In bài viết

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 16/3/2026

(Chinhphu.vn) - Văn phòng Chính phủ vừa có Thông cáo báo chí chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 16/3/2026.

16/03/2026 18:51

Kế hoạch triển khai thi hành Luật An ninh mạng 

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính vừa ký Quyết định số 437/QĐ-TTg ngày 16/3/2026 ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật An ninh mạng (Kế hoạch).

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 16/3/2026- Ảnh 1.

Triển khai thi hành Luật An ninh mạng

Mục đích của Kế hoạch nhằm xác định cụ thể nội dung công việc, thời hạn, tiến độ hoàn thành và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức có liên quan trong việc triển khai thi hành Luật An ninh mạng (sau đây gọi tắt là Luật), bảo đảm tính kịp thời, đồng bộ, thống nhất, hiệu lực, hiệu quả.

Xác định rõ trách nhiệm cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp và cơ chế phối hợp giữa các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong việc tiến hành các hoạt động triển khai thi hành Luật trên phạm vi cả nước.

Bên cạnh đó, nâng cao nhận thức về Luật và trách nhiệm của các cấp, các ngành, cơ quan, tổ chức có liên quan trong việc triển khai thi hành Luật.

Tổ chức tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn thi hành Luật; tập huấn chuyên sâu, bồi dưỡng pháp luật, nghiệp vụ an ninh mạng

Kế hoạch đưa ra 6 nhiệm vụ cụ thể để các bộ, ngành, địa phương, cơ quan liên quan triển khai thực hiện như sau:

1. Trong năm 2026 và các năm tiếp theo, Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ khác, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các cơ quan báo chí, phát thanh, truyền hình khác tổ chức tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn thi hành Luật trên các phương tiện thông tin đại chúng.

2. Bộ Công an chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương biên soạn tài liệu, tổ chức các hội nghị tập huấn chuyên sâu bồi dưỡng pháp luật, nghiệp vụ an ninh mạng cho các cơ quan, đơn vị, địa phương.

3. Bộ Công an tiến hành rà soát các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến Luật thuộc thẩm quyền quản lý nhà nước. Các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương rà soát văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến Luật thuộc phạm vi, lĩnh vực, địa bàn quản lý nhà nước được phân công, gửi kết quả rà soát về Bộ Công an trước ngày 01/4/2026. Bộ Công an tổng hợp kết quả rà soát, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trước ngày 15/6/2026.

4. Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Văn phòng Chính phủ, Bộ Tư pháp và các cơ quan có liên quan xây dựng, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật và văn bản khác có liên quan trước ngày 01/7/2026. Cụ thể:

- Xây dựng Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật An ninh mạng (cụ thể là các điểm a, b, c, d, đ, g và l khoản 1 Điều 5; khoản 4 Điều 25; khoản 3 Điều 26 và khoản 5 Điều 34 Luật An ninh mạng).

- Xây dựng Nghị định của Chính phủ quy định về phòng, chống tội phạm mạng và tội phạm sử dụng công nghệ cao (bao gồm quy định chi tiết khoản 5 Điều 14 Luật An ninh mạng).

- Xây dựng Nghị định của Chính phủ quy định về bảo vệ an ninh mạng đối với hệ thống thông tin (bao gồm quy định chi tiết khoản 2 Điều 8, khoản 5 Điều 9, khoản 6 Điều 10 và khoản 5 Điều 12 Luật An ninh mạng).

- Xây dựng Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết trình tự, thủ tục áp dụng một số biện pháp bảo vệ an ninh mạng (cụ thể là điểm e, h, i, k và m khoản 1 Điều 5 Luật An ninh mạng).

- Xây dựng Nghị định của Chính phủ về hoạt động kinh doanh sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng (bao gồm quy định chi tiết khoản 3 Điều 28 và Điều 29 Luật An ninh mạng).

- Xây dựng Nghị định của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh mạng và bảo vệ dữ liệu cá nhân (bao gồm quy định chi tiết các hành vi vi phạm hành chính, hình thức, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả và thẩm quyền xử phạt trong lĩnh vực an ninh mạng và bảo vệ dữ liệu cá nhân).

- Xây dựng Nghị định của Chính phủ quy định về lực lượng bảo vệ an ninh mạng (bao gồm quy định chi tiết khoản 2 Điều 30 Luật An ninh mạng).

Ban hành Danh mục Hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia trước 31/12/2026

Trước ngày 01/7/2026, Bộ Quốc phòng chủ trì, phối hợp với Văn phòng Chính phủ, Bộ Công an, Bộ Tư pháp và các cơ quan có liên quan xây dựng và ban hành 2 Nghị định của Chính phủ về hoạt động mật mã dân sự (bao gồm quy định chi tiết điểm a khoản 1, điểm c khoản 2 và khoản 3 Điều 28, khoản 3 Điều 29 Luật An ninh mạng) và Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật An ninh mạng trong phạm vi quản lý của Bộ Quốc phòng (bao gồm quy định về ngăn chặn xung đột thông tin trên không gian mạng tại khoản 4 Điều 22 và quy định các nội dung trong phạm vi quản lý của Bộ Quốc phòng tại Điều 5, Điều 8, Điều 9, Điều 10, Điều 12, Điều 14, Điều 25, Điều 26, Điều 28, Điều 29, Điều 30, Điều 34 Luật An ninh mạng).

5. Bộ Công an chủ trì xây dựng Quyết định của Thủ tướng Chính phủ ban hành Danh mục Hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia, ban hành trước ngày 31/12/2026.

6. Năm 2026 và các năm tiếp theo, Bộ Công an chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, cơ quan, tổ chức khác có liên quan tổ chức theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thi hành Luật và các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành.

Phê duyệt Chiến lược phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2050

Phó Thủ tướng Nguyễn Chí Dũng vừa ký Quyết định số 438/QĐ-TTg ngày 16/3/2026 phê duyệt Chiến lược phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2050 (Chiến lược).

Mục tiêu tổng quát của Chiến lược là phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử bảo đảm an toàn, an ninh, phục vụ hiệu quả các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao chất lượng đời sống nhân dân, bảo vệ môi trường và an ninh năng lượng quốc gia, góp phần đạt mục tiêu phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050. Đưa vào vận hành các nhà máy điện hạt nhân một cách an toàn, hiệu quả, góp phần bảo đảm an ninh năng lượng phục vụ chuyển đổi số, chuyển đổi xanh; hoàn thành một số nhiệm vụ cơ bản trong chương trình phát triển điện hạt nhân. Mở rộng ứng dụng bức xạ và đồng vị phóng xạ trong các ngành kinh tế - kỹ thuật. Hoàn thiện thể chế, nâng cao năng lực quản lý nhà nước, tăng cường tiềm lực khoa học và công nghệ hạt nhân, từng bước làm chủ các công nghệ chiến lược, phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử, bảo đảm an toàn, an ninh.

Vận hành an toàn 2 nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận vào năm 2035

Về phát triển điện hạt nhân, Chiến lược phấn đấu đến năm 2035, hoàn thành xây dựng và đưa vào vận hành an toàn 2 nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1 và Ninh Thuận 2; phấn đấu mức tham gia của các doanh nghiệp trong nước đạt tỷ lệ 30% tổng mức đầu tư các hạng mục xây dựng, lắp đặt của các hạng mục phụ trợ dự án điện hạt nhân; phấn đấu triển khai ít nhất 01 dự án nhà máy điện hạt nhân sử dụng công nghệ lò phản ứng hạt nhân mô-đun nhỏ.

Hoàn thành phát triển cơ sở hạ tầng điện hạt nhân; hoàn thành định hướng phát triển các dự án điện hạt nhân tiếp theo theo hướng an toàn, bền vững và hiệu quả, góp phần bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia và thực hiện mục tiêu phát thải ròng bằng "0".

Làm chủ các kỹ thuật hạt nhân và công nghệ bức xạ tiên tiến trong quản lý chất lượng công trình, chất lượng sản phẩm

Về phát triển, ứng dụng bức xạ và đồng vị phóng xạ, đến năm 2035 nâng quy mô và hiệu quả kinh tế của các ứng dụng bức xạ và đồng vị phóng xạ trong các ngành và lĩnh vực, đạt tốc độ tăng trưởng trung bình 10 - 15%/năm.

Y học bức xạ đạt trình độ tiên tiến trong các nước ASEAN, phấn đấu đạt 20 máy CT/triệu dân, 10 máy MRI/triệu dân, 1 máy xạ hình/triệu dân, từ 1 - 2 máy xạ trị gia tốc/triệu dân, đạt tỷ lệ 100% X-quang số.

Làm chủ các kỹ thuật hạt nhân và công nghệ bức xạ tiên tiến trong quản lý chất lượng công trình, chất lượng sản phẩm, tối ưu hóa quá trình công nghiệp, xử lý và biến tính vật liệu; chế tạo, sản xuất một số loại thiết bị bức xạ và thiết bị ghi đo bức xạ có nhu cầu lớn trong các ngành kinh tế - xã hội thay thế cho nhập khẩu...

Về phát triển tiềm lực khoa học và công nghệ hạt nhân, bảo đảm an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân và an ninh hạt nhân, phát triển nguồn nhân lực, đến năm 2035 phát triển hệ thống các cơ sở nghiên cứu tiên tiến, trong đó tập trung đầu tư hình thành 02 phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia về công nghệ điện hạt nhân, công nghệ đất hiếm, urani, titan; 03 - 05 phòng thí nghiệm tiên tiến; phấn đấu có 04 - 05 nhóm nghiên cứu có khả năng làm chủ một số công nghệ hạt nhân hỗ trợ các dự án điện hạt nhân và lò phản ứng nghiên cứu. Đầu tư 03 - 05 cơ sở đào tạo đại học về điện hạt nhân đạt trình độ tiên tiến, ngang tầm quốc tế...

Đến năm 2050, năng lượng nguyên tử trở thành một ngành kinh tế - kỹ thuật

Tầm nhìn đến năm 2050, năng lượng nguyên tử trở thành một ngành kinh tế - kỹ thuật, đóng góp quan trọng cho an ninh năng lượng, kinh tế xanh và phát triển bền vững đất nước.

Tỷ trọng điện hạt nhân đóng góp khoảng 6 - 8% trong tổng sản lượng điện quốc gia, bổ sung thêm khoảng 04 lò phản ứng hạt nhân công suất lớn và 10 - 15 lò phản ứng hạt nhân mô-đun nhỏ, xem xét nâng cao hơn tỷ trọng điện hạt nhân và cân đối số lượng lò phản ứng hạt nhân công suất lớn, lò phản ứng hạt nhân mô-đun nhỏ khi điều kiện kinh tế, kỹ thuật thuận lợi, phù hợp với tính toán tối ưu của hệ thống điện. Cơ bản làm chủ công nghệ hạt nhân, phát triển một số tập đoàn, doanh nghiệp dẫn dắt, có năng lực xây lắp, thiết kế, chế tạo, sản xuất vật liệu, thiết bị cho điện hạt nhân.

Làm chủ công nghệ bức xạ và kỹ thuật hạt nhân tiên tiến trong y tế, công nghiệp, nông nghiệp, tài nguyên và môi trường, đóng góp hiệu quả cho phát triển kinh tế - xã hội. Đưa vào vận hành trung tâm máy gia tốc lớn.

Tiềm lực, trình độ khoa học và công nghệ hạt nhân của Việt Nam được phát triển ngang bằng với mức trung bình của các nước phát triển, có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, nguồn nhân lực chất lượng cao, bảo đảm nền tảng cho phát triển ứng dụng bức xạ, đồng vị phóng xạ và điện hạt nhân; trở thành trung tâm đào tạo, nghiên cứu và ứng dụng hạt nhân khu vực Đông Nam Á.

Theo Chiến lược, định hướng phát triển điện hạt nhân là xây dựng, thực hiện chương trình phát triển điện hạt nhân theo các quy mô linh hoạt, lộ trình phù hợp, kết hợp hài hòa giữa các nhà máy điện hạt nhân công suất lớn và các nhà máy điện hạt nhân lắp ráp mô-đun nhỏ. Chương trình được cụ thể hóa thành các cơ chế, chính sách, kế hoạch, dự án, đề án,... bảo đảm đồng bộ, thống nhất.

Phát triển, sản xuất và ứng dụng một số thuốc phóng xạ, đồng vị phục vụ chẩn đoán, điều trị bệnh

Định hướng phát triển, ứng dụng bức xạ và đồng vị phóng xạ là phát triển, ứng dụng bức xạ và đồng vị phóng xạ theo hướng đồng bộ, hiệu quả và bền vững, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân và bảo vệ môi trường.

Trong lĩnh vực y tế, phát triển mạng lưới các cơ sở xạ trị, y học hạt nhân, điện quang theo hướng cân đối, đồng bộ, hiệu quả, đáp ứng nhu cầu cơ bản của người dân tại các vùng, địa phương trong cả nước; tăng cường nghiên cứu, phát triển, sản xuất và ứng dụng một số thuốc phóng xạ, đồng vị phục vụ chẩn đoán, điều trị bệnh trên cơ sở đầu tư và khai thác hiệu quả hệ thống cyclotron và lò phản ứng hạt nhân hiện có. Đào tạo, bổ sung nhân lực y học bức xạ đạt tỷ lệ tương đương với các nước thu nhập trung bình cao trên thế giới.

Trong lĩnh vực công nghiệp, phát triển và làm chủ các công nghệ tiên tiến, công nghệ mới về ứng dụng bức xạ và đồng vị phóng xạ; từng bước chế tạo, sản xuất thiết bị bức xạ và thiết bị ghi đo bức xạ, xử lý và biến tính vật liệu; gắn nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ với nhu cầu thực tiễn sản xuất, nâng cao năng lực cạnh tranh, hiệu quả kinh tế của các ngành công nghiệp trong nước.

Trong lĩnh vực nông nghiệp, nghiên cứu, tiếp cận và làm chủ kỹ thuật tiên tiến trong ứng dụng bức xạ và đồng vị phóng xạ phục vụ chọn tạo giống cây trồng, ưu tiên nghiên cứu, phát triển một số giống cây trồng đột biến phóng xạ có giá trị nhằm tăng năng suất, chất lượng, nâng cao giá trị nông sản; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ bức xạ, kỹ thuật hạt nhân trong bảo vệ thực vật, nông hóa, thổ nhưỡng, chăn nuôi, thú y, nuôi trồng thủy sản, bảo quản chế biến; tăng cường đầu tư, phát triển cơ sở chiếu xạ...

Định hướng phát triển tiềm lực khoa học và công nghệ hạt nhân theo hướng hiện đại, đồng bộ và hiệu quả, thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử; thực hiện đồng bộ nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng.

Phát triển cơ quan an toàn bức xạ và hạt nhân quốc gia theo hướng chuyên nghiệp, bảo đảm chức năng pháp quy phù hợp với khuyến cáo của Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế và có đủ năng lực, tiềm lực, tổ chức, biên chế, làm nòng cốt trong hệ thống quản lý nhà nước về an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân, an ninh hạt nhân và thanh sát hạt nhân, đáp ứng yêu cầu phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử, đặc biệt là điện hạt nhân.

Phát triển mạng lưới quan trắc và cảnh báo phóng xạ môi trường quốc gia hiện đại, đồng bộ trên cơ sở tận dụng hiệu quả địa điểm các trạm quan trắc môi trường sẵn có; bảo đảm nguồn nhân lực chất lượng cao cho các cơ sở nghiên cứu, đào tạo, phát triển, ứng dụng bức xạ, đồng vị phóng xạ và phát triển điện hạt nhân; phát triển đội ngũ kỹ sư, nhà khoa học và chuyên gia trong lĩnh vực khoa học và công nghệ hạt nhân...

Phê duyệt Đề án chuyển đổi số các doanh nghiệp nhỏ và vừa giai đoạn 2026 – 2030 

Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Chí Dũng vừa ký Quyết định số 433/QĐ-TTg ngày 16/3/2026 phê duyệt Đề án chuyển đổi số các doanh nghiệp nhỏ và vừa giai đoạn 2026 – 2030 (Đề án).

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 16/3/2026- Ảnh 2.

Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án chuyển đổi số các doanh nghiệp nhỏ và vừa giai đoạn 2026 – 2030.

Mục tiêu của Đề án nhằm nâng cao mức độ sẵn sàng, năng lực chuyển đổi số của doanh nghiệp nhỏ và vừa thông qua các gói hỗ trợ phù hợp với nhu cầu, quy mô, mức độ sẵn sàng và đặc thù của từng ngành, lĩnh vực; từ đó thúc đẩy chuyển đổi số thực chất, toàn diện, cải thiện năng suất và hiệu quả hoạt động, khả năng thích ứng với biến động thị trường và tham gia sâu vào chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu.

Phấn đấu đến năm 2030, ít nhất 500.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa được hỗ trợ thông qua các hoạt động của Đề án (như đánh giá mức độ sẵn sàng, thử nghiệm và ứng dụng sản phẩm, giải pháp về chuyển đổi số, tư vấn về chuyển đổi số, đào tạo, nâng cao năng lực số). Trong đó, ít nhất 300.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa được hỗ trợ ứng dụng sản phẩm, giải pháp công nghệ số, nền tảng số, trí tuệ nhân tạo.

Đồng thời, hình thành nhóm 200 doanh nghiệp nhỏ và vừa tiêu biểu về chuyển đổi số trong các ngành, lĩnh vực quan trọng như: khoa học - công nghệ, công nghiệp chế biến, chế tạo, nông nghiệp, y tế, thương mại, logistics, tài chính, giáo dục và du lịch.

Bên cạnh đó, phát triển mạng lưới tư vấn viên chuyển đổi số với ít nhất 500 tổ chức, cá nhân tham gia, đáp ứng tiêu chí về năng lực chuyên môn, kinh nghiệm thực tiễn để đồng hành cùng doanh nghiệp nhỏ và vừa.

3 nhiệm vụ và giải pháp

Để thực hiện được các mục tiêu nêu trên, Đề án đưa ra 3 nhiệm vụ và giải pháp cụ thể như sau:

1. Hoàn thiện thể chế, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi số. Cụ thể:

Nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung các quy định của Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017 và các văn bản hướng dẫn nhằm tháo gỡ vướng mắc trong chính sách hỗ trợ ứng dụng các sản phẩm, giải pháp công nghệ số, nền tảng số, trí tuệ nhân tạo bảo đảm phù hợp với thực tiễn triển khai.

Tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý về chuyển đổi số, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, trí tuệ nhân tạo và dữ liệu nhằm tạo môi trường thuận lợi cho việc triển khai các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi số. Trong đó, xác định nội dung, hình thức hỗ trợ; cơ chế lựa chọn, công bố các sản phẩm, giải pháp công nghệ số, nền tảng số, trí tuệ nhân tạo đáp ứng các tiêu chuẩn, quy chuẩn, có khả năng kết nối liên thông, mở rộng; cơ chế nghiệm thu, theo dõi và đánh giá kết quả thực hiện.

2. Phát triển hạ tầng hỗ trợ chuyển đổi số doanh nghiệp nhỏ và vừa. Cụ thể:

Phát triển hạ tầng băng rộng cố định, di động 5G và các công nghệ di động thế hệ tiếp theo tại các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế, khu công nghệ cao, khu công nghệ số tập trung nhằm đáp ứng yêu cầu sản xuất thông minh, tự động hóa, Internet vạn vật công nghiệp (IIoT), rô-bốt, trí tuệ nhân tạo và hệ thống điều khiển thời gian thực bảo đảm độ trễ thấp, độ tin cậy cao. Đẩy mạnh triển khai dịch vụ viễn thông công ích, thu hẹp khoảng cách số giữa các vùng, miền.

Tận dụng tối đa hạ tầng viễn thông, Internet tốc độ cao, cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật, trang thiết bị tại các trung tâm, cụm đổi mới sáng tạo nhằm tạo điều kiện để doanh nghiệp nhỏ và vừa khai thác, học hỏi, thử nghiệm các sản phẩm, giải pháp công nghệ số, nền tảng số, trí tuệ nhân tạo để chuyển đổi từ sản xuất truyền thống sang sản xuất thông minh.

Công khai, chia sẻ có kiểm soát các nguồn dữ liệu chuyên ngành phục vụ phân tích, dự báo, tối ưu hoạt động sản xuất, kinh doanh. Ưu tiên khai thác, chia sẻ dữ liệu trong các lĩnh vực như công nghiệp chế biến, chế tạo, nông nghiệp, logistics, tài chính và các ngành có giá trị gia tăng cao.

Mở rộng khả năng tiếp cận hạ tầng nghiên cứu, phát triển công nghệ, phòng thí nghiệm trọng điểm, trung tâm nghiên cứu và phát triển công nghệ, trung tâm đổi mới sáng tạo của Nhà nước.

Hỗ trợ kinh phí cho doanh nghiệp nhỏ và vừa thuê, sử dụng dịch vụ, thiết bị tại các phòng thí nghiệm, trung tâm kiểm chuẩn, trung tâm nghiên cứu và phát triển công nghệ, trung tâm đổi mới sáng tạo, hạ tầng tính toán hiệu năng cao để thử nghiệm, kiểm thử, đánh giá chất lượng và hiệu quả sản phẩm, giải pháp công nghệ số, nền tảng số, trí tuệ nhân tạo.

Cơ chế hỗ trợ được thực hiện thông qua các nhiệm vụ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo sử dụng ngân sách nhà nước; phiếu hỗ trợ tài chính; khai thác dịch vụ tại các hạ tầng dùng chung và các hoạt động bồi dưỡng, nâng cao năng lực.

3. Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi số, phát triển hệ sinh thái số, bao gồm:

Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa xây dựng lộ trình chuyển đổi số phù hợp với các ngành, lĩnh vực.

Xây dựng mạng lưới tư vấn viên chuyển đổi số, hỗ trợ kinh phí tư vấn chuyển đổi số cho doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận các sản phẩm, giải pháp về chuyển đổi số.

Hỗ trợ các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, doanh nghiệp khoa học và công nghệ, doanh nghiệp công nghệ số, doanh nghiệp công nghệ cao phát triển các sản phẩm, giải pháp phục vụ chuyển đổi số doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa ứng dụng các sản phẩm, giải pháp công nghệ số, nền tảng số, trí tuệ nhân tạo, đổi mới sáng tạo và tiếp nhận chuyển giao công nghệ.

Hỗ trợ nâng cao năng lực số thông qua đào tạo, bồi dưỡng các chủ doanh nghiệp, lao động nòng cốt và người lao động.

Tổ chức hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi số.

Thúc đẩy văn hóa chuyển đổi số.

Huy động các nguồn lực tài chính từ nguồn ngân sách, quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, xã hội hóa, viện trợ, tài trợ quốc tế.

Quy chế hoạt động của Hội đồng Giáo dục quốc phòng và an ninh Trung ương

 Phó Thủ tướng Lê Thành Long - Chủ tịch Hội đồng Giáo dục quốc phòng và an ninh Trung ương ký Quyết định số 20/QĐ-HĐGDQP ban hành Quy chế hoạt động của Hội đồng Giáo dục quốc phòng và an ninh Trung ương (Hội đồng).

Quy chế này quy định nguyên tắc, chế độ làm việc; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng Giáo dục quốc phòng và an ninh Trung ương (Hội đồng), Ban Thường trực Hội đồng Giáo dục quốc phòng và an ninh Trung ương (Ban Thường trực), Cơ quan Thường trực Hội đồng Giáo dục quốc phòng và an ninh Trung ương (Cơ quan Thường trực) và các thành viên Hội đồng, Ban Thường trực Hội đồng.

Nguyên tắc hoạt động, chế độ làm việc của Hội đồng

Hội đồng hoạt động theo nguyên tắc tuân thủ sự lãnh đạo của Đảng, sự chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; thực hiện đúng quy định của pháp luật về giáo dục quốc phòng và an ninh, pháp luật có liên quan.

Hội đồng, Ban Thường trực Hội đồng, Cơ quan Thường trực Hội đồng Giáo dục quốc phòng và an ninh Trung ương làm việc theo nguyên tắc tập trung dân chủ, thống nhất theo đa số.

Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và thành viên Hội đồng, Ban Thường trực, Cơ quan Thường trực Hội đồng làm việc theo chế độ kiêm nhiệm, gắn trách nhiệm cá nhân, thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo phân công của Chủ tịch Hội đồng, Trưởng Ban Thường trực Hội đồng Giáo dục quốc phòng và an ninh Trung ương. Các thành viên Hội đồng có trách nhiệm tham dự đầy đủ các phiên họp, tham gia xây dựng văn bản, chương trình, đề án, kế hoạch, hướng dẫn, báo cáo về công tác giáo dục quốc phòng và an ninh.

Hằng năm, Hội đồng, Ban Thường trực Hội đồng Giáo dục quốc phòng và an ninh Trung ương họp 01 lần, căn cứ tình hình cụ thể do Chủ tịch Hội đồng, Trưởng ban Thường trực Hội đồng Giáo dục quốc phòng và an ninh Trung ương quyết định.

Nhiệm vụ và quyền hạn của Hội đồng

Hội đồng có nhiệm vụ phối hợp liên ngành làm tham mưu, tư vấn cho Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện công tác giáo dục quốc phòng và an ninh trên phạm vi toàn quốc; xây dựng chương trình, kế hoạch, đề án về công tác giáo dục quốc phòng và an ninh trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Hằng năm, tổng hợp báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ kết quả công tác giáo dục quốc phòng và an ninh và thực hiện các nhiệm vụ khác khi cấp có thẩm quyền giao.

Hội đồng Giáo dục quốc phòng và an ninh Trung ương chỉ đạo Hội đồng Giáo dục quốc phòng và an ninh các cấp, phối hợp với cơ quan, tổ chức, địa phương liên quan thực hiện công tác giáo dục quốc phòng và an ninh theo quy định của pháp luật về công tác giáo dục quốc phòng và an ninh.

Hội đồng có quyền yêu cầu các cơ quan, tổ chức và địa phương cung cấp thông tin về công tác giáo dục quốc phòng và an ninh. Hằng năm hoặc giai đoạn xây dựng kế hoạch, hướng dẫn, tổ chức kiểm tra, sơ kết, tổng kết, khen thưởng, báo cáo kết quả công tác giáo dục quốc phòng và an ninh; giải quyết hoặc đề nghị cấp trên giải quyết kiến nghị, khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm pháp luật về công tác giáo dục quốc phòng và an ninh.

Nhiệm vụ, quyền hạn của Ban Thường trực Hội đồng

Ban Thường trực có nhiệm vụ giúp Hội đồng, Chủ tịch Hội đồng tham mưu, tư vấn cho Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về công tác giáo dục quốc phòng và an ninh trên phạm vi toàn quốc và giải quyết công việc thường xuyên về công tác giáo dục quốc phòng và an ninh; ban hành văn bản chỉ đạo, hướng dẫn và kế hoạch kiểm tra công tác giáo dục quốc phòng và an ninh của Ban Thường trực Hội đồng.

Trưởng Ban Thường trực Hội đồng phê duyệt kế hoạch từng khóa bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh cho đối tượng 2 thuộc ban, bộ, ngành Trung ương trên địa bàn thành phố Hà Nội theo đề nghị của Giám đốc Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng; xây dựng kế hoạch, hướng dẫn, tổ chức kiểm tra, sơ kết, tổng kết, khen thưởng, báo cáo kết quả công tác giáo dục quốc phòng và an ninh; giải quyết hoặc đề nghị cấp trên giải quyết kiến nghị, khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm pháp luật về công tác giáo dục quốc phòng và an ninh.

Trưởng Ban, Phó trưởng Ban Thường trực Hội đồng Giáo dục quốc phòng và an ninh Trung ương được sử dụng con dấu của cơ quan mình.

Nhiệm vụ của Cơ quan Thường trực Hội đồng

Cơ quan Thường trực Hội đồng có nhiệm vụ tham mưu, đề xuất giúp Hội đồng, Chủ tịch Hội đồng chỉ đạo thực hiện công tác giáo dục quốc phòng và an ninh trên phạm vi toàn quốc; giúp Hội đồng, Chủ tịch Hội đồng chỉ đạo, hướng dẫn và giải quyết công việc thường xuyên về công tác giáo dục quốc phòng và an ninh.

Chủ trì, phối hợp với Ban Tổ chức Trung ương, Bộ Công an, Bộ Giáo dục và Đào tạo, cơ quan, tổ chức, địa phương có liên quan giúp Hội đồng xây dựng kế hoạch công tác giáo dục quốc phòng và an ninh; phối hợp với Ban Tổ chức Trung ương xây dựng kế hoạch bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh cho đối tượng 1 hằng năm hoặc giai đoạn trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; chỉ đạo Học viện Quốc phòng xây dựng kế hoạch bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh từng khóa cho đối tượng 1 trình Bộ trưởng Bộ Quốc phòng phê duyệt; tham mưu triệu tập bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh đối tượng 1. Hằng năm, trình Bộ trưởng Bộ Quốc phòng phê duyệt kế hoạch bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh đối tượng 2 theo đề nghị của Tư lệnh các Quân khu, Tư lệnh Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội; chỉ đạo Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng xây dựng kế hoạch bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh từng khóa cho đối tượng 2 thuộc ban, bộ, ngành Trung ương trên địa bàn thành phố Hà Nội trình Trưởng ban Thường trực Hội đồng phê duyệt.

Cơ quan Thường trực tham mưu xây dựng kế hoạch kiểm tra, khảo sát, sơ kết, tổng kết, khen thưởng việc thực hiện công tác giáo dục quốc phòng và an ninh đối với Hội đồng Giáo dục quốc phòng và an ninh các cấp và công tác giáo dục quốc phòng và an ninh trong cơ quan, tổ chức, các cơ sở giáo dục đào tạo môn học giáo dục quốc phòng và an ninh, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt; tổ chức kiểm tra, khảo sát công tác giáo dục quốc phòng và an ninh đối với các trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh, các cơ sở giáo dục đào tạo môn học giáo dục quốc phòng và an ninh; giải quyết hoặc đề nghị cấp trên giải quyết kiến nghị, khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm pháp luật về công tác giáo dục quốc phòng và an ninh...

Bổ sung Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 04 Luật thuộc lĩnh vực nội vụ vào Chương trình lập pháp năm 2026 của Quốc hội khóa XVI 

 Chính phủ ban hành Nghị quyết số 47/NQ-CP ngày 16/3/2026 về việc bổ sung Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 04 Luật thuộc lĩnh vực nội vụ vào Chương trình lập pháp năm 2026 của Quốc hội khóa XVI.

Cụ thể, Chính phủ thống nhất trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc bổ sung dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 04 Luật thuộc lĩnh vực nội vụ (Bộ luật Lao động năm 2019, Luật Lưu trữ năm 2024, Luật Bình đẳng giới năm 2006 và Luật Hoạt động chữ thập đỏ năm 2008) vào Chương trình lập pháp năm 2026 và theo trình tự, thủ tục rút gọn như đề nghị của Bộ Nội vụ.

Bộ Nội vụ chịu trách nhiệm về nội dung, báo cáo đề xuất, bảo đảm đúng quy định của pháp luật.

Đồng thời, Chính phủ giao Bộ trưởng Bộ Nội vụ thừa ủy quyền Thủ tướng Chính phủ, thay mặt Chính phủ ký Tờ trình gửi Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc bổ sung dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 04 Luật thuộc lĩnh vực nội vụ theo đúng quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và văn bản liên quan; chủ động báo cáo, giải trình với Ủy ban Thường vụ Quốc hội và các cơ quan liên quan của Quốc hội theo quy định.

Nghị quyết trên có hiệu lực từ ngày 16/3/2026./.