ về việc chuyển ủy ban Chứng khoán Nhà nước vào Bộ Tài chính.

7. Nghị định số 138/2006/NĐ-CP ngày 15 tháng 11 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành các quy định của Bộ luật Dân sự về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài.

8. Nghị định số 170/2007/NĐ-CP ngày 19 tháng 11 năm 2007 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 05/1999/NĐ-CP ngày 03 tháng 02 năm 1999 của Chính phủ về Chứng minh nhân dân.

9. Nghị định số 61/2011/NĐ-CP ngày 26 tháng 7 năm 2011 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 135/2004/NĐ-CP ngày 10 tháng 6 năm 2004 của Chính phủ quy định về chế độ áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh, tổ chức hoạt động của cơ sở chữa bệnh theo Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính và chế độ áp dụng đối với người chưa thành niên, người tự nguyện vào cơ sở chữa bệnh.

10. Nghị định số 97/2011/NĐ-CP ngày 21 tháng 10 năm 2011 của Chính phủ quy định về thanh tra viên và cộng tác viên thanh tra.

11. Nghị định số 106/2013/NĐ-CP ngày 17 tháng 9 năm 2013 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 05/1999/NĐ-CP ngày 03 tháng 02 năm 1999 của Chính phủ về Chứng minh nhân dân đã được sửa đổi, bổ sung bằng Nghị định số 170/2007/NĐ-CP ngày 19 tháng 11 năm 2007 của Chính phủ.

12. Nghị định số 92/2014/NĐ-CP ngày 08 tháng 10 năm 2014 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 16 Nghị định số 97/2011/NĐ-CP ngày 21 tháng 10 năm 2011 của Chính phủ quy định về thanh tra viên và cộng tác viên thanh tra.

13. Nghị định số 117/2014/NĐ-CP ngày 08 tháng 12 năm 2014 của Chính phủ quy định về Y tế xã, phường, thị trấn.

14. Nghị định số 33/2015/NĐ-CP ngày 27 tháng 3 năm 2015 của Chính phủ quy định việc thực hiện kết luận thanh tra.

15. Nghị định số 37/2018/NĐ-CP ngày 10 tháng 3 năm 2018 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành các biện pháp giám sát, giáo dục người dưới 18 tuổi phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự.

16. Nghị định số 75/2018/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Chính phủ quy định về tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn và trang phục, phù hiệu của lực lượng bảo vệ trên tàu.

17. Nghị định số 29/2022/NĐ-CP ngày 29 tháng 4 năm 2022 của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành Nghị quyết số 12/2021/UBTVQH15 ngày 30 tháng 12 năm 2021 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc cho phép thực hiện một số cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế để phục vụ công tác phòng, chống dịch COVID-19.

18. Nghị định số 145/2025/NĐ-CP ngày 12 tháng 6 năm 2025 của Chính phủ quy định về phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 02 cấp, phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực quy hoạch đô thị và nông thôn.

Bãi bỏ một phần 6 nghị định

1. Bãi bỏ Điều 3 Nghị định số 103/2009/NĐ-CP ngày 06 tháng 11 năm 2009 của Chính phủ ban hành Quy chế hoạt động văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa công cộng và Điều 28 Quy chế hoạt động văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa công cộng ban hành kèm theo Nghị định số 103/2009/NĐ-CP.

2. Bãi bỏ Điều 6, Điều 7 Nghị định số 22/2023/NĐ-CP ngày 12 tháng 5 năm 2023 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định liên quan đến hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường.

3. Bãi bỏ Điều 13 Nghị định số 35/2023/NĐ-CP ngày 20 tháng 6 năm 2023 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Xây dựng.

4. Bãi bỏ Điều 26 Nghị định số 79/2023/NĐ-CP ngày 15 tháng 11 năm 2023 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Sở hữu trí tuệ về quyền đối với giống cây trồng.

5. Bãi bỏ khoản 3 Điều 39 Nghị định số 121/2025/NĐ-CP ngày 11 tháng 6 năm 2025 của Chính phủ quy định về phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp.

6. Bãi bỏ Điều 32 Nghị định số 148/2025/NĐ-CP ngày 12 tháng 6 năm 2025 của Chính phủ quy định về phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực y tế.

Nghị định số 356/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ 01/12/2026.

Bộ Dân tộc và Tôn giáo có 7 đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc

Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng vừa ký Quyết định số 1773/QĐ-TTg ngày 14/9/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành danh sách các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Bộ Dân tộc và Tôn giáo.

Theo Quyết định số 1773/QĐ-TTg, đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Bộ Dân tộc và Tôn giáo bao gồm:

1. Trường Dự bị Đại học Dân tộc Trung ương.

2. Trường Dự bị Đại học Dân tộc Sầm Sơn.

3. Trường Dự bị Đại học Dân tộc Trung ương Nha Trang.

4. Trường Dự bị Đại học Thành phố Hồ Chí Minh.

5. Trường Phổ thông vùng cao Việt Bắc.

6. Nhà Xuất bản Tôn giáo.

7. Nhà khách Dân tộc.

Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ban hành và thay thế Quyết định số 541/QĐ-TTg ngày 22/5/2023 của Thủ tướng Chính phủ ban hành danh sách các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Ủy ban Dân tộc./.