Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 16/8/2026
(Chinhphu.vn) - Văn phòng Chính phủ vừa có Thông cáo báo chí chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 16/8/2026.
Thông báo kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng tại cuộc họp về tình hình sản xuất, tiêu thụ và xuất khẩu sầu riêng
Văn phòng Chính phủ có văn bản số 421/TB-VPCP thông báo kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng tại cuộc họp về tình hình sản xuất, tiêu thụ và xuất khẩu sầu riêng.

Các địa phương rà soát, quản lý chặt chẽ diện tích sầu riêng không mở rộng diện tích; tập trung nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất; tổ chức sản xuất gắn với liên kết chuỗi và nhu cầu thị trường.
Thông báo kết luận nêu rõ, công tác quản lý mã số vùng trồng, mã cơ sở đóng gói và hoạt động kiểm nghiệm sầu riêng phục vụ xuất khẩu trong thời gian qua đã được Chính phủ và Bộ Nông nghiệp và Môi trường quan tâm chỉ đạo theo hướng ngày càng chặt chẽ, bài bản về quy trình cấp mã số, rút ngắn thời gian cấp mã, mở rộng hệ thống các phòng kiểm nghiệm để tiệm cận và đáp ứng với yêu cầu của thị trường nhập khẩu.
Chính phủ đã kịp thời ban hành Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP ngày 31 tháng 7 năm 2026, ngay sau khi Nghị quyết được ban hành, Bộ Nông nghiệp và Môi trường và các Bộ, cơ quan, địa phương liên quan đã tổ chức triển khai thực hiện quyết liệt, kịp thời tháo gỡ những vướng mắc, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động sản xuất, tiêu thụ và xuất khẩu sầu riêng.
Tuy nhiên, công tác quản lý nông sản nói chung và sầu riêng nói riêng trong thời gian qua còn tồn tại một số khó khăn, vướng mắc, cần có sự vào cuộc đồng bộ của các bộ, cơ quan, địa phương liên quan. Việc xuất khẩu sầu riêng đặt ra yêu cầu ngày càng phải nâng cao chất lượng, bảo đảm an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc và chủ động đa dạng hóa thị trường, nhất là trong bối cảnh sầu riêng của Việt Nam hiện nay đang bước vào mùa vụ tiêu thụ cao điểm. Đây là ngành hàng phát triển nhanh, có hiệu quả kinh tế cao, đòi hỏi phải có giải pháp căn cơ, lâu dài để tổ chức lại sản xuất, kiểm soát chất lượng, mở rộng thị trường và nâng cao giá trị sản phẩm.
Trong thời gian tới sản xuất và xuất khẩu sầu riêng vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức như: Nhu cầu tiêu dùng của các thị trường lớn truyền thống chưa ổn định; xu hướng bảo hộ thương mại và các rào cản kỹ thuật, áp lực từ tiêu chuẩn xanh, truy xuất nguồn gốc ngày càng cao. Yêu cầu về kiểm dịch thực vật, an toàn thực phẩm ngày càng nghiêm ngặt.
Rà soát, tổ chức lại vùng nguyên liệu sầu riêng trên cơ sở đất đai, nguồn nước, khí hậu, hạ tầng và khả năng liên kết thị trường; hạn chế mở rộng tự phát
Để góp phần nâng cao thu nhập cho người dân, doanh nghiệp, phấn đấu đạt mục tiêu xuất khẩu của ngành sầu riêng và của ngành nông nghiệp năm 2026, Phó Thủ tướng yêu cầu các bộ, cơ quan triển khai các nhiệm vụ, giải pháp chung về tổ chức sản xuất; nâng cao chất lượng, an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc; phát triển hạ tầng sản xuất, bảo quản, chế biến và logistics; đa dạng hóa sản phẩm và thị trường.
Cụ thể, rà soát, tổ chức lại vùng nguyên liệu sầu riêng trên cơ sở đất đai, nguồn nước, khí hậu, hạ tầng và khả năng liên kết thị trường; hạn chế mở rộng tự phát tại khu vực không phù hợp về khí hậu, đất đai, nguồn nước, cơ sở hạ tầng. Tập trung phát triển vùng sản xuất hàng hóa, gắn sản xuất với sơ chế, chế biến, tiêu thụ và xuất khẩu. Khuyến khích Doanh nghiệp xuất khẩu đầu tư trở lại cho vùng nguyên liệu, hỗ trợ kỹ thuật, thiết lập quy trình truy xuất và bảo đảm tuân thủ tiêu chuẩn thị trường. Xây dựng thương hiệu quốc gia cho sầu riêng Việt Nam gắn với chỉ dẫn địa lý, đặc trưng chất lượng và lợi thế mùa vụ.
Các bộ, cơ quan hướng dẫn người sản xuất thực hiện quy trình canh tác an toàn, sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật đúng quy định và đáp ứng yêu cầu của thị trường nhập khẩu. Chủ động xây dựng và triển khai Chương trình giám sát về an toàn thực phẩm, kiểm dịch thực vật đối với sản phẩm sầu riêng xuất khẩu; thiết lập hệ thống giám sát, cảnh báo sớm về dịch hại cây trồng; khoanh vùng xử lý, kiên quyết không cấp phép xuất khẩu và áp dụng biện pháp chế tài quản lý nghiêm ngặt đối với sản phẩm sầu riêng có nguồn gốc từ vùng trồng bị cảnh báo nhiễm Cadimi.
Khuyến khích đầu tư cơ sở sơ chế, bảo quản và chế biến tại các vùng sản xuất tập trung; nâng cao tỷ trọng sản phẩm chế biến, xây dựng chính sách chung về hỗ trợ, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn;
Tiếp tục đàm phán mở rộng thị trường xuất khẩu và tăng thị phần ở các thị trường tiềm năng. Mở rộng xuất khẩu sầu riêng đông lạnh sang các thị trường như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, Canada, Hàn Quốc, Úc... Đẩy mạnh xúc tiến thương mại tại các thị trường tiềm năng như Anh, Pháp, Hà Lan, UAE. Đồng thời tăng cường thông tin, dự báo thị trường để định hướng sản xuất phù hợp.
Tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, triển khai cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói
Phó Thủ tướng giao Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP; kịp thời hỗ trợ, hướng dẫn các địa phương tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, triển khai cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói.
Chủ trì, phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ cập nhật đồng bộ, kết nối liên thông với Cổng thông tin truy xuất nguồn gốc quốc gia do Bộ Khoa học và Công nghệ vận hành;
Nâng cao năng lực, số lượng cơ sở kiểm nghiệm nông sản bảo đảm phù hợp với yêu cầu của Trung Quốc và các nước nhập khẩu, tăng cường phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ hướng dẫn, theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện tại địa phương trong việc cấp phép đăng ký lĩnh vực hoạt động kiểm nghiệm;
Tiếp tục làm việc với Tổng cục Hải quan Trung Quốc (GACC) để đẩy nhanh tiến độ công nhận mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói và phòng kiểm nghiệm; thống nhất quy trình kiểm tra thông quan đối với sản phẩm sầu riêng Việt Nam xuất khẩu vào thị trường Trung Quốc bảo đảm thông thoáng, thuận lợi.
Phó Thủ tướng giao Bộ Công Thương chỉ đạo các cơ quan thương vụ Việt Nam ở nước ngoài chủ động nắm bắt, cập nhật kịp thời các chính sách thương mại, rào cản kỹ thuật và yêu cầu thị trường của nước nhập khẩu. Tăng cường thông tin, cảnh báo sớm và hướng dẫn doanh nghiệp chủ động kế hoạch sản xuất, kiểm nghiệm tổ chức điều tiết tiến độ giao hàng phù hợp nhằm hạn chế tình trạng tập trung hàng hóa, gây quá tải cho hệ thống kiểm nghiệm và cửa khẩu xuất khẩu.
Bộ Khoa học và Công nghệ chỉ đạo các Trung tâm kỹ thuật tiêu chuẩn đo lường chất lượng (Quatest 1, Quatest 2, Quatest 3) và các phòng kiểm nghiệm chuyên ngành trực thuộc khẩn trương khôi phục năng lực, hồ sơ pháp lý phòng kiểm nghiệm, hoàn thiện hồ sơ đăng ký kiểm nghiệm sầu riêng xuất khẩu sang Trung Quốc trong tháng 8 năm 2026 để gửi Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổng hợp, đề nghị phía Trung Quốc xem xét, công nhận;
- Tổng hợp, chia sẻ với Bộ Nông nghiệp và Môi trường về dữ liệu các phòng kiểm nghiệm có đủ năng lực phân tích chỉ tiêu Cd, Vàng O; chỉ đạo, hướng dẫn kiểm tra và hỗ trợ tháo gỡ các khó khăn phát sinh trong quá trình triển khai việc cấp đăng ký lĩnh vực hoạt động kiểm nghiệm tại địa phương.
Bộ Tài chính đơn giản hóa thủ tục hành chính về thuế tạo điều kiện cho hoạt động sản xuất, kinh doanh nông nghiệp và thu hút đầu tư của các thành phần vào kinh tế nông nghiệp, nông thôn; chỉ đạo cơ quan liên quan tạo thuận lợi cho hàng nông sản xuất khẩu nói chung, mặt hàng sầu riêng nói riêng.
Bộ Công an chỉ đạo Công an các địa phương tăng cường nắm tình hình, kịp thời phát hiện, kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn, xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến hoạt động kiểm nghiệm, nhất là vùng cửa khẩu, không để ảnh hưởng xấu đến hoạt động sản xuất, xuất khẩu nông sản.
Triển khai kế hoạch phát triển sản xuất, tiêu thụ và xuất khẩu sầu riêng phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương
Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố chỉ đạo xây dựng và triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP, triển khai kế hoạch phát triển sản xuất, tiêu thụ và xuất khẩu sầu riêng phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương; chuẩn hóa dữ liệu vùng nguyên liệu; đầu tư hạ tầng phục vụ sản xuất, chế biến, bảo quản và logistics; kịp thời tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và người sản xuất.
Rà soát, quản lý chặt chẽ diện tích sầu riêng không mở rộng diện tích; tập trung nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất; tổ chức sản xuất gắn với liên kết chuỗi và nhu cầu thị trường.
Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ nếu để xảy ra ách tắc trong việc cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói, kiểm nghiệm hoặc ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu sầu riêng.
Kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu tại cuộc họp về Đề án "Đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác tổ chức thi hành pháp luật giai đoạn 2026-2031"
Văn phòng Chính phủ vừa có Thông báo số 425/TB-VPCP kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu tại cuộc họp về Đề án "Đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác tổ chức thi hành pháp luật giai đoạn 2026-2031".

Hoàn thiện Đề án “Đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác tổ chức thi hành pháp luật giai đoạn 2026-2031"
Thông báo kết luận nêu rõ, Đề án "Đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác tổ chức thi hành pháp luật giai đoạn 2026-2031" là Đề án có phạm vi rộng, cần đáp ứng yêu cầu đổi mới mạnh mẽ công tác tổ chức thi hành pháp luật, tháo gỡ điểm nghẽn trong thực tiễn theo chỉ đạo của Đồng chí Tổng Bí thư – Trưởng ban Ban chỉ đạo Trung ương về hoàn thiện thể chế và thi hành pháp luật.
Thiết lập cơ chế phản ứng chính sách nhanh, rõ đầu mối, rõ thẩm quyền, rõ trách nhiệm, rõ thời hạn trả lời, xử lý
Phó Thủ tướng giao Bộ trưởng Bộ Tư pháp chỉ đạo việc nghiên cứu, tiếp tục lấy ý kiến các bộ, cơ quan, các chuyên gia, nhà khoa học để chỉnh lý, hoàn thiện Đề án, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ, đặc biệt bảo đảm tính khả thi của Đề án.
Trong đó, Phó Thủ tướng lưu ý rà soát phạm vi, nội dung Đề án, bám sát, thống nhất với chủ trương, định hướng của cấp có thẩm quyền trong quá trình xây dựng các chính sách của dự án Luật về văn bản quy phạm pháp luật do Bộ Tư pháp chủ trì soạn thảo; thể chế hóa tại dự thảo Luật các giải pháp thuộc thẩm quyền của Quốc hội; phân định các giải pháp thuộc thẩm quyền của Chính phủ được đề xuất tại Nghị định quy định chi tiết Luật này và các giải pháp về tổ chức thực hiện tại Đề án; lập bảng đối chiếu từng chính sách, giải pháp, bảo đảm quy định đầy đủ, không bỏ sót, trùng lặp.
Xác định rõ phạm vi, trọng tâm và đánh giá hiệu quả của Đề án; rà soát các nội dung, nhiệm vụ, giải pháp của Đề án để bảo đảm đồng bộ, tránh trùng lặp với các Đề án có liên quan do Bộ Tư pháp chủ trì soạn thảo.
Bộ Tư pháp nghiên cứu hoàn thiện các giải pháp bảo đảm phù hợp với phạm vi, mục tiêu, yêu cầu của Đề án; làm rõ nội hàm các mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp, bảo đảm tính khả thi; bảo đảm các quy định pháp luật được thi hành sau khi ban hành.
Tập trung hoàn thiện các giải pháp đột phá về: kiến trúc dữ liệu và công nghệ trí tuệ nhân tạo; dùng công nghệ và cơ sở dữ liệu để đánh giá; tích hợp bộ tiêu chí đánh giá, không để tình trạng tự đánh giá để bảo đảm tính khách quan; kiểm soát mức độ sẵn sàng thi hành trước khi ban hành; thiết lập cơ chế phản ứng chính sách nhanh, rõ đầu mối, rõ thẩm quyền, rõ trách nhiệm, rõ thời hạn trả lời, xử lý; nghiên cứu xây dựng một cổng thông tin và quy trình xử lý thông tin tiếp nhận, xử lý vướng mắc thuận tiện cho người dân, doanh nghiệp, có cơ sở để tổng hợp các vướng mắc, bất cập.
Phân tích nguyên nhân, đề xuất giải pháp tháo gỡ điểm nghẽn trong công tác thi hành pháp luật
Phó Thủ tướng giao Bộ Tư pháp đánh giá kỹ lưỡng tác động của Đề án, trong đó chú trọng đánh giá các nguồn lực (nhân lực, tài chính…). Về kinh phí thực hiện cho công tác tổ chức thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp chủ trì, làm việc với Bộ Tài chính, Văn phòng Chính phủ và các bộ, cơ quan có liên quan để bảo đảm tính khả thi, đầu tư thích đáng cho công tác thi hành pháp luật.
Đánh giá đầy đủ các hạn chế, bất cập và các nguyên nhân chủ quan, khách quan của công tác tổ chức thi hành pháp luật, nhất là các cơ quan trực tiếp thi hành pháp luật tại cấp tỉnh, cấp xã; phân tích chính xác các nguyên nhân (nguồn lực, phân cấp, dữ liệu, cơ chế phối hợp, trách nhiệm, năng lực cán bộ, kinh phí…) để có giải pháp phù hợp.
Lượng hóa các mục tiêu theo kết quả một cách thực chất để giảm thời gian và chi phí tuân thủ; nâng cao mức độ thống nhất trong áp dụng và tuân thủ pháp luật; xác định tỷ lệ giải quyết vướng mắc được giải quyết dứt điểm; mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp; mỗi chỉ tiêu phải xác định đường cơ sở, phương pháp thực hiện, lộ trình, bảo đảm có công cụ để hoàn thành các bộ chỉ số.
Cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật có trách nhiệm chủ trì việc tổ chức thi hành pháp luật, đánh giá các điểm nghẽn, xử lý vướng mắc. Bộ Tư pháp giúp Chính phủ tổng hợp chung nhận diện các điểm nghẽn, phân tích nguyên nhân, đề xuất các giải pháp tổng thể tháo gỡ điểm nghẽn, tham mưu cho Chính phủ theo dõi chung về công tác thi hành pháp luật. Đồng thời, Bộ Tư pháp chủ động chuẩn bị các điều kiện cần thiết để triển khai ngay Đề án sau khi được ban hành.
Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính, Bộ Khoa học và Công nghệ, Thanh tra Chính phủ, Văn phòng Chính phủ và các Bộ, cơ quan, địa phương có liên quan trình Thủ tướng Chính phủ việc hoàn thiện Đề án đồng thời với quá trình hoàn thiện dự án Luật về văn bản quy phạm pháp luật; đồng thời Bộ Tư pháp chủ động chuẩn bị các điều kiện cần thiết để triển khai ngay Đề án sau khi được ban hành./.