Chính phủ ban hành Nghị định số 75/2026/NĐ-CP ngày 16/3/2026 quy định chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về quản lý, sử dụng kinh phí quản lý hành chính.

Cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về quản lý, sử dụng kinh phí quản lý hành chính.
Nghị định này gồm 3 chương, 15 điều quy định chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về quản lý, sử dụng kinh phí quản lý hành chính của cơ quan nhà nước.
Nghị định này không điều chỉnh đối với chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về quản lý, sử dụng kinh phí của các cơ quan thuộc Đảng Cộng sản Việt Nam; Bộ Quốc phòng; Bộ Công an; các Cơ quan Việt Nam ở nước ngoài được thực hiện theo quy định riêng của Chính phủ; các cơ quan nhà nước có nguồn kinh phí hoạt động theo các Nghị quyết, quyết định và các văn bản khác của cấp có thẩm quyền (nếu có).
Nghị định quy định kinh phí quản lý hành chính giao cho cơ quan thực hiện chế độ tự chủ từ các nguồn sau:
1. Nguồn ngân sách nhà nước cấp chi quản lý hành chính theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước và được xác định để giao tự chủ theo quy định tại Nghị định này.
2. Các nguồn thu hợp pháp theo quy định của pháp luật (trừ trường hợp pháp luật có quy định khác).
Về phạm vi kinh phí chi quản lý hành chính giao thực hiện chế độ tự chủ từ nguồn ngân sách nhà nước, Nghị định quy định như sau:
1. Kinh phí quản lý hành chính giao cho cơ quan thực hiện chế độ tự chủ được xác định và giao hàng năm bao gồm:
a) Khoán quỹ tiền lương và chi hoạt động thường xuyên:
Khoán quỹ tiền lương theo số biên chế được cấp có thẩm quyền giao trên cơ sở vị trí việc làm và cơ cấu ngạch công chức. Quỹ tiền lương khoán bao gồm: Mức lương theo ngạch, bậc, chức vụ, các khoản phụ cấp theo lương và các khoản đóng góp theo quy định.
Khoán chi hoạt động thường xuyên theo số biên chế được cấp có thẩm quyền giao trên cơ sở vị trí việc làm, cơ cấu ngạch công chức và định mức phân bổ dự toán chi quản lý hành chính theo phân cấp ngân sách nhà nước hiện hành.
Số biên chế được giao làm căn cứ thực hiện khoán quỹ tiền lương và chỉ hoạt động thường xuyên là số biên chế được cấp có thẩm quyền giao trên cơ sở vị trí việc làm và cơ cấu ngạch công chức.
Trường hợp cơ quan chưa được phê duyệt vị trí việc làm và cơ cấu ngạch công chức thì thực hiện khoán quỹ tiền lương và chi hoạt động thường xuyên trên cơ sở biên chế được cấp có thẩm quyền giao hoặc tạm giao và phải điều chỉnh sau khi đề án vị trí việc làm được phê duyệt.
Trường hợp lập thêm tổ chức, được giao nhiệm vụ mới hoặc biến động biên chế do sắp xếp bộ máy theo phê duyệt của cấp có thẩm quyền thì số biên chế để làm căn cứ thực hiện khoán quỹ lương và chi hoạt động thường xuyên được thực hiện theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền.
b) Các khoản chi nghiệp vụ đặc thù thường xuyên mà tại thời điểm phân bổ, giao dự toán ngân sách nhà nước hàng năm đã có dự toán chi tiết theo khối lượng công việc và đã có chính sách, chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành, được đơn vị dự toán cấp I tổng hợp trong phương án phân bổ, giao dự toán.
2. Ủy ban nhân dân cấp xã căn cứ quy định tại khoản 1 nêu trên để xác định phạm vi kinh phí quản lý hành chính giao thực hiện chế độ tự chủ cho các cơ quan cấp xã theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 2 Nghị định này, phù hợp với thực tế của địa phương.
Nội dung chi từ nguồn kinh phí quản lý hành chính giao thực hiện chế độ tự chủ gồm:
1. Chi tiền lương, phụ cấp lương, các khoản đóng góp theo lương, chi tiền lương hợp đồng lao động, chi phúc lợi tập thể và các khoản thanh toán khác cho cá nhân theo quy định hiện hành của Chính phủ về cơ chế tiền lương đối với cán bộ, công chức và người lao động trong cơ quan hành chính nhà nước và các quy định của pháp luật có liên quan.
2. Chi thực hiện công tác thi đua, khen thưởng: Thực hiện theo quy định của Luật Thi đua khen thưởng và các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành.
3. Các khoản chi bố trí trong định mức phân bổ dự toán chi thường xuyên theo quy định: Chi thanh toán dịch vụ công cộng, vật tư văn phòng, thông tin, tuyên truyền, liên lạc, hội nghị, tổng kết, công tác phí trong nước, chi cho các đoàn đi công tác nước ngoài và đón các đoàn khách nước ngoài vào Việt Nam; chi phí thuê mướn, chi nghiệp vụ chuyên môn quản lý ngành, lĩnh vực; chi bảo dưỡng, bảo trì, sửa chữa thường xuyên các công trình cơ sở hạ tầng, tài sản phục vụ công tác chuyên môn; chi mua sắm, thay thế trang thiết bị, phương tiện làm việc của cán bộ, công chức theo tiêu chuẩn, định mức và các khoản chi khác bố trí trong định mức phân bổ dự toán chi thường xuyên theo quy định.
4. Các khoản chi nghiệp vụ đặc thù thường xuyên hàng năm theo chức năng, nhiệm vụ đã được cơ quan có thẩm quyền phân bổ, giao dự toán thực hiện chế độ tự chủ theo quy định.
5. Các khoản chi thường xuyên khác theo quy định của pháp luật.
Nghị định quy định cơ quan thực hiện chế độ tự chủ chịu trách nhiệm trước pháp luật về các quyết định của mình trong việc quản lý, sử dụng kinh phí quản lý hành chính được giao; thực hiện các biện pháp tiết kiệm trong việc sử dụng kinh phí quản lý hành chính; ban hành Quy chế chi tiêu nội bộ, tổ chức thảo luận dân chủ, thống nhất trong cơ quan nhằm thực hiện tốt các mục tiêu và nhiệm vụ được giao.
Tổ chức thực hiện Quy chế chi tiêu nội bộ, công khai tài chính trong việc quản lý và sử dụng kinh phí quản lý hành chính trong cơ quan theo quy định về công khai ngân sách và công khai tại hội nghị cán bộ công nhân viên chức; tạo điều kiện cho cán bộ, công chức trong cơ quan được tham gia thực hiện và giám sát thực hiện phương án sử dụng kinh phí theo quy định của Nhà nước.
Trước ngày 31/01 năm sau, cơ quan thực hiện chế độ tự chủ báo cáo đơn vị dự toán cấp trên trực tiếp hoặc cơ quan tài chính cùng cấp (đối với cơ quan không có đơn vị dự toán trực thuộc) kết quả thực hiện chế độ tự chủ theo Mẫu số 02 kèm theo Nghị định này.
Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/5/2026.
Chính phủ ban hành Nghị định số 65/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Phục hồi, phá sản về Quản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản. Trong đó, đáng chú ý là các quy định liên quan đến tiêu chuẩn, điều kiện và quy trình cấp chứng chỉ hành nghề Quản tài viên.

Tiêu chuẩn, điều kiện và quy trình cấp chứng chỉ hành nghề Quản tài viên.
Nghị định gồm 5 chương, 28 điều quy định chi tiết khoản 2 Điều 9 và Điều 21 của Luật Phục hồi, phá sản về tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề, việc cấp, thu hồi, cấp lại chứng chỉ hành nghề Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản; quản lý nhà nước đối với Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản, hoạt động hành nghề quản lý, thanh lý tài sản; chi phí Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản.
Quy định biện pháp thi hành Luật Phục hồi, phá sản về bồi dưỡng nghề Quản tài viên, bồi dưỡng nghiệp vụ Quản tài viên hằng năm.
Về tiêu chuẩn, điều kiện cấp chứng chỉ hành nghề Quản tài viên, Nghị định quy định như sau:
1. Người có đủ các tiêu chuẩn sau đây thì được xem xét cấp chứng chỉ hành nghề Quản tài viên (*):
a) Luật sư hoặc kiểm toán viên là người Việt Nam; luật sư nước ngoài hoặc kiểm toán viên là người nước ngoài được phép hành nghề tại Việt Nam; người có trình độ cử nhân hoặc thạc sĩ hoặc tiến sĩ về một trong các chuyên ngành luật, kinh tế, kế toán, tài chính, ngân hàng và có thời gian công tác từ đủ 05 năm trở lên trong lĩnh vực được đào tạo;
b) Đã hoàn thành khóa bồi dưỡng nghề Quản tài viên.
2. Các trường hợp không được cấp chứng chỉ hành nghề Quản tài viên gồm:
a) Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự; người đã bị kết án nhưng chưa được xóa án tích; người đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, đặc khu, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;
b) Người bị mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi;
c) Người đang là cán bộ, công chức, viên chức, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác; đang là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng, hạ sĩ quan, binh sĩ trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; đang là sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ, công nhân trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân;
d) Người thuộc một trong những trường hợp quy định tại điểm này mà chưa hết thời hạn 03 năm kể từ ngày quyết định kỷ luật có hiệu lực thi hành: Cán bộ bị kỷ luật bằng hình thức bãi nhiệm; công chức, viên chức bị kỷ luật bằng hình thức buộc thôi việc; sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng, hạ sĩ quan, binh sĩ trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân bị kỷ luật bằng hình thức tước danh hiệu quân nhân hoặc buộc thôi việc; sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ, công nhân trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân bị kỷ luật bằng hình thức tước danh hiệu Công an nhân dân hoặc buộc thôi việc;
đ) Luật sư, kiểm toán viên bị thu hồi chứng chỉ hành nghề do vi phạm pháp luật mà chưa hết thời hạn 03 năm kể từ ngày quyết định thu hồi chứng chỉ hành nghề có hiệu lực thi hành;
e) Người bị cấm hành nghề luật sư, kiểm toán viên theo bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án.
1. Người đáp ứng đủ các tiêu chuẩn, điều kiện quy định tại (*) có quyền đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố (sau đây gọi là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) nơi mình cư trú cấp chứng chỉ hành nghề Quản tài viên.
2. Hồ sơ đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề Quản tài viên bao gồm các giấy tờ sau đây:
a) Đơn đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề Quản tài viên theo Mẫu TP-QTV01 (đối với người đề nghị là công dân Việt Nam) hoặc Mẫu TP-QTV-02 (đối với người đề nghị là luật sư nước ngoài, kiểm toán viên là người nước ngoài được phép hành nghề tại Việt Nam) kèm theo Nghị định này và 02 ảnh màu cỡ 3 cm x 4 cm được chụp không quá 06 tháng trước ngày nộp hồ sơ;
b) Thẻ luật sư đối với luật sư Việt Nam; Giấy phép hành nghề luật sư tại Việt Nam đối với luật sư nước ngoài; Giấy chứng nhận đăng ký hành nghề kiểm toán đối với kiểm toán viên Việt Nam hoặc kiểm toán viên là người nước ngoài; bằng cử nhân hoặc thạc sĩ hoặc tiến sĩ đối với người có trình độ cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ về một trong các chuyên ngành luật, kinh tế, kế toán, tài chính, ngân hàng kèm theo xác nhận của cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc về thời gian công tác liên tục hoặc cộng dồn từ đủ 05 năm trở lên trong lĩnh vực được đào tạo;
c) Giấy chứng nhận bồi dưỡng nghề Quản tài viên.
Giấy tờ quy định tại điểm b, c khoản này là bản sao kèm bản chính để đối chiếu hoặc bản sao có chứng thực hoặc bản chính điện tử hoặc bản sao điện tử từ sổ gốc hoặc bản sao điện tử có chứng thực từ bản chính.
3. Người đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề Quản tài viên lập 01 bộ hồ sơ quy định tại khoản 2 nêu trên, nộp trực tiếp hoặc qua dịch vụ bưu chính đến Sở Tư pháp nơi người đó cư trú hoặc trực tuyến trên môi trường điện tử theo quy định tại Điều 4 của Nghị định này.
4. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Sở Tư pháp xem xét, có văn bản đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp chứng chỉ hành nghề Quản tài viên; trường hợp từ chối đề nghị phải trả lời bằng văn bản có nêu rõ lý do.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ khi nhận được văn bản đề nghị của Sở Tư pháp kèm theo hồ sơ hợp lệ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, cấp chứng chỉ hành nghề Quản tài viên theo Mẫu TP-QTV-09 kèm theo Nghị định này; trường hợp từ chối cấp chứng chỉ phải trả lời bằng văn bản có nêu rõ lý do.
5. Trường hợp thông tin trong hồ sơ đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề Quản tài viên chưa đầy đủ, chưa thống nhất hoặc cần xác minh, Sở Tư pháp hoặc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh yêu cầu người đề nghị giải trình, bổ sung thông tin hoặc phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan xác minh thông tin.
Thời hạn quy định tại khoản 4 nêu trên được tính từ ngày Sở Tư pháp hoặc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nhận được kết quả bổ sung, làm rõ hoặc xác minh thông tin.
Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/3/2026; trừ điểm b khoản 1 Điều 5, điểm c khoản 2 Điều 7 của Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/3/2027; khoản 5 Điều 15 của Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2027.
Nghị định này thay thế Nghị định số 22/2015/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phá sản về Quản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 112/2025/NĐ-CP và Nghị định số 18/2026/NĐ-CP.
Đồng thời, bãi bỏ các quy định tại Điều 3 của Nghị định số 112/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định thuộc lĩnh vực bổ trợ tư pháp; Điều 7 của Nghị định số 18/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số nghị định để cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tư pháp.
Chính phủ ban hành Nghị định số 76/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 125/2021/NĐ-CP ngày 28/12/2021 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bình đẳng giới theo hướng điều chỉnh tăng mức phạt đối với nhiều hành vi vi phạm.

Dùng vũ lực nhằm cản trở thành viên trong gia đình có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật tham gia định đoạt tài sản thuộc sở hữu chung của hộ gia đình vì lý do giới tính bị phạt tiền từ 12-15 triệu đồng.
Trong đó, Nghị định số 76/2026/NĐ-CP điều chỉnh tăng mức phạt tối đa từ 3.000.000 đồng lên 4.000.000 đồng đối với các hành vi sau:
- Xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người tự ứng cử, được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân, vào cơ quan lãnh đạo của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp vì định kiến giới;
- Xúc phạm danh dự, nhân phẩm nhằm cản trở việc bổ nhiệm người vào vị trí quản lý, lãnh đạo hoặc các chức danh chuyên môn vì định kiến giới;
- Cố ý tuyên truyền sai sự thật để cản trở người tự ứng cử, được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân, vào cơ quan lãnh đạo của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp vì định kiến giới;
- Cố ý tuyên truyền sai sự thật để cản trở việc bổ nhiệm người vào vị trí quản lý, lãnh đạo hoặc các chức danh chuyên môn vì định kiến giới;
- Xúc phạm danh dự, nhân phẩm người thành lập doanh nghiệp, tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh vì định kiến giới;
- Đe dọa dùng vũ lực hoặc uy hiếp tinh thần nhằm cản trở người thành lập doanh nghiệp, tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh vì định kiến giới;
- Xúi giục người khác trì hoãn cung cấp hoặc trì hoãn, không cung cấp đầy đủ, đúng thời hạn theo quy định các thông tin, tài liệu, mẫu hồ sơ theo quy định đối với người thành lập doanh nghiệp, tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh vì định kiến giới.
Cùng với đó, Nghị định số 76/2026/NĐ-CP cũng điều chỉnh mức phạt từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 (quy định cũ) lên từ 4.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
- Dùng vũ lực cản trở người thành lập doanh nghiệp, tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh vì định kiến giới;
- Sửa chữa, làm sai lệch hồ sơ nhằm cản trở người thành lập doanh nghiệp, tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh vì định kiến giới;
- Ép buộc người khác sửa chữa, làm sai lệch hồ sơ nhằm cản trở người thành lập doanh nghiệp, tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh vì định kiến giới.
Nghị định số 76/2026/NĐ-CP cũng điều chỉnh tăng mức phạt đối với các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực bình đẳng giới liên quan đến văn hóa, thể dục, thể thao.
Cụ thể, các hành vi: Xúc phạm danh dự, nhân phẩm nhằm cản trở người sáng tác, phê bình văn học, nghệ thuật, biểu diễn hoặc tham gia hoạt động văn hóa khác, hoạt động thể dục, thể thao vì định kiến giới; đe dọa dùng vũ lực hoặc uy hiếp tinh thần nhằm cản trở người sáng tác, phê bình văn học, nghệ thuật, biểu diễn hoặc tham gia hoạt động văn hóa khác, hoạt động thể dục, thể thao vì định kiến giới bị phạt từ 3.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng (quy định cũ phạt từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng).
Các hành vi: Dùng vũ lực cản trở người sáng tác, phê bình văn học, nghệ thuật, biểu diễn hoặc tham gia hoạt động văn hóa khác, hoạt động thể dục, thể thao vì định kiến giới; không cho người khác sáng tác, phê bình văn học, nghệ thuật, biểu diễn hoặc tham gia hoạt động văn hóa khác, hoạt động thể dục, thể thao vì định kiến giới bị phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng (quy định cũ phạt từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng).
Ngoài ra, Nghị định số 76/2026/NĐ-CP cũng điều chỉnh tăng mức phạt đối với các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực bình đẳng giới liên quan đến gia đình.
Theo Nghị định số 76/2026/NĐ-CP, các hành vi: Cản trở hoặc không cho thành viên trong gia đình thực hiện các hoạt động tạo thu nhập hoặc đáp ứng các nhu cầu khác của gia đình vì lý do giới tính; đối xử bất bình đẳng giữa các thành viên trong gia đình vì lý do giới tính bị phạt từ từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng (quy định cũ phạt từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng).
Đe dọa dùng vũ lực hoặc uy hiếp tinh thần nhằm cản trở thành viên trong gia đình có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật tham gia định đoạt tài sản thuộc sở hữu chung của hộ gia đình vì lý do giới tính; áp đặt việc thực hiện lao động gia đình, sử dụng biện pháp tránh thai, triệt sản như là trách nhiệm của thành viên trong gia đình thuộc một giới nhất định bị phạt từ 10.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng (quy định cũ phạt từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng).
Hành vi dùng vũ lực nhằm cản trở thành viên trong gia đình có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật tham gia định đoạt tài sản thuộc sở hữu chung của hộ gia đình vì lý do giới tính bị phạt tiền từ 12.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng (quy định cũ phạt từ 7.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng).
Ngoài ra, Nghị định số 76/2026/NĐ-CP cũng sửa đổi, bổ sung thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính.
Nghị định số 76/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 1/5/2026.
Nghị định nêu rõ, trường hợp hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực bình đẳng giới xảy ra và kết thúc trước ngày Nghị định số 76/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành sau đó mới bị phát hiện hoặc đang xem xét giải quyết thì áp dụng Nghị định đang có hiệu lực tại thời điểm thực hiện hành vi vi phạm để xử phạt.
Đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực bình đẳng giới xảy ra trước thời điểm Nghị định số 76/2026/NĐ-CP có hiệu lực nhưng vẫn đang diễn ra khi Nghị định này đã có hiệu lực thì áp dụng quy định của Nghị định số 76/2026/NĐ-CP để xử lý.
Phó Thủ tướng Bùi Thanh Sơn ký Quyết định số 441/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch thực hiện Định hướng thu hút, quản lý và sử dụng vốn ODA và vốn vay ưu đãi nước ngoài giai đoạn 2026 - 2030 (Kế hoạch).

Định hướng thu hút, quản lý và sử dụng vốn ODA và vốn vay ưu đãi giai đoạn 2026 - 2030.
Quyết định nêu rõ, việc thu hút, quản lý và sử dụng vốn ODA và vốn vay ưu đãi nước ngoài giai đoạn 2026-2030 được triển khai theo định hướng chung: Huy động và phân bổ các nguồn vốn ODA, vốn vay ưu đãi nước ngoài với quy mô và cơ cấu phù hợp nhằm đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư phát triển của quốc gia, ngành và địa phương trong giai đoạn 2026-2030.
Cụ thể, dự kiến bố trí vốn ODA và vốn vay ưu đãi nước ngoài để đáp ứng nhu cầu giải ngân, thực hiện của: (i) các dự án đã có danh mục cụ thể bao gồm những dự án đang thực hiện, chuyển tiếp từ giai đoạn 2021-2025 và những dự án mới đang trong quá trình chuẩn bị dự kiến sẽ hoàn thành thủ tục và có nhu cầu giải ngân một phần trong giai đoạn 2026-3030; (ii) các dự án hạ tầng lớn, dự án trọng điểm quốc gia trong giai đoạn 2026-2030 hiện chưa xác định phương thức, mô hình đầu tư và nguồn vốn đầu tư cụ thể (trong trường hợp những dự án này có nhu cầu bố trí vốn vay ODA và vốn vay ưu đãi nước ngoài); (iii) những mục tiêu, chương trình, dự án đầu tư công khác theo chỉ đạo của các cấp có thẩm quyền.
Phát huy tinh thần chủ động, sáng tạo hiệu quả hợp tác chặt chẽ và xây dựng mối quan hệ tin cậy, thấu hiểu, tôn trọng lẫn nhau với đối tác phát triển để khai thác, huy động hiệu quả viện trợ không hoàn lại và các nguồn vốn vay ODA có điều kiện ưu đãi cao; lựa chọn các nguồn vốn vay ưu đãi nước ngoài có điều kiện phù hợp; định hướng các nguồn vốn vào lĩnh vực, địa bàn và chương trình, dự án ưu tiên của Việt Nam và hướng đến hài hòa hóa quy trình, thủ tục của cả hai phía.
Xây dựng phương án và triển khai việc chuẩn bị, phê duyệt, đàm phán, ký kết và thực hiện các chương trình, dự án sử dụng vốn ODA và vốn vay ưu đãi nước ngoài trong khuôn khổ Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, Kế hoạch đầu tư công trung hạn, Kế hoạch tài chính 05 năm quốc gia, Kế hoạch vay, trả nợ công 05 năm giai đoạn 2026-2030, đảm bảo có sự gắn kết chặt chẽ với các mục tiêu phát triển đột phá về tăng trưởng kinh tế và đổi mới mô hình tăng trưởng; phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; tăng cường sự tham gia của khu vực tư nhân; bảo đảm an ninh năng lượng; phát triển giáo dục và đào tạo; nâng cao sức khỏe nhân dân.
Giải quyết căn bản các khó khăn, vướng mắc cản trở tiến độ và chất lượng chuẩn bị, phê duyệt và triển khai dự án sử dụng vốn ODA và vốn vay ưu đãi nước ngoài.
Thúc đẩy hiện đại hóa, số hóa công tác quản lý vốn ODA và vốn vay ưu đãi nước ngoài ở các cấp và các bước quy trình, thủ tục theo tiêu chuẩn quốc tế nhằm tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và giám sát xã hội; phát huy tính khách quan, chủ động; cải thiện hiệu quả và tiến độ giải quyết công việc.
Vốn vay ODA và vốn vay ưu đãi nước ngoài thực hiện theo định hướng: Ưu tiên đầu tư vốn vay ODA và vốn vay ưu đãi nước ngoài cho mục tiêu, chương trình, dự án trọng điểm cụ thể có tác động lan tỏa, đột phá bên cạnh cải thiện hạ tầng kinh tế - xã hội: Vốn vay ODA và vốn vay ưu đãi nước ngoài chỉ sử dụng cho chi đầu tư phát triển trên cơ sở danh mục các mục tiêu hoặc chương trình, dự án cụ thể, được huy động và triển khai dựa trên phân tích, đánh giá thận trọng về điều kiện vay, tính khả thi, hiệu quả, cân đối giữa các vùng miền, lĩnh vực và đảm bảo các chỉ tiêu an toàn nợ công và khả năng trả nợ, phù hợp với kế hoạch đầu tư công, tài chính quốc gia và vay, trả nợ công giai đoạn 2026-2030; trong đó dành ưu tiên cao nhất cho phát triển cơ sở hạ tầng trọng điểm có "tính lan tỏa", tạo "đột phá" và "chuyển đổi trạng thái" ở cấp quốc gia, vùng và tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương bên cạnh việc cải thiện, giải quyết các vấn đề về hạ tầng kinh tế - xã hội, môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu và thiên tai, phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi năng lượng, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số.
Xác định vốn vay ưu đãi nước ngoài có vai trò bổ sung cho các nguồn vốn đầu tư phát triển khác: Định vị vốn vay ưu đãi nước ngoài trong tổng thể các nguồn vốn đầu tư phát triển của Chính phủ, địa phương, đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp với vai trò bổ sung cho phần còn thiếu sau khi huy động các nguồn vốn trong nước và các nguồn vốn khác có điều kiện thuận lợi hơn; sử dụng trong các lĩnh vực vốn đầu tư công trong nước, vốn vay ODA ưu đãi cao không có đủ khả năng đáp ứng và khó thu hút đầu tư tư nhân.
Ưu tiên thu hút và sử dụng trước các nguồn vốn có điều kiện vay thuận lợi, ít ràng buộc; quy trình, thủ tục nhanh chóng, linh hoạt; nhiều lựa chọn về sản phẩm tài chính phù hợp với đặc thù của Việt Nam; có hỗ trợ hoặc cơ hội về chuyển giao công nghệ, kỹ thuật chuyên sâu và kèm thêm các khoản viện trợ không hoàn lại.
Bên cạnh vay vốn tài trợ dự án theo cách truyền thống, sử dụng linh hoạt và cân đối hài hòa với các sản phẩm cho vay khác và ODA thế hệ mới như vay hòa ngân sách, tiếp cận nhiều giai đoạn, giải ngân dựa trên kết quả...; đồng thời phối hợp hiệu quả với phát hành các công cụ vay nợ trên thị trường tài chính quốc tế để đáp ứng yêu cầu đầu tư thực tế trong giai đoạn 2026-2030.
Để đáp ứng nguyên tắc và đảm bảo theo đúng định hướng về thu hút, quản lý và sử dụng vốn ODA và vốn vay ưu đãi nước ngoài giai đoạn 2026-2030 nêu trên, Kế hoạch đưa ra 5 nhóm nhiệm vụ và giải pháp cần tập trung thực hiện.
1- Nhóm nhiệm vụ, giải pháp về hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách:
Tiếp tục rà soát cơ chế, chính sách, quy định pháp luật có liên quan để kịp thời trình cấp có thẩm quyền ban hành, sửa đổi, bổ sung theo hướng đơn giản hóa thủ tục, tăng cường phân cấp, phân quyền và phân định rõ trách nhiệm, tăng cường hỗ trợ cho các địa phương và đảm bảo sự nhất quán, đồng bộ giữa các quy định pháp luật, trước mắt là các nghị định hướng dẫn Luật Quản lý nợ công và Luật Điều ước quốc tế.
Trong bối cảnh mới sáp nhập các địa phương và tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp: nghiên cứu các phương án tăng cường hỗ trợ địa phương thông qua dự án sử dụng vốn ODA và vốn vay ưu đãi nước ngoài; xác định rõ thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp xã, phường là chủ đầu tư, chủ dự án để có thể tiến hành các thủ tục đối với dự án sử dụng vốn ODA và vốn vay ưu đãi nước ngoài theo quy định...
2. Nhóm nhiệm vụ, giải pháp trong trao đổi, đàm phán với nhà tài trợ về chính sách, ưu tiên, điều kiện và giải quyết quy trình, thủ tục cung cấp vốn:
Đối với quá trình tham gia xây dựng và ra quyết định chính sách, quy định, ưu tiên và điều kiện cung cấp vốn vay, viện trợ không hoàn lại của các tổ chức, định chế tài chính quốc tế mà Việt Nam là thành viên, nhất là tại các ngân hàng phát triển đa phương: Nâng cao vai trò, tiếng nói và tính chủ động của Việt Nam tại các định chế tài chính quốc tế thông qua thống nhất đầu mối tham gia của Việt Nam với tư cách quốc gia thành viên tại các tổ chức, định chế tài chính quốc tế để tham gia tích cực, hiệu quả hơn vào định hướng chính sách, quy định, ưu tiên và điều kiện cung cấp vốn vay, viện trợ không hoàn lại và quản lý dự án của những tổ chức này.
Đề nghị nhà tài trợ xem xét đặc thù của Việt Nam để xây dựng, ban hành và áp dụng chính sách, ưu tiên, điều kiện cấp vốn ODA và vốn vay ưu đãi phù hợp với Việt Nam; đề nghị nhà tài trợ dành cho Việt Nam nhiều hơn quyền tự chủ, tự quyết trong triển khai các quy trình, thủ tục và xử lý các vấn đề phát sinh trên cơ sở nguyên tắc của Thỏa thuận Paris về hiệu quả viện trợ; đồng thời linh hoạt, khẩn trương hơn trong giải quyết các vấn đề và cấp ý kiến không phản đối hoặc cho góp ý đối với hồ sơ dự án của phía Việt Nam...
3. Nhóm nhiệm vụ, giải pháp cải thiện tiến độ, hiệu quả và chất lượng chuẩn bị, phê duyệt và triển khai chương trình, dự án sử dụng vốn ODA và vốn vay ưu đãi nước ngoài:
Cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan chủ quản, chủ đầu tư, Ban quản lý dự án và các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan của Việt Nam phát huy vai trò chủ động, sáng tạo trong cải thiện tiến độ, chất lượng và hiệu quả thu hút, quản lý và sử dụng vốn ODA và vốn vay ưu đãi nước ngoài thông qua.
Đối với các cơ quan quản lý nhà nước nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước thuộc nhiệm vụ được giao; tăng cường công tác phổ biến chính sách, pháp luật, quy định của Việt Nam và đối tác phát triển và nâng cao hiểu biết, năng lực, trình độ chuyên môn cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan, đặc biệt tại chính quyền địa phương các cấp; tăng cường vai trò, trách nhiệm điều phối, giám sát, kiểm tra, theo dõi và giải trình đối với toàn bộ quá trình thu hút, quản lý và sử dụng vốn ODA và vốn vay ưu đãi nước ngoài; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong quản lý vốn ODA và vốn vay ưu đãi nước ngoài nhằm đảm bảo tính minh bạch, kịp thời và khách quan trong xử lý công việc và ra quyết định...
Đối với cơ quan chủ quản chịu trách nhiệm tổng thể, toàn diện và cuối cùng đối với tiến độ, hiệu quả, chất lượng ở tất cả các bước quy trình, thủ tục của chương trình, dự án sử dụng vốn ODA và vốn vay ưu đãi nước ngoài thuộc trách nhiệm; nâng cao chất lượng công tác chỉ đạo, điều hành và tổ chức thực hiện; chịu trách nhiệm lựa chọn đơn vị, cá nhân có đủ năng lực, kinh nghiệm trong chuẩn bị, tổ chức và triển khai chương trình, dự án sử dụng vốn ODA và vốn vay ưu đãi nước ngoài kết hợp với xử lý nghiêm các trường hợp không hoàn thành nhiệm vụ được giao; tăng cường phối hợp với các bộ, ngành, địa phương và nhà tài trợ trong quá trình chuẩn bị, phê duyệt, đàm phán, ký kết và triển khai chương trình, dự án sử dụng vốn ODA và vốn vay ưu đãi nước ngoài; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong theo dõi, quản lý và báo cáo tiến độ chương trình, dự án; kết nối, chia sẻ dữ liệu với cơ quan quản lý nhà nước để nâng cao tính minh bạch, thống nhất và kịp thời trong xử lý công việc...
Đối với chủ đầu tư, Ban quản lý dự án chịu trách nhiệm chính và trực tiếp, thường xuyên về tiến độ, hiệu quả của chương trình, dự án; có trách nhiệm bố trí và quản lý nhân lực có đủ trình độ, năng lực, kinh nghiệm và kỹ năng chuyên môn, am hiểu quy định, chính sách của Việt Nam và đối tác phát triển; phân công rõ ràng và cá thể hóa trách nhiệm tới từng nhân sự tham gia quản lý chương trình, dự án; có trách nhiệm tích cực, chủ động phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan chủ quản, đối tác phát triển và các tổ chức, đơn vị, cá nhân có liên quan trong toàn bộ quá trình chuẩn bị, phê duyệt và triển khai chương trình, dự án; kịp thời báo cáo tình hình và đề xuất biện pháp xử lý đối với khó khăn, vướng mắc phát sinh và thực hiện đầy đủ công tác, nghiệp vụ quản lý về hành chính, tài chính, kế toán, kỹ thuật, đấu thầu, giám sát, giải ngân, thanh quyết toán, báo cáo theo đúng quy định của Việt Nam và đối tác phát triển trên cơ sở tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và nền tảng số...
Đối với tổ chức đại diện các tầng lớp nhân dân và cơ quan truyền thông thực hiện chức năng giám sát xã hội đối với tiến độ, chất lượng, tính công khai và minh bạch trong triển khai các chương trình, dự án sử dụng vốn ODA và vốn vay ưu đãi nước ngoài; kịp thời phản ánh ý kiến, kiến nghị và tâm tư của người dân và cộng đồng đến cơ quan có thẩm quyền; phối hợp chặt chẽ với cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan chủ quản, chủ đầu tư và đối tác phát triển, cung cấp thông tin hai chiều để hỗ trợ việc thực hiện các hoạt động tham vấn cộng đồng, lấy ý kiến người dân trong những giai đoạn cần thiết (như chuẩn bị dự án, giải phóng mặt bằng, tái định cư...)...
4. Nhóm nhiệm vụ, giải pháp đổi mới phương thức huy động và quản lý rủi ro vốn vay ODA và vốn vay ưu đãi nước ngoài:
Chủ động lựa chọn đối tác phát triển phù hợp với sản phẩm, điều kiện cho vay thuận lợi nhất cho những dự án đầu tư công ưu tiên; ưu tiên sử dụng các công cụ, sản phẩm cho vay không hoặc ít yêu cầu đáp ứng quy định, chính sách của đối tác phát triển với quy trình, thủ tục đơn giản và linh hoạt về quy mô và thời điểm huy động.
Kết hợp hài hòa phương thức vay tài trợ dự án truyền thống, hòa trộn các nguồn tài chính với phương thức vay hỗ trợ trực tiếp ngân sách và các phương thức khác phù hợp với yêu cầu và đặc thù của các dự án phát triển cơ sở hạ tầng trọng điểm trong giai đoạn 2026-2030.
Nghiên cứu, xem xét xây dựng phương thức, mô hình vay vốn nước ngoài góp phần tối ưu hóa danh mục nợ Chính phủ, giảm thiểu rủi ro về đảo nợ, lãi suất và tỷ giá; phối hợp cùng vốn đầu tư công trong nước trở thành vốn dẫn giúp thu hút và tạo thuận lợi cho các nguồn vốn đầu tư tư nhân và các nguồn vốn đầu tư khác tham gia vào các dự án hạ tầng trọng điểm của quốc gia, vùng và địa phương.
Nghiên cứu, xem xét phương án giao doanh nghiệp trong đó có doanh nghiệp tư nhân thực hiện dự án đầu tư công sử dụng vốn ODA và vốn vay ưu đãi nước ngoài với vai trò cơ quan chủ quản/chủ đầu tư; cho vay lại vốn vay ODA và vốn vay ưu đãi nước ngoài trực tiếp tới doanh nghiệp trong đó có doanh nghiệp tư nhân có đủ năng lực để thực hiện các dự án ưu tiên về phát triển hạ tầng trên nguyên tắc đảm bảo an toàn nợ công, phù hợp quy định pháp luật và phát huy được ưu thế của khu vực doanh nghiệp.
5. Nhóm nhiệm vụ, giải pháp hỗ trợ tiếp thu và phổ biến công nghệ, kỹ thuật cao thông qua dự án sử dụng vốn ODA và vốn vay ưu đãi nước ngoài:
Xác định các đầu mối chịu trách nhiệm trong việc tìm hiểu, tiếp thu, tiếp nhận và phổ biến, nhân rộng công nghệ, kỹ thuật, mô hình, tri thức mới, hiện đại (nếu có) từ các dự án sử dụng vốn ODA và vốn vay ưu đãi nước ngoài.
Có giải pháp lồng ghép việc tiếp thu chuyển giao công nghệ, nhất là công nghệ hiện đại, công nghệ mới trong thiết kế và thực hiện dự án từ đối tác phát triển, nhà thầu quốc tế, tư vấn quốc tế.
Nghiên cứu, xem xét việc thiết lập cơ chế chia sẻ tri thức và xây dựng kho dữ liệu số về công nghệ, quy trình, mô hình đã được tiếp nhận qua các dự án sử dụng vốn ODA và vốn vay ưu đãi nước ngoài để nhân rộng trong ngành và các địa phương.
Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính vừa ký Quyết định số 452/QĐ-TTg ngày 17/3/2026 ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật Bảo vệ bí mật nhà nước (Kế hoạch).

Luật Bảo vệ bí mật nhà nước số 117/2025/QH15 đã được thông qua tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV ngày 10/12/2025 và có hiệu lực từ ngày 01/3/2026.
Mục đích ban hành Kế hoạch nhằm xác định cụ thể nội dung công việc, thời hạn, thời gian hoàn thành và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, đơn vị có liên quan trong việc tổ chức triển khai thi hành Luật Bảo vệ bí mật nhà nước (sau đây gọi tắt là Luật), bảo đảm kịp thời, thống nhất và hiệu quả. Xác định rõ trách nhiệm của cơ quan chủ trì và cơ quan phối hợp trong việc triển khai thi hành Luật.
Đồng thời, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp và cơ quan, tổ chức, đơn vị có liên quan trong việc triển khai Luật.
Kế hoạch đưa ra 7 nhiệm vụ, giải pháp để các bộ, ngành, địa phương và các cơ quan liên quan triển khai thực hiện như sau:
1. Năm 2026 và các năm tiếp theo, Bộ Công an, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố và các cơ quan, tổ chức, đơn vị có liên quan tổ chức quán triệt, phổ biến, giáo dục nội dung của Luật, văn bản quy định chi tiết và biện pháp thi hành bằng hình thức phù hợp với từng đối tượng cụ thể nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang, nhất là những người làm công tác liên quan trực tiếp đến bí mật nhà nước.
Bộ Công an, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam và cơ quan báo chí, truyền thông của các bộ, ngành, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố tổ chức thông tin, truyền thông trên các phương tiện thông tin đại chúng.
2. Trong quý I/2026, Bộ Công an chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố và các cơ quan, tổ chức có liên quan xây dựng, trình Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật.
Bộ Công an xây dựng Thông tư của Bộ trưởng Bộ Công an quy định công tác bảo vệ bí mật nhà nước trong Công an nhân dân, trong đó quy định chi tiết về thẩm quyền cho phép sao, chụp tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước; thẩm quyền cung cấp, chuyển giao bí mật nhà nước cho cơ quan, tổ chức, người Việt Nam được giao thực hiện nhiệm vụ liên quan trực tiếp đến bí mật nhà nước; thẩm quyền tiêu hủy bí mật nhà nước thuộc phạm vi quản lý; hoàn thành trong quý II/2026.
Bộ Quốc phòng xây dựng Thông tư của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định công tác bảo vệ bí mật nhà nước trong Bộ Quốc phòng, trong đó quy định chi tiết về thẩm quyền cho phép sao, chụp tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước; thẩm quyền cung cấp, chuyển giao bí mật nhà nước cho cơ quan, tổ chức, người Việt Nam được giao thực hiện nhiệm vụ liên quan trực tiếp đến bí mật nhà nước; thẩm quyền tiêu hủy bí mật nhà nước thuộc phạm vi quản lý; hoàn thành trong quý II/2026.
3. Năm 2026 và các năm tiếp theo, Bộ Công an kiểm tra, đôn đốc, theo dõi việc thi hành Luật và các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật.
4. Trước ngày 01/3/2027, các bộ, cơ quan ngang bộ tổ chức rà soát các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến bảo vệ bí mật nhà nước do cơ quan mình ban hành hoặc chủ trì soạn thảo trình cấp có thẩm quyền ban hành. Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố rà soát đối với văn bản quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành.
5. Năm 2026 và các năm tiếp theo, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố chủ trì thực hiện các biện pháp trong phạm vi quản lý về bảo đảm an ninh, an toàn, phòng, chống xâm phạm bí mật nhà nước đối với mạng LAN độc lập, máy tính và thiết bị, trí tuệ nhân tạo và công nghệ mới trong công tác bảo vệ bí mật nhà nước. Cụ thể:
- Quyết định biện pháp bảo đảm an ninh, an toàn, phòng, chống xâm phạm bí mật nhà nước đối với mạng LAN độc lập thuộc quyền quản lý.
- Quyết định biện pháp bảo đảm an ninh, an toàn, phòng, chống xâm phạm bí mật nhà nước đối với trường hợp sử dụng máy tính, thiết bị đã dùng để soạn thảo, lưu giữ bí mật nhà nước để kết nối với mạng máy tính (trừ mạng LAN độc lập), mạng Internet, mạng viễn thông.
- Quyết định biện pháp bảo đảm an ninh, an toàn, phòng, chống xâm phạm bí mật nhà nước đối với trường hợp sử dụng máy tính, thiết bị có lịch sử kết nối với mạng máy tính (trừ mạng LAN độc lập), mạng Internet, mạng viễn thông để soạn thảo, lưu giữ bí mật nhà nước.
- Triển khai sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo hoặc công nghệ mới trong hoạt động bảo vệ bí mật nhà nước theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.
- Đề nghị Văn phòng Trung ương Đảng và cơ quan Đảng ở trung ương, đảng ủy trực thuộc trung ương, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chủ tịch nước, Tỉnh ủy, Thành ủy, Đoàn đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước chủ trì thực hiện trong phạm vi quản lý.
6. Trước ngày 01/01/2027, triển khai rà soát, đánh giá, đề xuất sửa đổi, bổ sung danh mục bí mật nhà nước bảo đảm đáp ứng yêu cầu bảo vệ bí mật nhà nước, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số quốc gia và hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp. Cụ thể:
- Các bộ, cơ quan ngang bộ chủ trì rà soát, đánh giá, đề xuất sửa đổi, bổ sung danh mục bí mật nhà nước thuộc phạm vi quản lý.
- Văn phòng Chính phủ chủ trì rà soát, đánh giá, đề xuất sửa đổi, bổ sung danh mục bí mật nhà nước của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Văn phòng Chính phủ.
- Đề nghị Văn phòng Trung ương Đảng chủ trì rà soát, đánh giá, đề xuất sửa đổi, bổ sung danh mục bí mật nhà nước của Đảng.
- Đề nghị Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chủ trì xây dựng danh mục bí mật nhà nước của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội.
- Đề nghị Văn phòng Quốc hội chủ trì rà soát, đánh giá, đề xuất sửa đổi, bổ sung danh mục bí mật nhà nước của Quốc hội, cơ quan của Quốc hội, Tổng thư ký Quốc hội, Văn phòng Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội.
- Đề nghị Văn phòng Chủ tịch nước chủ trì rà soát, đánh giá, đề xuất sửa đổi, bổ sung danh mục bí mật nhà nước của Chủ tịch nước, Văn phòng Chủ tịch nước.
- Đề nghị Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước chủ trì rà soát, đánh giá, đề xuất sửa đổi, bổ sung danh mục bí mật nhà nước của ngành, lĩnh vực quản lý.
7. Trong quý III năm 2026, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố chủ trì xây dựng và tổ chức thực hiện quy chế bảo vệ bí mật nhà nước của cơ quan, tổ chức, địa phương mình.
Đề nghị Văn phòng Trung ương Đảng và cơ quan Đảng ở trung ương, đảng ủy trực thuộc trung ương, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chủ tịch nước, Tỉnh ủy, Thành ủy, Đoàn đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước chủ trì thực hiện trong phạm vi quản lý.
Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính - Trưởng Ban Chỉ đạo của Chính phủ về rà soát và tổ chức thực hiện việc xử lý vướng mắc trong hệ thống pháp luật đã ký Quyết định số 22/QĐ-BCĐRSTCTHXLVMHTPL ban hành Kế hoạch hoạt động năm 2026 của Ban Chỉ đạo này.
Mục tiêu của Kế hoạch là xác định nội dung các công việc, thời hạn, tiến độ hoàn thành, trách nhiệm của các thành viên Ban Chỉ đạo của Chính phủ về rà soát và tổ chức thực hiện việc xử lý vướng mắc trong hệ thống pháp luật (Ban Chỉ đạo), Nhóm giúp việc Ban Chỉ đạo và các cơ quan, tổ chức có liên quan trong việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ của Ban Chỉ đạo theo Quyết định số 603/QĐ-TTg ngày 08 tháng 7 năm 2024 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Ban Chỉ đạo rà soát, xử lý vướng mắc trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật; tham mưu, giúp Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ thực hiện các nhiệm vụ về rà soát, hoàn thiện hệ thống pháp luật theo chỉ đạo của cấp có thẩm quyền và quy định pháp luật.
Nội dung chính của Kế hoạch là: Xây dựng các văn bản về kiện toàn tổ chức, hoạt động của Ban Chỉ đạo; Cchỉ đạo các bộ, cơ quan ngang bộ, địa phương rà soát các văn bản quy phạm pháp luật, loại bỏ những điều kiện kinh doanh không cần thiết, quy định chồng chéo, không phù hợp, cản trở sự phát triển của doanh nghiệp tư nhân, bảo vệ hữu hiệu quyền sở hữu, quyền tài sản, quyền tự do kinh doanh, quyền cạnh tranh bình đẳng của kinh tế tư nhân và bảo đảm thực thi hợp đồng của kinh tế tư nhân; tổ chức phiên họp thứ tám, chín, mười của Ban Chỉ đạo; tổ chức lấy ý kiến về các kết quả rà soát, các dự thảo Báo cáo trình Ban Chỉ đạo, báo cáo cấp có thẩm quyền; tổ chức các phiên họp bất thường của Ban Chỉ đạo.
Thủ tướng yêu cầu việc tổ chức, thực hiện Kế hoạch bảo đảm tuân thủ đầy đủ các quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025; Nghị định số 78/2025/NĐ-CP ngày 01 tháng 4 năm 2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật; Nghị định số 79/2025/NĐ-CP ngày 01 tháng 4 năm 2025 của Chính phủ về kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa và xử lý văn bản quy phạm pháp luật; nhiệm vụ của Ban Chỉ đạo tại Quyết định số 603/QĐ-TTg ngày 08 tháng 7 năm 2024 của Thủ tướng Chính phủ; bám sát yêu cầu và nhiệm vụ được Chính phủ giao tại các Nghị quyết của Chính phủ, chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ.
Bảo đảm việc đôn đốc, chỉ đạo xử lý kịp thời, dứt điểm đối với kết quả rà soát đã được chỉ ra tại Báo cáo của Chính phủ về rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật thực hiện Nghị quyết số 101/2023/QH15 và Nghị quyết số 110/2023/QH15 của Quốc hội khóa XV; kết quả rà soát theo chỉ đạo của Ban Chỉ đạo; kết quả rà soát văn bản quy phạm pháp luật do Tổ công tác của Thủ tướng Chính phủ về rà soát văn bản quy phạm pháp luật (theo Quyết định số 236/QĐ-TTg ngày 12 tháng 02 năm 2020 của Thủ tướng Chính phủ) tổ chức, chỉ đạo thực hiện.
Phát huy vai trò chủ động, tích cực và trách nhiệm của thành viên Ban Chỉ đạo; phối hợp chặt chẽ với Bộ Tư pháp - Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo, các bộ, cơ quan ngang bộ, tổ chức, cá nhân có liên quan; tham vấn rộng rãi và thực chất đối tượng điều chỉnh của pháp luật, nhất là về các giải pháp, kiến nghị sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật trong quá trình rà soát văn bản.
Văn phòng Chính phủ ban hành Thông báo số 129/TB-VPCP ngày 17/3/2026 kết luận của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính - Trưởng Ban Chỉ đạo tại Phiên họp lần thứ 24 Ban Chỉ đạo Nhà nước các công trình, dự án quan trọng quốc gia, trọng điểm ngành giao thông vận tải.

Đảm bảo tiến độ, chất lượng các công trình, dự án trọng điểm ngành giao thông.
Thông báo nêu: Vừa qua trong không khí nhân dân cả nước đón Tết Nguyên đán Bính Ngọ, là ngày Tết cổ truyền của dân tộc Việt Nam, nhưng trên nhiều công trường dự án trọng điểm, hàng nghìn cán bộ, kỹ sư, công nhân, người lao động vẫn miệt mài bám trụ công trường, tổ chức thi công xuyên Tết, theo đúng tinh thần "làm xuyên ngày Tết, ngày lễ", tổ chức thi công "3 ca, 4 kíp", ăn Tết ngay tại công trường, quyết tâm, nỗ lực cao nhất để đẩy nhanh tiến độ, sớm đưa các dự án vào vận hành, khai thác phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Thay mặt Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ biểu dương Bộ Xây dựng và các bộ, ngành, địa phương đã tích cực nỗ lực triển khai các nhiệm vụ được giao ngay trong những ngày đầu năm 2026 và Tết Nguyên Đán Bính Ngọ; nhiệt liệt biểu dương tinh thần trách nhiệm, sự hy sinh thầm lặng, thể hiện rõ quyết tâm cao, ý chí vượt khó, tinh thần vì lợi ích đất nước của các cán bộ, kỹ sư, công nhân, người lao động đã bám trụ công trường, tổ chức thi công xuyên Tết; qua đó góp phần quan trọng bảo đảm tiến độ các dự án đã thông xe kỹ thuật, chuẩn bị đưa vào khai thác đồng bộ, an toàn.
Tại Phiên họp lần thứ 23 ngày 30 tháng 01 năm 2026, Thủ tướng Chính phủ - Trưởng Ban chỉ đạo đã giao 28 nhiệm vụ cho các bộ, ngành và địa phương. Thời gian qua các bộ, ngành, địa phương đã tích cực triển khai hoàn thành nhiều nhiệm vụ quan trọng đúng thời hạn yêu cầu; tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn một số nhiệm vụ liên quan đến lập, trình phê duyệt chủ trương đầu tư và công tác giải phóng mặt bằng (GPMB) chưa đáp ứng tiến độ yêu cầu.
Hiện nay, toàn hệ thống chính trị đang tập trung cao triển khai các Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng nhiệm kỳ 2026 - 2030 và các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2026. Do vậy, đòi hỏi tất cả các cơ quan đều phải khẩn trương, tích cực, chủ động trong việc triển khai các công trình, dự án bảo đảm tiến độ, nâng cao chất lượng, bảo đảm vệ sinh, môi trường "sáng, xanh, sạch, đẹp"; bên cạnh đó các cơ quan, đơn vị có liên quan cần vừa làm, vừa rút kinh nghiệm, tự kiểm tra, giám sát, kiểm toán, rà soát để phát hiện ra cái chưa tốt, chưa hay, tham nhũng, tiêu cực, kịp thời khắc phục, xử lý theo thẩm quyền, vượt thẩm quyền báo cáo cấp có thẩm quyền.
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành, địa phương cần tập trung:
Thứ nhất, quyết tâm nỗ lực cao để hoàn thành mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2026, là năm đầu tiên thực hiện kế hoạch kinh tế - xã hội 5 năm 2026 - 2030 theo Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 14 của Đảng và Chương trình hành động của Ban Chấp hành Trung ương; phấn đấu phát triển nhanh nhưng bền vững, phấn đấu tăng trưởng từ 10% trở lên trong năm 2026, trong đó một trong những động lực tăng trưởng quan trọng là đầu tư các công trình, dự án trọng điểm, hạ tầng chiến lược với tinh thần "5 hóa" là "số hóa, xanh hóa, tối ưu hóa, thông minh hóa quản trị, hài hòa hóa lợi ích nhà nước, nhân dân và doanh nghiệp".
Thứ hai, yêu cầu các bộ, các ngành, các địa phương, các chủ đầu tư, Ban Quản lý dự án, nhà thầu tiếp tục nâng cao tinh thần trách nhiệm trong triển khai các dự án đầu tư bảo đảm nhanh, kịp thời nhưng phải tuân thủ đúng quy trình, đúng thủ tục, đúng pháp luật; tuyệt đối không để xảy ra sai phạm, tham nhũng, thất thoát, lãng phí tài sản công; kịp thời tháo gỡ khó khăn, rào cản để hoàn thiện thể chế, chính sách, cắt giảm thủ tục hành chính.
Thứ ba, tiếp tục rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch phù hợp với Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV về không gian phát triển mới của đất nước ta với "tầm nhìn dài hạn, nghĩ sâu làm lớn, nhìn xa trông rộng, tiến xa ra biển lớn, tiến sâu vào lòng đất, bay cao vào không gian"; chủ động rà soát, bổ sung các nút giao, điểm kết nối với tuyến cao tốc mới được đầu tư để phát huy tối đa hiệu quả đầu tư dự án; chủ động rà soát, điều chỉnh quy hoạch Tỉnh, trong đó lưu ý phải gắn quy hoạch không gian phát triển mới dọc các tuyến cao tốc.
Thứ tư, các bộ, ngành, địa phương, tiếp tục phát huy những thành tựu đạt được, nỗ lực vượt qua khó khăn, thách thức trên tinh thần "đã cố gắng rồi thì cố gắng hơn nữa", "đã nỗ lực rồi thì nỗ lực hơn nữa", "đã quyết liệt rồi thì quyết liệt hơn nữa", "đã có hiệu quả rồi thì hiệu quả hơn nữa", "đã đoàn kết thống nhất rồi thì đoàn kết thống nhất hơn nữa", "đã phối hợp hiệu quả rồi thì phối hợp hiệu quả hơn nữa".
Thứ năm, các chủ đầu tư chủ động, tích cực chỉ đạo rà soát, kiểm tra đơn giá, định mức, tổng mức đầu tư, quy trình, thủ tục đầu tư, lựa chọn nhà đầu tư, nhà thầu bảo đảm đúng quy định để phòng ngừa sai sót, phòng ngừa tham nhũng, tiêu cực và kịp thời xử lý với tinh thần "làm tốt thì phải động viên, ủng hộ, phải ưu tiên; không làm tốt, làm sai thì phải xử lý theo quy định pháp luật".
Thứ sáu, tiếp tục huy động hệ thống chính trị trong triển khai đầu tư hạ tầng giao thông, nhất là trong công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; luôn bảo đảm nguyên tắc nơi ở sau phải tốt hơn nơi ở cũ trong bố trí tái định cư cho người dân; chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của người dân; khi làm việc với người dân cần phát huy tinh thần "lắng nghe bằng sự chân thành, chia sẻ bằng trái tim, hành động bằng sản phẩm cụ thể".
Thứ bảy, yêu cầu các chủ đầu tư, nhà thầu thi công, tư vấn, công nhân trên công trường tiếp tục phát huy tinh thần "vượt nắng, thắng mưa, không thua bão gió", làm việc "3 ca, 4 kíp", "ăn tranh thủ, ngủ khẩn trương", "làm ngày không đủ, tranh thủ làm đêm", "làm ngày, làm đêm, làm thêm ngày nghỉ", "thần tốc, thần tốc hơn nữa", "táo bạo, táo bạo hơn nữa", "dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm" trong thực hiện nhiệm vụ; tổ chức triển khai các công trình, dự án một cách nhanh nhất có thể với tinh thần "4 không" là "không để lãng phí 1 ngày, không chậm trễ trong 1 tuần, không bỏ lỡ cơ hội trong 1 tháng, không để bị động cả năm"; lưu ý, triển khai nhanh nhưng bền vững, an toàn, không sai sót, không tham nhũng, tiêu cực, lãng phí.
Thứ tám, các cơ quan chủ quản, chủ đầu tư các dự án phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương để huy động các tổ chức xã hội trực thuộc như đoàn thanh niên, hội phụ nữ, lực lượng quân đội nhân dân Việt Nam đóng trên địa bàn… để hỗ trợ trong quá trình triển khai các dự án, đặc biệt tại các dự án đang trong giai đoạn hoàn thiện trước khi đưa vào khai thác cần rất nhiều lao động thủ công và hoàn nguyên, vệ sinh môi trường…
Đồng thời, Thủ tướng Chính phủ cũng yêu cầu các bộ, ngành, địa phương thực hiện một số nhiệm vụ trọng tâm.
Cụ thể, về các dự án chuẩn bị đầu tư, các tỉnh Cao Bằng, Phú Thọ chủ động phối hợp với Bộ Tài chính và các cơ quan liên quan rà soát, nghiên cứu bố trí nguồn vốn từ ngân sách trung ương, sớm phê duyệt chủ trương đầu tư dự án đường bộ cao tốc Hòa Bình - Mộc Châu (Km0 - Km19), Bắc Kạn - Cao Bằng.
Thành phố Hà Nội và tỉnh Bắc Ninh đẩy nhanh tiến độ phê duyệt Báo cáo nghiên cứu khả thi (BCNCKT) dự án đường nối sân bay Gia Bình với Thủ đô Hà Nội, kịp thời phục vụ Hội nghị APEC năm 2027; hoàn thành trong tháng 3 năm 2026.
Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh Phú Thọ, Nghệ An, Gia Lai, Tây Ninh, đẩy nhanh tiến độ lập, phê duyệt BCNCKT dự án Vinh - Thanh Thủy, đường Vành đai 4 Thành phố Hồ Chí Minh, Hòa Lạc - Hòa Bình để khởi công dịp 19 tháng 5 năm 2026.
Thành phố Hồ Chí Minh khẩn trương hoàn thành công tác lựa chọn nhà đầu tư DATP1 Thành phố Hồ Chí Minh - Mộc Bài, hoàn thành trong tháng 4 năm 2026.
Về công tác giải phòng mặt bằng, các tỉnh Bắc Ninh, Đồng Nai, Lâm Đồng khẩn trương giải quyết dứt điểm các khó khăn, vướng mắc đẩy nhanh tiến độ GPMB tại các DATP3 đường Vành đai 4 vùng Thủ đô Hà Nội, Dầu Giây - Tân Phú, Tân Phú - Bảo Lộc, không để ảnh hưởng đến tiến độ thi công.
Thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Cần Thơ và các tỉnh Tuyên Quang, Lạng Sơn, Quảng Trị, Quảng Ngãi, Đắk Lắk, Đồng Nai, Lâm Đồng, An Giang, Cà Mau xử lý dứt điểm tồn tại, vướng mắc để bàn giao toàn bộ phần mặt bằng còn lại của các dự án Tuyên Quang - Hà Giang, DATP2, 3 Khánh Hòa - Buôn Ma Thuột, Hữu Nghị - Chi Lăng, Bến Lức - Long Thành, Thành phố Hồ Chí Minh - Long Thành, DATP2 Biên Hòa - Vũng Tàu, trạm dừng nghỉ dự án Vĩnh Hảo - Phan Thiết tại Km144, hệ thống ITS dự án Cần Thơ - Cà Mau, hàng rào và đường gom các dự án Vạn Ninh - Cam Lộ, Quảng Ngãi - Hoài Nhơn, Quy Nhơn - Chí Thạnh và đường Hồ Chí Minh (đoạn Rạch Sỏi - Bến Nhất, Gò Quao - Vĩnh Thuận, Chợ Chu - Ngã ba Trung Sơn), hoàn thành trước ngày 15 tháng 3 năm 2026.
Về nguyên vật liệu xây dựng, thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh Bắc Ninh, Hưng Yên, Đồng Nai, An Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long ưu tiên cung cấp vật liệu cho các dự án Vành đai 4 vùng Thủ đô Hà Nội, Ninh Bình - Hải Phòng đoạn qua tỉnh Ninh Bình và Hưng Yên, Châu Đốc - Cần Thơ - Sóc Trăng, Cần Thơ - Cà Mau, Mỹ Thuận - Cần Thơ, hoàn thành trong tháng 3 năm 2026.
Về triển khai thi công, Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng, Tuyên Quang, Khánh Hòa, Đắk Lắk, Đồng Nai, Đồng Tháp, Cần Thơ, An Giang, Tây Ninh chỉ đạo các chủ đầu tư, nhà thầu huy động tối đa nguồn lực tài chính, xe máy, thiết bị, khắc phục thời tiết bất lợi, bổ sung thêm các dây chuyền thi công, tổ chức thi công "3 ca, 4 kíp" để hoàn thành các dự án Tuyên Quang - Hà Giang, Hữu Nghị - Chi Lăng, Đồng Đăng - Trà Lĩnh, Cao Lãnh - An Hữu, Khánh Hòa - Buôn Ma Thuột, Vành đai 3 TP Hồ Chí Minh, Châu Đốc - Cần Thơ - Sóc Trăng để sớm hoàn thành, đưa vào khai thác theo kế hoạch đã đề ra.
Thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh Sơn La, Phú Thọ, Hưng Yên, Bắc Ninh, Ninh Bình, Đồng Nai, Gia Lai, Lâm Đồng, An Giang chỉ đạo các chủ đầu tư, nhà thầu đẩy nhanh tiến độ thi công tại các dự án Ninh Bình - Hải Phòng, DATP3 Vành đai 4 vùng Thủ đô Hà Nội, Hòa Bình - Mộc Châu, Thành phố Hồ Chí Minh - Thủ Dầu Một - Chơn Thành, Gia Nghĩa - Chơn Thành, Quy Nhơn - Pleiku, Tân Phú - Bảo Lộc và dự án mở rộng, nâng cấp Cảng hàng không quốc tế Phú Quốc, Phù Cát bảo đảm chất lượng và tiến độ như đã cam kết.
Thành phố Hà Nội chủ trì, phối hợp với Bộ Xây dựng, Bộ Công Thương, EVN và các đơn vị liên quan để thỏa thuận, di dời đồng bộ hạ tầng kỹ thuật giữa dự án Vành đai 4 vùng Thủ đô Hà Nội và dự án đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng; chủ trì, phối hợp với các địa phương nơi dự án đường Vành đai 4 đi qua thống nhất phương án điều chỉnh cơ cấu tổng mức đầu tư giữa các DATP theo thẩm quyền, đúng quy định pháp luật.
Tỉnh Đồng Nai làm việc với Nhà đầu tư Dự án đường cao tốc Gia Nghĩa - Chơn Thành để thống nhất theo thẩm quyền về phương án đầu tư dự án, bảo đảm đúng chủ trương đầu tư dự án đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt để sớm triển khai dự án theo tiến độ đã cam kết; báo cáo Thủ tướng Chính phủ kết quả thực hiện và vướng mắc cần tháo gỡ trong tháng 3 năm 2026.
Thành phố Hồ Chí Minh chủ trì, làm việc với Bộ Xây dựng, VEC để rà soát điều kiện khai thác, thống nhất phương án đưa DATP2 Biên Hòa - Vũng Tàu vào khai thác sớm nhằm giảm tải lưu lượng, bảo đảm an toàn giao thông cho các tuyến lân cận.
Tỉnh Lâm Đồng chủ động làm việc với Nhà đầu tư dự án Bảo Lộc - Liên Khương về chi phí đầu tư, phương án tài chính của dự án để thống nhất phương án đầu tư dự án theo quy mô đường cao tốc hoàn chỉnh để phát huy tối đa hiệu quả đầu tư của dự án; báo cáo Thủ tướng Chính phủ kết quả thực hiện trong tháng 3 năm 2026.
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các địa phương cần rà soát, bổ sung các nút giao, điểm kết nối với tuyến cao tốc mới được đầu tư (nếu cần) để phát huy tối đa hiệu quả đầu tư dự án; chủ động rà soát, điều chỉnh quy hoạch tỉnh, trong đó lưu ý phải gắn quy hoạch không gian phát triển mới dọc các tuyến cao tốc, từ đó tái cơ cấu cây trồng, vật nuôi, sản xuất kinh doanh, khu kinh tế, khu công nghiệp để tận dụng tối đa lợi ích dự án mang lại.
Bộ Xây dựng chỉ đạo các chủ đầu tư, các nhà thầu tổ chức thi công "3 ca, 4 kíp" để sớm hoàn thành các hạng mục còn lại (đường gom, trạm dừng nghỉ, trạm thu phí, hệ thống ITS,...) của các dự án cao tốc Bắc - Nam phía Đông và DATP 2 Biên Hòa - Vũng Tàu, đưa tuyến chính vào khai thác trong tháng 3 năm 2026; tiếp tục chỉ đạo các chủ đầu tư, nhà thầu đẩy nhanh tiến độ thi công dự án Chợ Mới - Bắc Kạn, DATP2 Khánh Hòa - Buôn Ma Thuột, Thành phố Hồ Chí Minh - Trung Lương - Mỹ Thuận, hạng mục nút giao tuyến Mỹ Thuận - Cần Thơ và đường Hồ Chí Minh bảo đảm tiến độ, chất lượng theo yêu cầu. Kiểm tra, rà soát các tuyến cao tốc Cần Thơ - Cà Mau và các tuyến cao tốc quan trọng khác về kỹ, mỹ thuật, chất lượng công trình; kịp thời chỉ đạo khắc phục ngay những hạn chế, bất cập theo quy định pháp luật; tuyệt đối không để chất lượng kém theo quy định, tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm…
Bộ Xây dựng tiếp tục tăng cường theo dõi việc triển khai các dự án do địa phương làm cơ quan chủ quản, phối hợp với địa phương kịp thời tháo gỡ khó khăn, đồng thời phải tăng cường kiểm tra, giám sát để phòng ngừa tham nhũng, tiêu cực...
Bộ Tài chính tiếp tục hướng dẫn các địa phương triển khai các thủ tục về bố trí vốn ngân sách trung ương cho các dự án đường bộ cao tốc để có căn cứ phê duyệt chủ trương đầu tư; lưu ý nguyên tắc ưu tiên các địa phương hạn chế vùng sâu, vùng xa, kinh tế khó khăn, kết nối giao thông chủ yếu thông qua hệ thống đường bộ như các tỉnh khu vực Tây Bắc, Tây Nguyên, Đồng bằng sông Cửu Long, các tỉnh có điều kiện giao thông khó khăn như khu vực Tây Bắc, Tây Nguyên, các dự án thúc đẩy phát triển không gian mới, các dự án cao tốc kết nối khu vực, kết nối quốc tế phục vụ giao thương và bảo đảm an ninh quốc phòng, an sinh xã hội.
Chủ trì hướng dẫn việc thanh toán bằng tiền khi lập BCNCKT dự án BT; phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường hướng dẫn việc xác định giá trị quỹ đất dự kiến thanh toán khi lập BCNCKT dự án BT thanh toán bằng quỹ đất của dự án đường nối sân bay Gia Bình với Thủ đô Hà Nội, hoàn thành trong tháng 3 năm 2026.
Chỉ đạo VEC đẩy nhanh tiến độ thi công dự án Bến Lức - Long Thành, đặc biệt là đẩy nhanh thi công bù lại tiến độ bị chậm của dự án đầu tư mở rộng cao tốc đoạn Thành phố Hồ Chí Minh - Long Thành, bảo đảm hoàn thành, khai thác đồng bộ với Cảng hàng không quốc tế Long Thành giai đoạn 1.
Tiếp tục hướng dẫn, chỉ đạo ACV và các cơ quan, đơn vị liên quan tháo gỡ khó khăn, vướng mắc bảo đảm duy trì hoạt động bình thường của ACV và tiến độ triển khai của dự án Cảng hàng không quốc tế Long Thành giai đoạn 1 đảm bảo hoàn thành các mốc tiến độ theo kết luận của Thường trực Chính phủ tại cuộc họp ngày 26 tháng 01 năm 2026, trên tinh thần không để chậm trễ tiến độ, nâng cao chất lượng, bảo đảm an toàn, sáng, xanh, sạch, đẹp và tiếp tục chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí…
Phó Thủ tướng Nguyễn Chí Dũng ký Quyết định số 445/QĐ-TTg ngày 16/3/2026 thành lập Tổ công tác của Thủ tướng Chính phủ về quy hoạch và thể chế hành chính sau sáp nhập (Tổ công tác).
Theo đó, Bộ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Văn Thắng làm Tổ trưởng Tổ công tác.
Tổ Phó Tổ công tác gồm: Thứ trưởng Bộ Tài chính Trần Quốc Phương (Tổ Phó Thường trực); Thứ trưởng Bộ Nội vụ Trương Hải Long.
Thành viên Tổ công tác gồm: Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Hoàng Hiệp; Thứ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Tường Văn; Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Phạm Ngọc Thưởng; Phó Giám đốc, Học viện Chiến lược khoa học và Công nghệ, Bộ Khoa học và Công nghệ Trần Minh Tân; Phó Vụ trưởng Vụ Kế hoạch - Tài chính, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Vũ Thế Đức; Phó Chánh Văn phòng Bộ Công an, Đại tá Mai Xuân Thảo; Phó Vụ trưởng Vụ Kế hoạch - Tài chính, Bộ Y tế Phan Lê Thu Hằng; Phó Vụ trưởng, Vụ Pháp luật hình sự- hành chính, Bộ Tư pháp Lê Thị Hoà; Phó Cục trưởng Cục Tác chiến, Bộ Tổng tham mưu, Bộ Quốc phòng, Đại tá Bùi Yên Tĩnh; Phó Vụ trưởng, Vụ Kế hoạch tài chính và quản lý doanh nghiệp, Bộ Công Thương Mai Thu Hiền.
Thư ký Tổ công tác gồm: Vụ trưởng Vụ Chính quyền địa phương, Bộ Nội vụ Phan Trung Tuấn; Vụ trưởng Vụ Quản lý quy hoạch, Bộ Tài chính Nguyễn Đức Cảnh.
Chức năng: Tổ công tác có chức năng giúp Thủ tướng Chính phủ nghiên cứu, tham mưu chỉ đạo, phối hợp giải quyết các công việc quan trọng, liên ngành, đề xuất giải pháp để tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc về quy hoạch và thể chế hành chính.
Nhiệm vụ của Tổ công tác: Rà soát, tổng hợp các khó khăn, vướng mắc trong triển khai điều chỉnh quy hoạch thời kỳ 2021 - 2030 sau sáp nhập đơn vị hành chính và triển khai pháp luật về quy hoạch; rà soát, tổng hợp các khó khăn, vướng mắc về thể chế hành chính sau sáp nhập;
Tham mưu, báo cáo Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo giải quyết, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc liên quan đến quy hoạch và thể chế hành chính sau sáp nhập đối với những nội dung thuộc thẩm quyền của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; tham mưu Thủ tướng Chính phủ báo cáo cấp có thẩm quyền giải quyết, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc liên quan đến quy hoạch và thể chế hành chính sau sáp nhập đối với những nội dung vượt thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ và thực hiện các nhiệm vụ khác có liên quan theo phân công, chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ.
Quyền hạn của Tổ công tác: Yêu cầu các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương phối hợp trong quá trình triển khai nhiệm vụ của Tổ công tác; giúp Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo, phối hợp giữa các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương giải quyết những vấn đề quan trọng, liên ngành liên quan đến quy hoạch và thể chế hành chính sau sáp nhập (nếu cần).
Tổ công tác làm việc theo chế độ tập thể, đề cao trách nhiệm cá nhân các thành viên; các thành viên thực hiện nhiệm vụ theo chế độ kiêm nhiệm, chịu trách nhiệm về nhiệm vụ được Tổ trưởng phân công.
Tổ trưởng Tổ công tác được sử dụng con dấu của cơ quan thường trực Tổ công tác để thực hiện nhiệm vụ.
Tổ công tác làm việc trực tiếp, trực tuyến hoặc đề nghị các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương báo cáo bằng văn bản.
Tổ công tác báo cáo Thủ tướng Chính phủ về tháo gỡ khó khăn, vướng mắc liên quan đến quy hoạch và thể chế hành chính sau sáp nhập trước ngày 30 tháng 4 năm 2026.
Bộ Tài chính là cơ quan thường trực của Tổ công tác.
Cơ quan thường trực sử dụng bộ máy hiện có để giúp việc cho Tổ công tác thực hiện nhiệm vụ.
Cơ quan có thành viên tham gia Tổ công tác sử dụng bộ máy hiện có để giúp việc cho thành viên Tổ công tác thực hiện nhiệm vụ được phân công.
Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính vừa ký Quyết định số 450/QĐ-TTg ngày 17/3/2026 về việc điều động, bổ nhiệm ông Tạ Anh Tuấn, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk nhiệm kỳ 2021-2026 giữ chức Thứ trưởng Bộ Tài chính./.