Chính phủ ban hành Nghị định số 161/2026/NĐ-CP ngày 15/5/2026 quy định mức lương cơ sở và chế độ tiền thưởng đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang. Theo đó, mức lương cơ sở sẽ tăng lên 2.530.000 đồng/tháng kể từ ngày 01/7/2026.

Mức lương cơ sở tăng lên 2.530.000 đồng/tháng kể từ ngày 01/7/2026.
Nghị định này quy định mức lương cơ sở áp dụng đối với người hưởng lương, phụ cấp và chế độ tiền thưởng áp dụng đối với người hưởng lương làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức chính trị - xã hội trực thuộc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức xã hội thực hiện các nhiệm vụ được nhà nước giao (sau đây gọi chung là cơ quan, đơn vị) ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở xã, phường, đặc khu trực thuộc cấp tỉnh (sau đây gọi chung là cấp xã), ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt và lực lượng vũ trang.
1. Người hưởng lương, phụ cấp áp dụng mức lương cơ sở bao gồm:
a) Cán bộ, công chức từ trung ương đến cấp xã quy định tại Điều 1 Luật Cán bộ, công chức;
b) Viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập quy định tại Điều 1 Luật Viên chức;
c) Người làm các công việc theo chế độ hợp đồng lao động trong cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp công lập quy định tại Nghị định của Chính phủ thuộc trường hợp được áp dụng hoặc có thỏa thuận trong hợp đồng lao động áp dụng xếp lương theo Nghị định số 204/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004 của Chính phủ về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang;
d) Người làm việc trong chỉ tiêu biên chế tại các hội được ngân sách nhà nước hỗ trợ kinh phí hoạt động theo quy định tại Nghị định số 126/2024/NĐ-CP ngày 08/10/2024 của Chính phủ quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội;
đ) Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng, công chức quốc phòng và lao động hợp đồng thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam;
e) Sĩ quan, hạ sĩ quan hưởng lương, công nhân công an và lao động hợp đồng thuộc Công an nhân dân;
g) Người làm việc trong tổ chức cơ yếu;
h) Hạ sĩ quan và binh sĩ thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam; hạ sĩ quan và chiến sĩ nghĩa vụ thuộc Công an nhân dân;
i) Người hoạt động không chuyên trách ở thôn và tổ dân phố.
2. Người hưởng lương quy định tại các điểm a, b, c, d, đ, e và g nêu trên (không bao gồm đối tượng hưởng phụ cấp, sinh hoạt phí) thuộc đối tượng áp dụng chế độ tiền thưởng.
Nghị định quy định mức lương cơ sở dùng làm căn cứ:
a) Tính mức lương trong các bảng lương, mức phụ cấp và thực hiện các chế độ khác theo quy định của pháp luật đối với các đối tượng quy định tại Điều 2 Nghị định này;
b) Tính mức hoạt động phí, sinh hoạt phí theo quy định của pháp luật;
c) Tính các khoản trích và các chế độ được hưởng theo mức lương cơ sở.
Từ ngày 01/7/2026, mức lương cơ sở là 2.530.000 đồng/tháng.
Đối với các cơ quan, đơn vị đang được áp dụng các cơ chế tài chính, thu nhập đặc thù ở trung ương, theo điểm c khoản 6.2 Nghị quyết số 142/2024/QH15 ngày 29/6/2024 của kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XV thì: Thực hiện bảo lưu phần chênh lệch giữa tiền lương và thu nhập tăng thêm tháng 6/2026 của cán bộ, công chức, viên chức với tiền lương từ ngày 01/7/2026 sau khi sửa đổi hoặc bãi bỏ cơ chế tài chính và thu nhập đặc thù.
Trong thời gian chưa sửa đổi hoặc bãi bỏ các cơ chế này thì thực hiện mức tiền lương và thu nhập tăng thêm hằng tháng tính theo mức lương cơ sở 2.530.000 đồng/tháng theo cơ chế đặc thù từ ngày 01/7/2026 bảo đảm không vượt quá mức tiền lương và thu nhập tăng thêm được hưởng tháng 6/2026 (không bao gồm phần tiền lương và thu nhập tăng thêm do điều chỉnh hệ số tiền lương ngạch, bậc khi nâng ngạch, nâng bậc).
Đối với các cơ quan, đơn vị đang bảo lưu phần chênh lệch giữa tiền lương và thu nhập tăng thêm tháng 6/2024 với tiền lương từ ngày 01/7/2024 do sửa đổi hoặc bãi bỏ cơ chế tài chính và thu nhập đặc thù thì thực hiện giảm phần chênh lệch bảo lưu tương ứng với tỷ lệ tăng lương cơ sở từ ngày 01/7/2026.
Trường hợp tính theo nguyên tắc trên, nếu mức tiền lương và thu nhập tăng thêm từ ngày 01/7/2026 thấp hơn mức tiền lương theo quy định chung thì thực hiện chế độ tiền lương theo quy định chung.
Chính phủ điều chỉnh mức lương cơ sở sau khi báo cáo Quốc hội xem xét, quyết định phù hợp khả năng ngân sách nhà nước, chỉ số giá tiêu dùng và tốc độ tăng trưởng kinh tế của đất nước.
Nghị định quy định chế độ tiền thưởng được thực hiện trên cơ sở thành tích công tác đột xuất và kết quả theo dõi, đánh giá, xếp loại chất lượng hằng năm đối với các đối tượng quy định tại khoản 2 Điều 2 Nghị định này.
Chế độ tiền thưởng được dùng để thưởng đột xuất theo thành tích công tác và thưởng định kỳ hằng năm căn cứ theo kết quả theo dõi, đánh giá hằng quý, 06 tháng, xếp loại chất lượng hằng năm của từng người trong danh sách trả lương của cơ quan, đơn vị và được thực hiện theo Quy chế tiền thưởng do người đứng đầu đơn vị lực lượng vũ trang theo quy định của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an; người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền quản lý hoặc được phân cấp thẩm quyền quản lý cán bộ, công chức và người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập xây dựng, ban hành. Quy chế tiền thưởng được gửi cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp để quản lý, kiểm tra và thực hiện công khai trong cơ quan, đơn vị.
Quy chế tiền thưởng của cơ quan, đơn vị phải bao gồm những nội dung sau:
a) Phạm vi và đối tượng áp dụng;
b) Tiêu chí thưởng theo thành tích công tác đột xuất và căn cứ theo kết quả theo dõi, đánh giá hằng quý, 06 tháng, xếp loại chất lượng hằng năm của người hưởng lương trong cơ quan, đơn vị;
c) Mức tiền thưởng cụ thể đối với từng trường hợp, không nhất thiết phải gắn với mức lương theo hệ số lương của từng người;
d) Quy trình, thủ tục xét thưởng;
đ) Các quy định khác theo yêu cầu quản lý của cơ quan, đơn vị (nếu cần thiết).
Quỹ tiền thưởng hằng năm nằm ngoài quỹ khen thưởng theo quy định của Luật Thi đua, khen thưởng, được xác định bằng 10% tổng quỹ tiền lương (không bao gồm phụ cấp) theo chức vụ, chức danh, ngạch, bậc và cấp bậc quân hàm của các đối tượng trong danh sách trả lương của cơ quan, đơn vị.
Đến hết năm ngân sách, kể cả thời gian chỉnh lý quyết toán, nếu cơ quan, đơn vị không sử dụng hết quỹ tiền thưởng của năm thì huỷ dự toán (đối với trường hợp dư dự toán) hoặc nộp ngân sách nhà nước (đối với trường hợp dư tạm ứng).
Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026.
Chính phủ ban hành Nghị định số 162/2026/NĐ-CP ngày 15/5/2026 điều chỉnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hằng tháng.

Tăng 8% lương hưu và trợ cấp từ ngày 01/7/2026.
Nghị định này điều chỉnh mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hằng tháng đối với các đối tượng hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hằng tháng trước ngày 01/7/2026, bao gồm (*):
a) Cán bộ, công chức, công nhân, viên chức và người lao động (kể cả người có thời gian tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, người nghỉ hưu từ quỹ bảo hiểm xã hội nông dân Nghệ An chuyển sang theo Quyết định số 41/2009/QĐ-TTg về việc chuyển bảo hiểm xã hội nông dân Nghệ An sang bảo hiểm xã hội tự nguyện); quân nhân, công an nhân dân và người làm công tác cơ yếu đang hưởng lương hưu hằng tháng.
b) Cán bộ xã, phường, thị trấn quy định tại Nghị định số 33/2023/NĐ-CP quy định về cán bộ, công chức cấp xã và người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố, Nghị định số 34/2019/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số quy định về cán bộ, công chức cấp xã và người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố, Nghị định số 92/2009/NĐ-CP về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, Nghị định số 121/2003/NĐ-CP về chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và Nghị định số 09/1998/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định số 50/CP ngày 26/7/1995 của Chính phủ về chế độ sinh hoạt phí đối với cán bộ xã, phường, thị trấn đang hưởng lương hưu, trợ cấp hằng tháng.
c) Người đang hưởng trợ cấp mất sức lao động hằng tháng theo quy định của pháp luật; người đang hưởng trợ cấp hằng tháng theo Quyết định số 91/2000/QĐ-TTg về việc trợ cấp cho những người đã hết tuổi lao động tại thời điểm ngừng hưởng trợ cấp mất sức lao động hằng tháng, Quyết định số 613/QĐ-TTg ngày 06/5/2010 về việc trợ cấp hằng tháng cho những người có từ đủ 15 năm đến dưới 20 năm công tác thực tế đã hết thời hạn hưởng trợ cấp mất sức lao động; công nhân cao su đang hưởng trợ cấp hằng tháng theo Quyết định số 206-CP ngày 30/5/1979 của Hội đồng Chính phủ về chính sách đối với công nhân mới giải phóng làm nghề nặng nhọc, có hại sức khỏe nay già yếu phải thôi việc.
d) Cán bộ xã, phường, thị trấn đang hưởng trợ cấp hằng tháng theo Quyết định số 130-CP ngày 20/6/1975 của Hội đồng Chính phủ bổ sung chính sách, chế độ đãi ngộ đối với cán bộ xã và Quyết định số 111-HĐBT ngày 13/10/1981 của Hội đồng Bộ trưởng về việc sửa đổi, bổ sung một số chính sách, chế độ đối với cán bộ xã, phường.
đ) Quân nhân đang hưởng chế độ trợ cấp hằng tháng theo Quyết định số 142/2008/QĐ-TTg về thực hiện chế độ đối với quân nhân tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước có dưới 20 năm công tác trong quân đội đã phục viên, xuất ngũ về địa phương, được sửa đổi, bổ sung bởi Quyết định số 38/2010/QĐ-TTg và Quyết định số 22/2025/QĐ-TTg.
e) Công an nhân dân đang hưởng trợ cấp hằng tháng theo Quyết định số 53/2010/QĐ-TTg quy định về chế độ đối với cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân tham gia kháng chiến chống Mỹ có dưới 20 năm công tác trong Công an nhân dân đã thôi việc, xuất ngũ về địa phương.
g) Quân nhân, công an nhân dân, người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân, công an nhân dân đang hưởng trợ cấp hằng tháng theo Quyết định số 62/2011/QĐ-TTg về chế độ, chính sách đối với đối tượng tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, làm nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia, giúp bạn Lào sau ngày 30/4/1975 đã phục viên, xuất ngũ, thôi việc, được sửa đổi, bổ sung bởi Quyết định số 22/2025/QĐ-TTg.
h) Người đang hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hằng tháng.
i) Người đang hưởng trợ cấp hằng tháng theo quy định tại Điều 23 của Luật Bảo hiểm xã hội số 41/2024/QH15.
Các đối tượng quy định tại các điểm a, b, c, d, đ, e và g nêu trên nghỉ hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hằng tháng trước ngày 01/01/1995 (bao gồm những người đã nghỉ hưởng trợ cấp mất sức lao động trước ngày 01/01/1995, sau đó được tiếp tục hưởng trợ cấp theo Quyết định số 91/2000/QĐ-TTg và Quyết định số 613/QĐ-TTg), sau khi thực hiện điều chỉnh có mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hằng tháng thấp hơn 3.800.000 đồng/tháng (**).
Từ ngày 01/7/2026, điều chỉnh tăng thêm 8% trên mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hằng tháng của tháng 6/2026 đối với các đối tượng quy định tại (*).
Từ ngày 01/7/2026, người đang hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hằng tháng theo quy định tại (**), sau khi điều chỉnh, có mức hưởng thấp hơn 3.800.000 đồng/tháng thì được điều chỉnh như sau:
Tăng thêm 300.000 đồng/người/tháng đối với những người có mức hưởng bằng hoặc thấp hơn 3.500.000 đồng/người/tháng;
Tăng lên bằng 3.800.000 đồng/người/tháng đối với những người có mức hưởng cao hơn 3.500.000 đồng/người/tháng nhưng thấp hơn 3.800.000 đồng/người/tháng.
Mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hằng tháng sau khi điều chỉnh nêu trên là căn cứ để tính điều chỉnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hằng tháng ở những lần điều chỉnh tiếp theo.
Chính phủ ban hành Nghị định số 155/2026/NĐ-CP ngày 15/5/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 124/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Khiếu nại.

Nghị định 155/2026/NĐ-CP đã bổ sung Điều 3a (vào sau Điều 3 Nghị định số 124/2020/NĐ-CP) để định nghĩa rõ về vụ việc phức tạp. Theo đó, vụ việc phức tạp trong giải quyết khiếu nại là vụ việc thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Khiếu nại về một nội dung nhưng phải xác minh từ 02 địa điểm trở lên;
b) Khiếu nại có từ 02 nội dung phải xác minh trở lên;
c) Nhiều người khiếu nại về cùng một nội dung hoặc nội dung khiếu nại liên quan đến quyền và lợi ích của nhiều người;
d) Người khiếu nại ở nước ngoài hoặc là người nước ngoài; hành vi bị khiếu nại xảy ra ở nước ngoài; nội dung khiếu nại phải xác minh ở nước ngoài;
đ) Nội dung khiếu nại liên quan đến trách nhiệm quản lý của nhiều cơ quan, tổ chức;
e) Các cơ quan, tổ chức có liên quan trong quá trình giải quyết khiếu nại còn ý kiến khác nhau;
g) Có tài liệu, chứng cứ mâu thuẫn với nhau cần có thời gian kiểm tra, xác minh, đánh giá hoặc tham khảo ý kiến của các cơ quan chuyên môn.
Việc xác định vụ việc phức tạp phải được thể hiện bằng văn bản và lưu trong hồ sơ giải quyết khiếu nại.
Ngoài ra, so với Nghị định 124/2020/NĐ-CP, Nghị định 155/2026/NĐ-CP đặt ra một khung pháp lý hiện đại hơn khi bổ sung Điều 30a quy định việc ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong giải quyết khiếu nại. Cụ thể:
Tại Điều 30a quy định: cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số để cập nhật, theo dõi, quản lý, lưu trữ, kết nối, chia sẻ dữ liệu giải quyết khiếu nại theo quy định của pháp luật.
Thông tin, dữ liệu về quá trình xử lý, giải quyết khiếu nại được cập nhật kịp thời trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về tiếp công dân, xử lý đơn, giải quyết khiếu nại, tố cáo.
Việc ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong giải quyết khiếu nại phải bảo đảm tính công khai, minh bạch, bảo đảm an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu cá nhân và tuân thủ các quy định về bảo vệ bí mật nhà nước.
Đáng chú ý, Nghị định 155/2026/NĐ-CP bổ sung Mục 2a (gồm 2 Điều 28a, 28b) vào sau Mục 2 Chương IV Nghị định số 124/2020/NĐ-CP để hướng dẫn chi tiết Điều 11a của Luật Khiếu nại quy định về tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết khiếu nại.
Điều 28a của Mục 2a định nghĩa rõ các sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan bao gồm nhưng không giới hạn những trường hợp sau: (i) Thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh, địch họa; (ii) tai nạn, ốm đau, đi công tác, học tập ở nơi xa; (iii) hồ sơ, tài liệu liên quan trực tiếp đến vụ việc khiếu nại đang bị cơ quan có thẩm quyền tạm giữ, niêm phong.
Bên cạnh đó, tại Điều 28b của Mục này còn quy định rõ quy trình khôi phục giải quyết khiếu nại. Theo đó, khi căn cứ tạm đình chỉ không còn, người giải quyết khiếu nại phải ban hành ngay quyết định tiếp tục giải quyết khiếu nại trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày ban hành. Thời hạn giải quyết khiếu nại tiếp tục được tính từ ngày ban hành quyết định tiếp tục giải quyết khiếu nại.
Nghị định 155/2026/NĐ-CP đã sửa đổi, bổ sung các quy định tại Điều 40, Điều 41 Nghị định số 124/2020/NĐ-CP nhằm chi tiết hóa các hình thức xử lý kỷ luật đối với người xác minh và người giải quyết khiếu nại. Theo đó, quy định cụ thể 4 hình thức kỷ luật (khiển trách, cảnh cáo, cách chức, buộc thôi việc) cho các hành vi như: sách nhiễu, bao che người bị khiếu nại, đe dọa trả thù, cố ý làm sai lệch hồ sơ hoặc không thụ lý vụ việc đủ điều kiện thụ lý…
Đồng thời, Nghị định 155/2026/NĐ-CP cũng bổ sung Điều 41a vào sau Điều 41 Nghị định 124/2020/NĐ-CP để xử lý kỷ luật cả những người không trực tiếp giải quyết nhưng có hành vi can thiệp trái pháp luật vào quá trình khiếu nại.
Nghị định 155/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026.
Việc rút khiếu nại, tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết khiếu nại, đối thoại đối với vụ việc khiếu nại đã có thông báo thụ lý trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành và chưa ban hành quyết định giải quyết khiếu nại được thực hiện theo quy định tại Nghị định này.
Đối với vụ việc giải quyết khiếu nại vi phạm pháp luật, gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân bị phát hiện trước khi Nghị định này có hiệu lực thi hành và đang được xem xét, giải quyết thì tiếp tục thực hiện việc xem xét giải quyết theo quy định tại Nghị định số 124/2020/NĐ-CP.
Đối với hành vi vi phạm pháp luật về khiếu nại xảy ra trước ngày Nghị định này có hiệu lực đang được xem xét, xử lý và chưa có quyết định xử lý kỷ luật hoặc việc xem xét, xử lý sau ngày Nghị định này có hiệu lực thì áp dụng quy định tại Nghị định này hoặc quy định của Nghị định số 124/2020/NĐ-CP nếu có lợi cho cán bộ, công chức có hành vi vi phạm bị xử lý kỷ luật.
Chính phủ ban hành Nghị định số 158/2026/NĐ-CP ngày 15/5/2026 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Tương trợ tư pháp về dân sự. Trong đó, đáng chú ý là các quy định về thủ tục, chi phí và trách nhiệm của các cơ quan liên quan trong việc thực hiện tương trợ tư pháp về dân sự của Việt Nam.

Trình tự, thủ tục thực hiện tương trợ tư pháp về dân sự của Việt Nam.
Nghị định gồm 5 chương, 24 điều hướng dẫn chi tiết các quy định về hồ sơ, trình tự, thủ tục thực hiện tương trợ tư pháp về dân sự và các biện pháp quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.
Đối tượng áp dụng là các cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam; cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài có liên quan đến tương trợ tư pháp về dân sự giữa Việt Nam với nước ngoài.
Nghị định quy định người có nghĩa vụ nộp chi phí thực tế thực hiện tương trợ tư pháp về dân sự (người có nghĩa vụ) của Việt Nam bao gồm:
a) Đương sự quy định tại Điều 152 và Điều 153 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đối với các yêu cầu tống đạt văn bản tố tụng, thu thập chứng cứ để giải quyết vụ việc dân sự và tống đạt quyết định kháng nghị, quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm;
b) Cơ quan, tổ chức, cá nhân có yêu cầu thi hành bản án, quyết định theo quy định của Luật Thi hành án dân sự làm phát sinh yêu cầu tương trợ tư pháp về dân sự ra nước ngoài; cơ quan thi hành án dân sự trong trường hợp cơ quan thi hành án dân sự chủ động ra quyết định thi hành án.
Người có nghĩa vụ nộp trực tiếp các chi phí thực tế thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp về dân sự của Việt Nam phát sinh trong nước cho người cung cấp dịch vụ.
Đối với chi phí thực tế thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp về dân sự của Việt Nam do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài thu:
a) Trường hợp chi phí thực tế thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp về dân sự của Việt Nam đã xác định được theo quy định của phía nước ngoài tại thời điểm lập hồ sơ, người có nghĩa vụ nộp chi phí này cho cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài phù hợp với quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc gia liên quan.
b) Trường hợp chi phí thực tế thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp về dân sự của Việt Nam chưa xác định được tại thời điểm lập hồ sơ, người có nghĩa vụ nộp tạm ứng 3 triệu đồng tại cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố nơi cơ quan có thẩm quyền yêu cầu tương trợ tư pháp về dân sự của Việt Nam có trụ sở. Cơ quan thi hành án dân sự sử dụng số tiền tạm ứng này để thanh toán chi phí thực tế thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp về dân sự của Việt Nam theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài và các chi phí liên quan đến việc chuyển tiền ra nước ngoài.
Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chi tiết về việc thu, nộp chi phí thực tế thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp về dân sự của Việt Nam.
Nghị định quy định hồ sơ hợp lệ phải đáp ứng các điều kiện sau:
1. Đủ thành phần, số lượng và bản dịch theo quy định tại Điều 17 của Luật Tương trợ tư pháp về dân sự; bản dịch phải được chứng thực chữ ký của người dịch hợp lệ theo quy định của pháp luật.
2. Văn bản yêu cầu tương trợ tư pháp về dân sự của Việt Nam là bản chính, lập đúng mẫu văn bản do Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định.
3. Giấy tờ quy định tại điểm b và điểm d khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 17 của Luật Tương trợ tư pháp về dân sự là bản chính hoặc bản sao. Đối với các giấy tờ không phải của cơ quan có thẩm quyền lập hoặc xác nhận thì cơ quan có thẩm quyền lập hồ sơ phải đối chiếu bản sao các giấy tờ này với bản gốc và đóng dấu xác nhận.
4. Hồ sơ phải lập riêng cho từng đương sự, từng địa chỉ, từng phạm vi tương trợ tư pháp về dân sự.
Trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ yêu cầu tương trợ tư pháp về dân sự của Việt Nam, Bộ Tư pháp có trách nhiệm vào sổ hồ sơ yêu cầu tương trợ tư pháp về dân sự của Việt Nam, kiểm tra điều kiện hợp lệ của hồ sơ theo quy định và thực hiện các công việc sau đây:
Trường hợp hồ sơ hợp lệ thì thực hiện một trong các thủ tục sau:
a) Chuyển hồ sơ thông qua Cơ quan trung ương của nước được yêu cầu theo Công ước La Hay năm 1965 về tống đạt ra nước ngoài giấy tờ tư pháp và ngoài tư pháp trong lĩnh vực dân sự hoặc thương mại (Công ước Tống đạt), Công ước La Hay năm 1970 về thu thập chứng cứ ở nước ngoài trong lĩnh vực dân sự hoặc thương mại hoặc cho cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài theo quy định của điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước đó là thành viên;
b) Chuyển hồ sơ cho Bộ Ngoại giao để chuyển qua kênh ngoại giao trong trường hợp quy định tại điểm a khoản 2 Điều 19 của Luật Tương trợ tư pháp về dân sự.
Trường hợp hồ sơ không hợp lệ, Bộ Tư pháp đề nghị cơ quan, người có thẩm quyền của Việt Nam bổ sung, hoàn thiện hồ sơ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 19 của Luật Tương trợ tư pháp về dân sự.
Trường hợp hồ sơ thuộc quy định tại điểm c khoản 2 Điều 19 của Luật Tương trợ tư pháp về dân sự, Bộ Tư pháp trả lại hồ sơ cho cơ quan, người có thẩm quyền của Việt Nam đã gửi và nêu rõ lý do.
Bộ Ngoại giao có trách nhiệm vào sổ hồ sơ yêu cầu tương trợ tư pháp về dân sự của Việt Nam và chuyển hồ sơ cho cơ quan đại diện nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài (cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài) trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ yêu cầu tương trợ tư pháp về dân sự do Bộ Tư pháp chuyển đến.
Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài có trách nhiệm vào sổ hồ sơ yêu cầu tương trợ tư pháp về dân sự của Việt Nam và chuyển hồ sơ cho cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ yêu cầu tương trợ tư pháp về dân sự.
Nghị định có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2026.
Chính phủ ban hành Nghị định số 160/2026/NĐ-CP ngày 15/5/2026 quy định cơ sở dữ liệu về thi hành án hình sự. Trong đó, đáng chú ý là các quy định liên quan đến cách thức chia sẻ, kết nối cung cấp thông tin cơ sở dữ liệu về thi hành án hình sự.

Chậm nhất đến ngày 01/7/2027, việc kết nối, chia sẻ dữ liệu bắt buộc giữa các cơ quan, tổ chức được thực hiện thống nhất thông qua nền tảng chia sẻ, điều phối dữ liệu.
Nghị định này gồm 5 chương, 21 điều quy định chi tiết khoản 2 Điều 154 Luật Thi hành án hình sự về xây dựng, thu thập, lưu trữ, xử lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng cơ sở dữ liệu về thi hành án hình sự.
1. Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Công an; Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Quốc phòng.
2. Trại giam; trại tạm giam; cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh; cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu; ủy ban nhân dân cấp xã; đơn vị quân đội cấp trung đoàn và tương đương; Công an cấp xã.
3. Cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến việc cung cấp, trao đổi, khai thác, sử dụng thông tin, dữ liệu về thi hành án hình sự theo quy định của pháp luật.
Nghị định quy định Bộ Công an chủ trì xây dựng, quản lý và vận hành cơ sở dữ liệu về thi hành án hình sự đồng bộ, tập trung, thống nhất, dùng chung trên phạm vi toàn quốc; tổ chức đầu mối quản trị, vận hành tập trung cơ sở dữ liệu về thi hành án hình sự.
Bộ Quốc phòng, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao và cơ quan, đơn vị có liên quan có trách nhiệm chuẩn hóa, cung cấp và cập nhật, đồng bộ, kết nối, chia sẻ thông tin, dữ liệu thuộc phạm vi quản lý vào cơ sở dữ liệu về thi hành án hình sự theo quy định của pháp luật.
Cơ sở dữ liệu về thi hành án hình sự được xây dựng theo tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về công nghệ thông tin, bảo đảm khả năng tích hợp, liên thông và vận hành ổn định giữa các hệ thống thông tin.
Thiết kế cấu trúc của cơ sở dữ liệu về thi hành án hình sự phải có tính tương thích, khả năng tích hợp, chia sẻ thông tin, bảo đảm việc mở rộng, nâng cấp và phát triển.
Việc xây dựng cơ sở dữ liệu về thi hành án hình sự được thực hiện thông qua các hoạt động sau đây:
a) Thu thập thông tin, dữ liệu từ các nguồn quy định tại Điều 9 Nghị định này;
b) Kiểm tra, xác thực, phân loại và chuẩn hóa dữ liệu theo tiêu chuẩn, quy chuẩn dữ liệu;
c) Số hóa hồ sơ, tài liệu nghiệp vụ về thi hành án hình sự;
d) Nhập và cập nhật dữ liệu vào hệ thống cơ sở dữ liệu về thi hành án hình sự;
đ) Kiểm tra, đối chiếu dữ liệu với hồ sơ, tài liệu nghiệp vụ để bảo đảm tính chính xác, đầy đủ của dữ liệu;
e) Quản lý, bảo trì, nâng cấp hệ thống cơ sở dữ liệu để bảo đảm hoạt động ổn định, liên tục.
Việc xây dựng, quản lý, vận hành cơ sở dữ liệu về thi hành án hình sự phải phù hợp với Khung kiến trúc dữ liệu quốc gia, Khung quản trị, quản lý dữ liệu quốc gia, Từ điển dữ liệu dùng chung và quy định của pháp luật về kết nối, chia sẻ dữ liệu.
Nghị định quy định việc kết nối, chia sẻ thông tin, dữ liệu được thực hiện thông qua nền tảng chia sẻ, điều phối dữ liệu, nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu quốc gia, giao diện lập trình ứng dụng hoặc phương thức kỹ thuật khác theo quy định của pháp luật; bảo đảm đúng phạm vi, mục đích, thẩm quyền, an ninh mạng, an ninh dữ liệu, bảo vệ dữ liệu cá nhân và bảo vệ bí mật nhà nước.
Việc kết nối, cung cấp thông tin, dữ liệu của các tổ chức, cá nhân cho cơ quan quản lý nhà nước thực hiện thông qua hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu về thi hành án hình sự theo quy định của pháp luật.
Việc kết nối và chia sẻ dữ liệu về thi hành án hình sự phải bảo đảm các yêu cầu sau đây:
a) Dữ liệu được chia sẻ theo đúng phạm vi, mục đích và thẩm quyền của cơ quan, tổ chức khai thác dữ liệu;
b) Việc chia sẻ dữ liệu được thực hiện thông qua các phương thức kết nối điện tử, bảo đảm khả năng truy cập, trao đổi và đồng bộ dữ liệu giữa các hệ thống thông tin;
c) Dữ liệu được kiểm tra, xác thực trước khi thực hiện chia sẻ để bảo đảm tính chính xác và toàn vẹn của dữ liệu;
d) Việc chia sẻ dữ liệu phải bảo đảm tuân thủ quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước, bảo vệ dữ liệu cá nhân và an ninh mạng.
Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2026.
Chậm nhất đến ngày 01/7/2027, việc kết nối, chia sẻ dữ liệu bắt buộc giữa các cơ quan, tổ chức quy định tại khoản 4 Điều 14 Nghị định này được thực hiện thống nhất thông qua nền tảng chia sẻ, điều phối dữ liệu.
Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng ký Quyết định số 876/QĐ-TTg ngày 15/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược tiêu chuẩn quốc gia giai đoạn 2026-2035 (Chiến lược).

Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược tiêu chuẩn quốc gia giai đoạn 2026-2035.
Mục tiêu của Chiến lược nhằm xây dựng hệ thống Tiêu chuẩn quốc gia (TCVN) hiện đại, mở, hài hòa tiêu chuẩn quốc tế, đóng vai trò là hạ tầng thể chế mềm của quốc gia, là công cụ thực thi chính sách công và nền tảng kỹ thuật cho quản lý nhà nước. Thúc đẩy để tiêu chuẩn trở thành động lực đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và phát triển bền vững.
Hình thành hệ sinh thái tiêu chuẩn đồng bộ với hoạt động đo lường và hoạt động quản lý chất lượng. Tăng cường sự tham gia của doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học và các tổ chức xã hội trong xây dựng, áp dụng tiêu chuẩn. Nâng cao năng lực thể chế, nguồn nhân lực và hợp tác quốc tế để khẳng định vai trò chủ động của Việt Nam trong kiến tạo tiêu chuẩn toàn cầu và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Mục tiêu giai đoạn đến năm 2030, phấn đấu 75% TCVN hài hòa với tiêu chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn khu vực hoặc tiêu chuẩn nước ngoài của các nước phát triển.
Phấn đấu 100% lĩnh vực trong Khung phân loại TCVN tương thích với phân loại cấp 2 của Khung phân loại tiêu chuẩn quốc tế ICS của Tổ chức Tiêu chuẩn hóa quốc tế (ISO).
Đối với lĩnh vực tiêu chuẩn có liên quan đến phát triển công nghệ chiến lược, sản phẩm công nghệ chiến lược, các ngành kinh tế trọng điểm của Việt Nam phấn đấu có đại diện tham gia vào 60% các Ban kỹ thuật tương ứng của ISO, IEC, ITU,...; Ban kỹ thuật TCVN có đại diện tham gia vào Ban kỹ thuật của IEC trong một số lĩnh vực có liên quan đến phát triển đô thị thông minh.
Phấn đấu trung bình hằng năm có 50.000 chứng nhận phù hợp tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật góp phần nâng cao năng suất, chất lượng và năng lực cạnh tranh của sản phẩm, hàng hóa Việt Nam.
Phấn đấu 50% TCVN xây dựng mới có sự tham gia của doanh nghiệp, hiệp hội, viện nghiên cứu và các trường đại học.
Triển khai chương trình hỗ trợ tối thiểu 50.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) tiếp cận và áp dụng TCVN thông qua các cơ chế hỗ trợ tài chính, đào tạo tại chỗ và tư vấn theo ngành.
Phấn đấu đào tạo 300 chuyên gia đủ năng lực tham gia xây dựng tiêu chuẩn quốc tế hoặc tham gia các Ban kỹ thuật của các tổ chức tiêu chuẩn quốc tế, tổ chức tiêu chuẩn hóa nước ngoài của các nước phát triển.
Đào tạo, bồi dưỡng kiến thức chuyên môn về tiêu chuẩn hóa cho ít nhất 5.000 lượt công chức, viên chức và người lao động trong các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, đặc biệt trong các ngành, lĩnh vực trọng điểm.
Tích hợp nội dung đào tạo về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng vào chương trình giảng dạy chính quy tại ít nhất 50 trường đại học và cơ sở giáo dục nghề nghiệp thuộc khối ngành kỹ thuật, công nghệ và kinh tế.
Rà soát, hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn quốc gia trong các lĩnh vực công nghệ số và dữ liệu; thúc đẩy hài hòa với các tiêu chuẩn quốc tế, khu vực và nước ngoài có liên quan, đặc biệt trong các lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo (AI), Internet vạn vật (IoT), dữ liệu lớn, mã hóa, trung tâm dữ liệu và các công nghệ số mới.
Xây dựng định hướng áp dụng tiêu chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn khu vực, tiêu chuẩn nước ngoài và TCVN phục vụ phát triển công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược, trong đó xây dựng và công bố khoảng 100 TCVN mới góp phần tạo nền tảng kỹ thuật cho phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh.
Tăng cường năng lực tham gia xây dựng tiêu chuẩn quốc tế trong các lĩnh vực Việt Nam có nhu cầu và lợi thế; bảo đảm 100% các lĩnh vực công nghệ trọng điểm có Ban kỹ thuật TCVN tương ứng với các Ban kỹ thuật của các tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế.
Đảm nhiệm vai trò chủ trì, đồng chủ trì, thư ký từ 01 đến 02 Ban kỹ thuật hoặc nhóm công tác của các tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế trong các lĩnh vực ưu tiên mà Việt Nam có lợi thế.
Phấn đấu chủ trì hoặc đồng chủ trì từ 2 đến 3 dự án xây dựng tiêu chuẩn quốc tế đối với các lĩnh vực có liên quan đến phát triển công nghệ chiến lược, sản phẩm công nghệ chiến lược, các ngành kinh tế trọng điểm của Việt Nam.
Ký kết và triển khai ít nhất 20 thỏa thuận hợp tác tiêu chuẩn hóa với các quốc gia và tổ chức quốc tế.
Bảo đảm 100% nghĩa vụ thông báo và hỏi đáp về hàng rào kỹ thuật trong thương mại theo cam kết WTO/TBT, EVFTA và CPTPP được thực thi đúng hạn.
Thiết lập cơ chế phân tích tác động kỹ thuật của TCVN và quy chuẩn kỹ thuật đối với thương mại xuất nhập khẩu; xây dựng cơ sở dữ liệu về rào cản kỹ thuật thương mại của các thị trường trọng điểm để hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu.
Mục tiêu đến năm 2035, phấn đấu 80% TCVN được hài hòa với tiêu chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn khu vực hoặc tiêu chuẩn nước ngoài của các nước phát triển nhằm nâng cao khả năng tiếp cận thị trường quốc tế của sản phẩm, hàng hóa Việt Nam.
Phấn đấu 60% số TCVN được xây dựng trên cơ sở nhu cầu thực tiễn của thị trường trọng điểm.
Phấn đấu 30% TCVN mới được xây dựng trong giai đoạn phục vụ các lĩnh vực công nghệ mới đặc biệt là công nghệ chiến lược, kinh tế số, kinh tế xanh và phát triển bền vững.
Nâng cao tiêu chuẩn thông qua đổi mới công nghệ. Thiết lập cơ chế liên kết giữa các dự án khoa học và công nghệ lớn với công tác tiêu chuẩn hóa. Phấn đấu 10% nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo góp phần hình thành các TCVN.
Đối với lĩnh vực tiêu chuẩn có liên quan đến phát triển công nghệ chiến lược, sản phẩm công nghệ chiến lược, các ngành kinh tế trọng điểm của Việt Nam phấn đấu có đại diện tham gia vào 100% các Ban kỹ thuật tương ứng của ISO, IEC, ITƯ,...
Phấn đấu chủ trì hoặc đồng chủ trì từ 5 đến 10 dự án xây dựng tiêu chuẩn quốc tế đối với các lĩnh vực có liên quan đến phát triển công nghệ chiến lược, sản phẩm công nghệ chiến lược, các ngành kinh tế trọng điểm của Việt Nam.
Phấn đấu trung bình hằng năm có 70.000 chứng nhận phù hợp tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật góp phần nâng cao năng suất, chất lượng và năng lực cạnh tranh của sản phẩm, hàng hóa Việt Nam.
Lồng ghép yêu cầu liên quan đến tiêu chuẩn trong khoảng 70% chiến lược, quy hoạch và chương trình phát triển ngành, lĩnh vực, nhằm phát huy vai trò của TCVN như một công cụ điều phối, dẫn dắt phát triển và tạo động lực cho tăng trưởng bền vững quốc gia.
Hoàn thành lộ trình chuyển đổi toàn bộ hệ thống TCVN sang định dạng có thể đọc được bằng máy (machine-readable) theo chuẩn quốc tế, bảo đảm ít nhất 80% TCVN trong các lĩnh vực ưu tiên được thực hiện theo chuẩn SMART Standards của IEC/ISO, làm nền tảng kỹ thuật cho chuyển đổi số quốc gia, hộ chiếu số sản phẩm và tự động hóa kiểm tra tuân thủ.
Để thực hiện các mục tiêu nêu trên, Quyết định đưa ra 10 nhiệm vụ, giải pháp để các bộ, ngành, địa phương triển khai thực hiện gồm: hoàn thiện thể chế, chính sách và hạ tầng hỗ trợ phát triển TCVN; xây dựng và áp dụng TCVN để thúc đẩy đổi mới công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, phục vụ phát triển công nghiệp và dịch vụ, phát triển đô thị hiện đại và quản lý xã hội, phục vụ tăng trưởng xanh và phát triển bền vững; nâng cao mức độ áp dụng TCVN và hiệu quả thực thi các tiêu chuẩn để hỗ trợ nâng cao năng lực cạnh tranh và hội nhập quốc tế; phát triển đội ngũ chuyên gia và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; thực thi hàng rào kỹ thuật trong thương mại (TBT) và tăng cường minh bạch hóa kỹ thuật; hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận và áp dụng tiêu chuẩn; huy động và sử dụng hiệu quả và nguồn lực tài chính cho hoạt động tiêu chuẩn hóa…
Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu vừa ký Văn bản số 519/TTg-PL ngày 15/5/2026 về việc tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thực hiện Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025.

Bộ trưởng phải trực tiếp chỉ đạo và chịu trách nhiệm toàn diện về chất lượng, tiến độ xây dựng hồ sơ chính sách, dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật; ưu tiên bố trí đầy đủ nguồn lực cho công tác xây dựng pháp luật.
Cụ thể, Phó Thủ tướng yêu cầu Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ thực hiện nghiêm túc, hiệu quả những nhiệm vụ sau đây:
Trực tiếp chỉ đạo và chịu trách nhiệm toàn diện về chất lượng, tiến độ xây dựng hồ sơ chính sách, dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật; ưu tiên bố trí đầy đủ nguồn lực cho công tác xây dựng pháp luật; tổ chức lấy ý kiến, tham vấn chính sách đầy đủ các cơ quan, tổ chức liên quan, đối tượng chịu sự tác động trực tiếp và các chuyên gia, nhà khoa học.
Tập trung chỉ đạo thực hiện nghiêm túc, đầy đủ các quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, trong đó lưu ý một số nội dung cụ thể sau:
Chủ động rà soát, đánh giá tác động thực chất, khách quan đối với từng chính sách, đặc biệt là các chính sách mới phát sinh trong quá trình tiếp thu, chỉnh lý dự án luật; khắc phục tình trạng đánh giá hình thức, đối phó.
Về đề xuất điều chỉnh Chương trình lập pháp hằng năm: Các Bộ, cơ quan ngang Bộ nghiên cứu, rà soát kỹ, bảo đảm nội dung và bố cục Tờ trình đề xuất theo đúng quy định tại khoản 2 Điều 24 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Đồng thời, nội dung trong Tờ trình cần bảo đảm rõ ràng, thống nhất, phù hợp với tính chất, phạm vi điều chỉnh và kết quả nghiên cứu thực tế của từng dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết.
Thời gian trình các đề xuất điều chỉnh Chương trình lập pháp bảo đảm phù hợp với thời gian tổ chức các Phiên họp Chính phủ; việc trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội cần bảo đảm tập trung, thống nhất, tạo thuận lợi cho các cơ quan của Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội trong quá trình xem xét, cho ý kiến.
Về áp dụng quy định tại khoản 2 Điều 26 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật: Việc "ban hành luật, nghị quyết ngay tại kỳ họp Quốc hội đang diễn ra hoặc kỳ họp gần nhất" chỉ áp dụng để giải quyết vấn đề thực sự cấp bách, vướng mắc, bất cập phát sinh từ thực tiễn đối với trường hợp xây dựng luật, nghị quyết có hồ sơ được gửi đến Ủy ban Thường vụ Quốc hội sau thời hạn 45 ngày trước ngày khai mạc kỳ họp Quốc hội.
Về áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn: Chỉ áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn nếu thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 50 hoặc khoản 2 Điều 26 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, trong đó lưu ý "vấn đề cấp bách" quy định tại khoản 2 Điều 26 và "trường hợp cấp bách" quy định tại điểm b khoản 1 Điều 50 của Luật được hiểu là trường hợp cần phải ban hành ngay văn bản quy phạm pháp luật để kịp thời thể chế hóa chủ trương mới của Đảng, yêu cầu, chỉ đạo mới của Lãnh đạo Đảng, Nhà nước và việc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật đó đã được cơ quan có thẩm quyền của Đảng đồng ý.
Hồ sơ dự án, dự thảo xây dựng, ban hành theo trình tự, thủ tục rút gọn phải được gửi đến các cơ quan của Quốc hội để thẩm tra chậm nhất là 07 ngày trước ngày bắt đầu phiên họp Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Về việc nghiên cứu tiếp thu, chỉnh lý dự thảo luật, nghị quyết: Bộ, cơ quan ngang Bộ chủ trì soạn thảo mời đại diện Thường trực cơ quan chủ trì thẩm tra, các cơ quan có liên quan tham gia cuộc họp nghiên cứu tiếp thu, chỉnh lý dự thảo luật, nghị quyết; các cơ quan phải cử đại diện có thẩm quyền tham gia các cuộc họp và tham gia xuyên suốt quá trình để bảo đảm việc tiếp thu, chỉnh lý được liền mạch, thống nhất.
Các ý kiến của đại biểu Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, cơ quan thẩm tra cần được nghiên cứu tiếp thu, giải trình đầy đủ, thấu đáo. Trường hợp còn có ý kiến khác nhau thì phải nêu rõ trong báo cáo của Chính phủ về việc tiếp thu, giải trình và chỉnh lý dự thảo luật, nghị quyết.
Đối với các dự án luật, nghị quyết có nội dung khó, phức tạp, nhạy cảm hoặc còn nhiều ý kiến khác nhau, các bộ phải chủ động thực hiện truyền thông chính sách rộng rãi, giải trình rõ ràng, thuyết phục các điểm mới để tạo sự đồng thuận cao trong xã hội.
Về việc Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến đối với việc tiếp thu, chỉnh lý hoàn thiện dự án luật, nghị quyết: Bộ, cơ quan ngang Bộ chủ trì soạn thảo có trách nhiệm tham mưu xây dựng văn bản để Chính phủ báo cáo, xin ý kiến Ủy ban Thường vụ Quốc hội về những vấn đề quan trọng, vấn đề lớn còn ý kiến khác nhau.
Trường hợp dự án được xây dựng, ban hành theo thủ tục thông thường, chậm nhất 07 ngày trước ngày Quốc hội biểu quyết thông qua, hồ sơ dự án luật, nghị quyết phải được gửi đến Ủy ban Thường vụ Quốc hội, cơ quan thẩm tra để cho ý kiến đối với việc tiếp thu, chỉnh lý dự thảo luật, nghị quyết.
Hồ sơ dự án luật, nghị quyết Chính phủ trình Quốc hội để biểu quyết thông qua gồm: Báo cáo của Chính phủ về việc tiếp thu, giải trình và chỉnh lý dự thảo luật, nghị quyết; Dự thảo luật, nghị quyết đã được tiếp thu, chỉnh lý, hoàn thiện; tài liệu khác (nếu có).
Về việc rà soát văn bản trước khi Quốc hội thông qua: Bộ, cơ quan ngang Bộ thực hiện nghiêm quy định tại điểm b, c khoản 7 Điều 40 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và Điều 21 Nghị định số 78/2025/NĐ-CP ngày 01/4/2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 187/2025/NĐ-CP ngày 01/7/2025; gửi dự thảo luật, nghị quyết đến Bộ Tư pháp để thực hiện rà soát về ngôn ngữ, thể thức, kỹ thuật trình bày văn bản chậm nhất là 07 ngày trước ngày Quốc hội biểu quyết thông qua.
Bộ Tư pháp có trách nhiệm mời Thường trực cơ quan chủ trì thẩm tra, Thường trực Ủy ban Pháp luật và Tư pháp, Văn phòng Quốc hội (nếu có nội dung cần hợp nhất) tham gia cuộc họp; Bộ, cơ quan ngang Bộ chủ trì soạn thảo phải cử Lãnh đạo Bộ phụ trách dự án luật, nghị quyết trực tiếp tham gia cuộc họp để bảo đảm đủ thẩm quyền trong việc trao đổi, thống nhất, chỉnh lý, hoàn thiện dự thảo luật, nghị quyết.
Về rà soát văn bản sau khi được thông qua: Lãnh đạo Bộ, cơ quan ngang Bộ chủ trì soạn thảo, đại diện Bộ Tư pháp có trách nhiệm tham gia rà soát luật, nghị quyết sau khi được Quốc hội thông qua theo chỉ đạo của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với Văn phòng Chính phủ đôn đốc, kiên quyết tham mưu Thủ tướng Chính phủ trả lại hồ sơ hoặc không đưa vào Chương trình Phiên họp Chính phủ đối với các dự án không bảo đảm chất lượng và tiến độ theo yêu cầu của Ủy ban Thường vụ Quốc hội tại Văn bản số 1577/UBTVQH15-PLTP ngày 06/4/2026.
Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan liên quan tổng kết việc thực hiện Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật nhằm phát hiện các khó khăn, vướng mắc trong công tác xây dựng pháp luật để đề xuất sửa đổi Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, trình Chính phủ để trình Quốc hội xem xét, thông qua tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI.
Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu ký Văn bản số 520/TTg-PL ngày 15/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ về việc khẩn trương ban hành các văn bản quy định chi tiết luật, nghị quyết của Quốc hội.

Các Bộ, cơ quan ngang Bộ tổng hợp tình hình xây dựng, trình, ban hành các văn bản quy định chi tiết thuộc trách nhiệm của Bộ, cơ quan ngang Bộ, báo cáo Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ phụ trách vào sáng thứ Hai hằng tuần.
Về việc tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết luật, pháp lệnh, nghị quyết, Thủ tướng Chính phủ đã có chỉ đạo tại Công điện số 36/CĐ-TTg ngày 25/4/2026 và Thông báo số 245/TB-VPCP ngày 12/5/2026.
Tuy nhiên, đến nay một số Bộ, cơ quan ngang Bộ vẫn chưa tuân thủ đúng thời hạn hoàn thành việc xử lý các văn bản quy định chi tiết còn nợ ban hành. Về việc này, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các đồng chí Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ nghiêm túc kiểm điểm trách nhiệm và tập trung chỉ đạo thực hiện ngay những nhiệm vụ sau đây:
Các đồng chí Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ được giao chủ trì soạn thảo các văn bản quy định chi tiết phải trực tiếp (không được ủy quyền cho cấp phó) chỉ đạo việc xây dựng, ban hành và trình ban hành các văn bản quy định chi tiết thuộc trách nhiệm của Bộ, cơ quan ngang Bộ; trực tiếp trao đổi, thống nhất với Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ có liên quan về các nội dung còn ý kiến khác nhau trước khi trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; trực tiếp báo cáo và chịu trách nhiệm toàn diện trước Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về chất lượng, tiến độ trình, ban hành văn bản quy định chi tiết và những vấn đề phát sinh do việc chậm ban hành văn bản quy định chi tiết.
Các đồng chí Phó Thủ tướng Chính phủ theo lĩnh vực được phân công chỉ đạo các đồng chí Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ:
Đối với 19 nghị định, quyết định của Thủ tướng Chính phủ quy định chi tiết các luật, nghị quyết của Quốc hội đã có hiệu lực thi hành từ ngày 01/5/2026 trở về trước (tại Mục A Phụ lục I) và 78 nghị định, quyết định của Thủ tướng Chính phủ quy định chi tiết các luật, nghị quyết của Quốc hội sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 (tại Mục A Phụ lục II), các Bộ, cơ quan ngang Bộ có trách nhiệm: Hoàn thiện hồ sơ, trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chậm nhất trong ngày 16/5/2026 đối với các văn bản chưa trình; khẩn trương tiếp thu ý kiến của Thành viên Chính phủ, ý kiến chỉ đạo của Lãnh đạo Chính phủ đối với các văn bản đã trình; hoàn thiện hồ sơ trình Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ xem xét, ký ban hành.
Đối với 75 thông tư thuộc trách nhiệm ban hành của các Bộ, cơ quan ngang Bộ (tại Mục B Phụ lục I và Mục B Phụ lục II): Giao đồng chí Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ tập trung chỉ đạo, khẩn trương ban hành và chịu trách nhiệm cá nhân trước Thủ tướng Chính phủ nếu để xảy ra tình trạng chậm, muộn và không bảo đảm có hiệu lực đồng thời với thời điểm có hiệu lực thi hành của luật, nghị quyết của Quốc hội.
Đối với các văn bản quy định chi tiết các luật, nghị quyết được Quốc hội khóa XVI thông qua tại Kỳ họp thứ nhất: Các đồng chí Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ chủ trì soạn thảo các dự án luật, nghị quyết khẩn trương rà soát các nội dung giao quy định chi tiết và chủ động tổ chức soạn thảo các văn bản quy định chi tiết, bảo đảm chất lượng, thời hạn trình, ban hành theo đúng quy định.
Các Bộ, cơ quan ngang Bộ tổng hợp tình hình xây dựng, trình, ban hành các văn bản quy định chi tiết thuộc trách nhiệm của Bộ, cơ quan ngang Bộ, báo cáo Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ phụ trách vào sáng thứ Hai hằng tuần, đồng thời gửi Bộ Tư pháp để tổng hợp.
Bộ Tư pháp tập trung nguồn lực, tổ chức thẩm định ngay sau khi nhận được đầy đủ hồ sơ dự thảo nghị định, quyết định của Thủ tướng Chính phủ theo đề nghị của các Bộ, cơ quan ngang Bộ; rà soát nội dung tiếp thu, giải trình ý kiến thẩm định của các Bộ, cơ quan ngang Bộ và khẳng định rõ hồ sơ dự thảo văn bản quy phạm pháp luật đủ hoặc chưa đủ điều kiện trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
Đồng thời, tổng hợp tình hình thực hiện của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, báo cáo Thủ tướng Chính phủ, các Phó Thủ tướng Chính phủ vào chiều thứ Hai hằng tuần.
Văn phòng Chính phủ khẩn trương báo cáo Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ cho phép lấy ý kiến Thành viên Chính phủ hoặc tổ chức họp để chỉ đạo việc hoàn thiện dự thảo văn bản.
Đề nghị các đồng chí Phó Thủ tướng Chính phủ theo lĩnh vực được phân công phụ trách trực tiếp chỉ đạo Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ thực hiện nghiêm các chỉ đạo nêu trên; tập trung chỉ đạo việc hoàn thiện và khẩn trương xem xét, ký ban hành các văn bản quy định chi tiết.
Văn phòng Chính phủ theo dõi, đôn đốc các Bộ, cơ quan ngang Bộ thực hiện nghiêm các nhiệm vụ được giao tại Văn bản này.
Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc ký Quyết định số 874/QĐ-TTg ngày 15/5/2026 về việc chuyển nguyên trạng Cụm phà Vàm Cống trực thuộc Khu Quản lý đường bộ IV thuộc Cục Đường bộ Việt Nam, Bộ Xây dựng về Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long quản lý.

Cổng chào bến Phà Vàm Cống.
Quyết định giao Bộ trưởng Bộ Xây dựng và Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long có trách nhiệm chỉ đạo các cơ quan, đơn vị có liên quan tổ chức triển khai công tác bàn giao và tiếp nhận Cụm phà Vàm Cống theo quy định của pháp luật.
Bộ trưởng Bộ Xây dựng có trách nhiệm xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định sửa đổi, bổ sung Quyết định số 208/QĐ-TTg ngày 03/02/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch mạng lưới các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Bộ Giao thông vận tải đến năm 2020, định hướng đến năm 2030./.