In bài viết

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 19/1/2026 (2)

(Chinhphu.vn) - Văn phòng Chính phủ vừa có Thông cáo báo chí chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 19/1/2026 (2).

19/01/2026 21:36

Quy định chi tiết một số điều Luật Đường sắt

Chính phủ ban hành Nghị định số 16/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều Luật Đường sắt; trong đó, quy định về điều kiện kinh doanh kết cấu hạ tầng đường sắt, kinh doanh vận tải đường sắt.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 19/1/2026 (2)- Ảnh 1.

Tổ chức khi tham gia kinh doanh kết cấu hạ tầng giao thông đường sắt phải đáp ứng các điều kiện quy định

Nghị định 16/2026/NĐ-CP gồm 5 chương, 66 điều quy định chi tiết một số điều của Luật Đường sắt về kết cấu hạ tầng đường sắt; quản lý, bảo trì công trình đường sắt dùng chung với đường bộ và công trình hạ tầng kỹ thuật đấu nối, sử dụng chung với công trình đường sắt; phạm vi bảo vệ công trình đường sắt và hành lang an toàn giao thông đường sắt; quản lý sử dụng đất dành cho đường sắt; kinh doanh kết cấu hạ tầng đường sắt; kinh doanh vận tải đường sắt...

Điều kiện kinh doanh kết cấu hạ tầng đường sắt

Nghị định quy định, tổ chức khi tham gia kinh doanh kết cấu hạ tầng giao thông đường sắt phải có đủ các điều kiện sau:

1- Được thành lập theo quy định của pháp luật.

2- Có bộ phận chuyên môn về: quản lý, bảo trì kết cấu hạ tầng đường sắt; điều hành giao thông vận tải đường sắt; an toàn giao thông đường sắt.

3- Người phụ trách bộ phận quản lý, bảo trì kết cấu hạ tầng phải có trình độ đại học trở lên về một trong số các chuyên ngành xây dựng công trình giao thông, tự động hóa, thông tin tín hiệu giao thông, quản lý xây dựng và có ít nhất 03 năm kinh nghiệm làm việc trong doanh nghiệp quản lý, bảo trì, xây dựng kết cấu hạ tầng đường sắt.

4- Người phụ trách bộ phận điều hành giao thông phải có trình độ đại học trở lên về một trong số các chuyên ngành khai thác vận tải, công nghệ thông tin, tự động hóa hoặc thông tin tín hiệu và có ít nhất 03 năm kinh nghiệm làm việc trong lĩnh vực điều hành giao thông vận tải đường sắt.

5- Người phụ trách bộ phận an toàn giao thông đường sắt phải có trình độ đại học trở lên về một trong số các chuyên ngành khai thác vận tải, cơ khí giao thông, thông tin tín hiệu, xây dựng công trình giao thông và có ít nhất 03 năm kinh nghiệm làm việc trong doanh nghiệp vận tải đường sắt hoặc quản lý, bảo trì kết cấu hạ tầng đường sắt.

Điều kiện kinh doanh vận tải đường sắt

Theo Nghị định 16/2026/NĐ-CP, tổ chức khi tham gia kinh doanh vận tải đường sắt phải có đủ các điều kiện sau:

1- Được thành lập theo quy định của pháp luật.

2- Có bộ phận chuyên môn về tổ chức vận tải đường sắt, an toàn vận tải đường sắt.

3- Người phụ trách bộ phận tổ chức vận tải có trình độ đại học trở lên về một trong số các chuyên ngành kinh tế vận tải, khai thác vận tải, logistics và có ít nhất 03 năm kinh nghiệm làm việc trong doanh nghiệp vận tải đường sắt.

4- Người phụ trách bộ phận an toàn giao thông đường sắt phải có trình độ đại học trở lên về một trong số các chuyên ngành khai thác vận tải, cơ khí giao thông, thông tin tín hiệu, xây dựng công trình và có ít nhất 03 năm kinh nghiệm làm việc trong doanh nghiệp vận tải đường sắt hoặc bảo trì kết cấu hạ tầng đường sắt.

Quyền, nghĩa vụ của doanh nghiệp kinh doanh vận tải đường sắt:

Doanh nghiệp kinh doanh vận tải được sắt được cung cấp các thông tin về dịch vụ điều hành giao thông vận tải đường sắt, các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật liên quan đến năng lực kết cấu hạ tầng đường sắt; được sử dụng kết cấu hạ tầng và dịch vụ điều hành giao thông vận tải đường sắt trên hệ thống đường sắt để kinh doanh theo quy định; tạm ngừng chạy tàu khi xét thấy kết cấu hạ tầng đường sắt có nguy cơ mất an toàn chạy tàu; được bồi thường thiệt hại do lỗi doanh nghiệp kinh doanh kết cấu hạ tầng đường sắt hoặc do tổ chức, cá nhân khác gây ra; các quyền khác theo quy định của pháp luật.

Bên cạnh đó, doanh nghiệp kinh doanh vận tải đường sắt có nghĩa vụ tổ chức chạy tàu theo đúng biểu đồ chạy tàu, công lệnh tải trọng, công lệnh tốc độ đã được công bố; thực hiện vận tải phục vụ nhiệm vụ đặc biệt, an sinh xã hội theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; phải thông báo kịp thời cho doanh nghiệp kinh doanh kết cấu hạ tầng đường sắt khi thực hiện dừng tàu hoặc phải ngừng chạy tàu khi nhận được thông báo của doanh nghiệp kinh doanh kết cấu hạ tầng đường sắt;

Trả phí sử dụng kết cấu hạ tầng đường sắt cho Nhà nước khi sử dụng kết cấu hạ tầng đường sắt quốc gia do Nhà nước đầu tư; trả giá dịch vụ điều hành giao thông vận tải đường sắt khi sử dụng dịch vụ điều hành giao thông vận tải đường sắt cho doanh nghiệp kinh doanh kết cấu hạ tầng đường sắt; bảo đảm đủ điều kiện an toàn chạy tàu trong quá trình khai thác; xây dựng và duy trì hệ thống quản lý an toàn vận hành của phương tiện giao thông đường sắt;

Chịu sự chỉ đạo của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, phối hợp với doanh nghiệp kinh doanh kết cấu hạ tầng đường sắt trong việc phòng, chống thiên tai, xử lý tai nạn giao thông đường sắt theo quy định của pháp luật...

Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 14/01/2026.

Quy định về Cơ sở dữ liệu quốc gia về cán bộ, công chức, viên chức

Chính phủ ban hành Nghị định 27/2026/NĐ-CP ngày 19/1/2026 quy định về Cơ sở dữ liệu quốc gia về cán bộ, công chức, viên chức.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 19/1/2026 (2)- Ảnh 2.

Quản lý, sử dụng dữ liệu, hồ sơ điện tử của cán bộ, công chức, viên chức thuộc danh mục bí mật nhà nước

Nghị định quy định hồ sơ điện tử cán bộ, công chức, viên chức bao gồm:

+ Sơ yếu lý lịch điện tử.

+ Các thành phần hồ sơ khác được tạo lập từ dữ liệu cán bộ, công chức, viên chức.

Mỗi cán bộ, công chức, viên chức có một hồ sơ điện tử được gắn mã định danh duy nhất (mã định danh hồ sơ điện tử) phục vụ công tác quản lý, tra cứu trên môi trường điện tử.

Thống nhất sử dụng số định danh cá nhân làm mã định danh hồ sơ điện tử cán bộ, công chức, viên chức.

Thời hạn lưu trữ hồ sơ điện tử thực hiện theo quy định của pháp luật về văn thư, lưu trữ; pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức và pháp luật về dữ liệu, bảo đảm duy trì tính toàn vẹn, tính sẵn sàng và khả năng truy cập của dữ liệu.

Sơ yếu lý lịch điện tử

Sơ yếu lý lịch điện tử được tạo lập đồng thời với quá trình tạo lập hồ sơ điện tử và gắn với một hồ sơ điện tử duy nhất. Mã số sơ yếu lý lịch điện tử sử dụng thống nhất với mã định danh hồ sơ điện tử.

Cấu trúc của Sơ yếu lý lịch điện tử được tạo lập phù hợp với quy định của pháp luật về quản lý hồ sơ cán bộ, công chức, viên chức. Nguồn dữ liệu tạo lập Sơ yếu lý lịch điện tử từ dữ liệu về cán bộ, công chức, viên chức.

Cập nhật hồ sơ điện tử trong quá trình làm việc, công tác

Cán bộ, công chức, viên chức có trách nhiệm thường xuyên cập nhật các thông tin, dữ liệu của cá nhân khi có phát sinh thay đổi vào hồ sơ điện tử và chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính trung thực, chính xác đối với thông tin, dữ liệu đã cập nhật.

Cơ quan sử dụng cán bộ, công chức, viên chức có trách nhiệm thường xuyên cập nhật các thông tin, dữ liệu của cán bộ, công chức, viên chức phát sinh từ nghiệp vụ quản lý cán bộ, công chức, viên chức vào hồ sơ điện tử và đồng bộ vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về cán bộ, công chức, viên chức trong thời hạn không quá 03 ngày làm việc kể từ khi có thông tin phát sinh.

Đối với các dữ liệu liên quan tới cán bộ, công chức, viên chức sinh ra từ hệ thống thông tin quản lý cán bộ, công chức, viên chức, dữ liệu phải được hệ thống cập nhật vào hồ sơ điện tử và đồng bộ vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về cán bộ, công chức, viên chức chậm nhất 01 ngày sau khi quy trình xử lý nghiệp vụ được hoàn thành.

Đối với các dữ liệu liên quan đến cán bộ, công chức, viên chức sinh ra do nghiệp vụ quản lý của các cơ quan, tổ chức khác, cơ quan chủ quản Cơ sở dữ liệu quốc gia về cán bộ, công chức, viên chức phối hợp với cơ quan chủ quản cơ sở dữ liệu, hệ thống thông tin chứa các dữ liệu này định kỳ hằng tuần thực hiện đồng bộ dữ liệu để thu thập, đối chiếu, cập nhật vào hồ sơ điện tử của cán bộ, công chức, viên chức. Trường hợp các cơ sở dữ liệu, hệ thống thông tin chưa hình thành hoặc chưa đáp ứng yêu cầu kết nối, cán bộ, công chức, viên chức hoặc cơ quan sử dụng cán bộ, công chức, viên chức thực hiện cập nhật dữ liệu trực tiếp vào hồ sơ điện tử cán bộ, công chức, viên chức.

Sử dụng hồ sơ điện tử của cán bộ, công chức, viên chức

Thành phần hồ sơ điện tử trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về cán bộ, công chức, viên chức được sử dụng thay thế các thành phần hồ sơ giấy trong công tác quản lý cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật và cấp có thẩm quyền.

Trường hợp do yêu cầu nghiệp vụ phải sử dụng hồ sơ giấy, cơ quan quản lý hoặc cơ quan, đơn vị sử dụng cán bộ, công chức, viên chức khai thác hồ sơ điện tử của cán bộ, công chức, viên chức trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về cán bộ, công chức, viên chức, chuyển đổi sang bản giấy để sử dụng. Việc chuyển đổi sang bản giấy từ hồ sơ điện tử thực hiện theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử. Cán bộ, công chức, viên chức không phải chuẩn bị lại các thành phần hồ sơ đã có trong hồ sơ điện tử.

Cơ quan quản lý và sử dụng cán bộ, công chức, viên chức không được yêu cầu cán bộ, công chức, viên chức cung cấp lại thông tin, thành phần hồ sơ đã có trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về cán bộ, công chức, viên chức, trừ trường hợp cần thiết nhằm đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức. Trường hợp phát hiện thông tin, dữ liệu có sai lệch, cán bộ, công chức, viên chức, cơ quan quản lý và sử dụng cán bộ, công chức, viên chức có trách nhiệm cập nhật thông tin, dữ liệu thuộc phạm vi thẩm quyền của mình lên hồ sơ điện tử của cán bộ, công chức, viên chức.

Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền chỉ được truy cập, xem hồ sơ điện tử của cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật khi được người đó đồng ý bằng thông điệp điện tử. Cán bộ, công chức, viên chức có quyền rút lại ý kiến đã đồng ý. Trường hợp phục vụ công tác cán bộ, cơ quan quản lý hoặc cơ quan sử dụng cán bộ, công chức, viên chức được phép truy cập, xem hồ sơ điện tử cán bộ, công chức, viên chức trong phạm vi thẩm quyền và nhiệm vụ được giao và có nghĩa vụ bảo mật thông tin, bảo vệ dữ liệu cá nhân theo quy định của pháp luật.

Quản lý, sử dụng dữ liệu, hồ sơ điện tử của cán bộ, công chức, viên chức thuộc danh mục bí mật nhà nước

Đối với các dữ liệu, hồ sơ điện tử của cán bộ, công chức, viên chức thuộc danh mục bí mật nhà nước, cơ quan chủ quản Cơ sở dữ liệu quốc gia về cán bộ, công chức, viên chức; cơ quan chủ quản hệ thống thông tin quản lý cán bộ, công chức, viên chức có trách nhiệm triển khai các giải pháp, biện pháp để bảo đảm bí mật khi quản lý, lưu trữ, truyền đưa, sử dụng trên môi trường điện tử theo quy định của pháp luật.

Việc sao lưu, trích xuất, quản lý, sử dụng dữ liệu, hồ sơ điện tử thuộc danh mục bí mật nhà nước thực hiện theo quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước, pháp luật về cơ yếu.

Nghị định 27/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ 1/7/2026.

Quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật

Chính phủ ban hành Nghị định số 22/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật.

Nghị định này gồm 7 chương, 71 điều quy định chi tiết một số điều của Luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật số 68/2006/QH11 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 35/2018/QH14 và Luật số 70/2025/QH15 (sau đây gọi là Luật) và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật. Trong đó, đáng chú ý là các quy định về cơ sở dữ liệu quốc gia về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng.

Nghị định quy định cơ sở dữ liệu quốc gia về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng là nền tảng số thống nhất, hiện đại, tích hợp dữ liệu liên quan, phục vụ công tác quản lý nhà nước và cung cấp thông tin hỗ trợ tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật.

Cơ sở dữ liệu quốc gia về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng là một cấu phần thuộc nền tảng số quản lý hạ tầng chất lượng quốc gia được xây dựng, vận hành, duy trì để phục vụ quản lý nhà nước, doanh nghiệp, người tiêu dùng và quản lý hạ tầng chất lượng quốc gia theo quy định pháp luật.

Nguyên tắc xây dựng, cập nhật, quản lý, khai thác và sử dụng Cơ sở dữ liệu quốc gia về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng

Nghị định quy định nguyên tắc xây dựng, cập nhật, quản lý, khai thác và sử dụng Cơ sở dữ liệu quốc gia về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng, cụ thể như sau:

Cơ sở dữ liệu quốc gia về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng được xây dựng, quản lý theo hướng kết nối, tập trung, thống nhất, đồng bộ từ trung ương đến địa phương;

Cơ sở dữ liệu quốc gia về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng được xây dựng, cập nhật nhằm cung cấp, chia sẻ, đầy đủ, chính xác, kịp thời các thông tin về hoạt động tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước, phục vụ hiệu quả hoạt động sản xuất, kinh doanh của người dân, doanh nghiệp;

Cơ sở dữ liệu quốc gia về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng đáp ứng các yêu cầu xây dựng, áp dụng, phổ biến, quản lý tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, đo lường, chất lượng bảo đảm hoạt động ổn định, liên tục, mức độ sẵn sàng của hệ thống; bảo đảm an ninh, an toàn thông tin, bảo vệ dữ liệu tổ chức, cá nhân, thuận lợi cho việc thu thập, cập nhật, điều chỉnh, tra cứu, khai thác, sử dụng; bảo đảm kết nối, chia sẻ, quyền khai thác thông tin với Cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành và hệ thống thông tin khác;

Cơ sở dữ liệu quốc gia về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng không áp dụng đối với đối tượng là sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, quá trình, môi trường thuộc danh mục bí mật nhà nước.

Thông tin dữ liệu quốc gia về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng

Nghị định quy định dữ liệu quốc gia về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng, bao gồm 07 thông tin chính sau:

a) Dữ liệu về tiêu chuẩn bao gồm: danh mục về tiêu chuẩn quốc gia; điểm truy xuất tới cơ sở dữ liệu về tiêu chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn khu vực, tiêu chuẩn nước ngoài; thông tin về tiêu chuẩn cơ sở của các tổ chức, hội, hiệp hội, doanh nghiệp; danh sách các tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật về tiêu chuẩn; kết quả rà soát, đánh giá hiệu quả việc áp dụng tiêu chuẩn quốc gia;

b) Dữ liệu về quy chuẩn kỹ thuật bao gồm: dạnh mục quy chuẩn kỹ thuật quốc gia và nội dung của quy chuẩn kỹ thuật quốc gia tương ứng; danh mục quy chuẩn kỹ thuật địa phương và nội dung của quy chuẩn kỹ thuật địa phương tương ứng; danh sách các tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật về quy chuẩn kỹ thuật; kết quả rà soát, đánh giá hiệu quả việc áp dụng quy chuẩn kỹ thuật;

c) Dữ liệu về Ban kỹ thuật tiêu chuẩn quốc gia bao gồm: danh sách các Ban kỹ thuật tiêu chuẩn quốc gia; danh sách thành viên Ban kỹ thuật tiêu chuẩn quốc gia bao gồm: họ tên, học hàm, học vị, thành viên; quá trình công tác; kinh nghiệm công tác; thời hạn hoạt động; các tiêu chuẩn đã tham gia xây dựng; danh sách chuyên gia Việt Nam tham gia vào các Ban kỹ thuật tiêu chuẩn quốc tế; danh sách các tiêu chuẩn quốc tế mà thành viên Ban kỹ thuật tiêu chuẩn quốc gia đã tham gia xây dựng;

d) Dữ liệu về đo lường bao gồm: danh mục các chuẩn đo lường đã được chứng nhận, phê duyệt; danh mục các phương tiện đo đã được phê duyệt mẫu; danh sách kiểm định viên đo lường; danh sách các tổ chức đăng ký cung cấp dịch vụ kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm phương tiện đo, chuẩn đo lường; danh sách các tổ chức kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm được chỉ định; thông tin về hoạt động kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm phương tiện đo nhóm 2 do tổ chức kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm được chỉ định thực hiện; thông tin về hoạt động hiệu chuẩn, thử nghiệm phương tiện đo nhóm 1 do các tổ chức đăng ký cung cấp dịch vụ kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm phương tiện đo, chuẩn đo lường thực hiện; danh sách các tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật về đo lường;

đ) Dữ liệu về hoạt động đánh giá sự phù hợp bao gồm: danh sách tổ chức công nhận đã đăng ký; danh sách tổ chức đánh giá sự phù hợp được chỉ định, danh sách tổ chức đánh giá sự phù hợp đã đăng ký, danh sách tổ chức đánh giá sự phù hợp được công nhận; danh sách công bố hợp chuẩn đối với sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ, quá trình, môi trường, đối tượng khác trong hoạt động kinh tế - xã hội của tổ chức, cá nhân có liên quan (thông tin bao gồm: tên sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ, quá trình, môi trường, đối tượng khác trong hoạt động kinh tế - xã hội; tên, số hiệu tiêu chuẩn tương ứng; tên và địa chỉ của tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm về sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, quá trình, môi trường, đối tượng khác trong hoạt động kinh tế - xã hội; tài liệu kỹ thuật liên quan kèm theo); danh sách công bố hợp quy đối với sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ, quá trình, môi trường, đối tượng khác trong hoạt động kinh tế - xã hội của tổ chức, cá nhân có liên quan (thông tin bao gồm: tên sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ, quá trình, môi trường, đối tượng khác trong hoạt động kinh tế - xã hội; tên, số hiệu tiêu chuẩn tương ứng; tên và địa chỉ của tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm về sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, quá trình, môi trường, đối tượng khác trong hoạt động kinh tế - xã hội; tài liệu kỹ thuật liên quan kèm theo); thông tin về hoạt động chứng nhận hợp chuẩn, thử nghiệm, giám định, xác nhận giá trị sử dụng, kiểm tra xác nhận do các tổ chức đánh giá sự phù hợp thực hiện; thông tin về hoạt động chứng nhận hợp quy do tổ chức chứng nhận được chỉ định thực hiện; thông tin về hoạt động công nhận tổ chức đánh giá sự phù hợp của tổ chức công nhận; danh sách các tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật về đánh giá sự phù hợp.

e) Dữ liệu về thông báo và hỏi đáp về hàng rào kỹ thuật trong thương mại của quốc gia bao gồm thông tin sau: nội dung cam kết rào cản kỹ thuật đối với thương mại (TBT) hoặc tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và quy trình đánh giá sự phù hợp (STRACAP) trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên; danh mục thông báo, hỏi đáp về hàng rào kỹ thuật trong thương mại của Việt Nam; tin tức về hàng rào kỹ thuật trong thương mại.

g) Thông tin phản ánh, xử lý kiến nghị của tổ chức, cá nhân về hoạt động trong lĩnh vực tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng.

Hạ tầng công nghệ thông tin của Cơ sở dữ liệu quốc gia về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng bao gồm các thành phần sau: hạ tầng kỹ thuật công nghệ thông tin; nền tảng chia sẻ, điều phối dữ liệu; hệ thống cơ sở dữ liệu; hệ thống phân tích dữ liệu phục vụ công tác quản lý; hệ thống, phần mềm quản lý, khai thác, cung cấp dịch vụ.

Ngoài ra, Nghị định cũng quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức liên quan trong xây dựng, vận hành, cập nhật Cơ sở dữ liệu quốc gia về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng.

Kế hoạch triển khai thi hành Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú năm 2025

Phó Thủ tướng Thường trực Nguyễn Hòa Bình ký Quyết định số 105/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú năm 2025 (Kế hoạch).

Mục đích ban hành Kế hoạch nhằm xác định cụ thể nội dung công việc, thời hạn, tiến độ hoàn thành và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức có liên quan nhằm bảo đảm triển khai thi hành Luật đồng bộ, thống nhất, hiệu lực, hiệu quả.

Xác định rõ trách nhiệm và cơ chế phối hợp giữa các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các địa phương trong việc tiến hành các hoạt động triển khai thi hành Luật trên phạm vi toàn quốc.

Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức và người dân trong việc triển khai thi hành Luật nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, người bị tạm giam và người bị cấm đi khỏi nơi cư trú.

Rà soát, hệ thống hóa các văn bản quy phạm pháp luật về tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú

Theo Kế hoạch, các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố và đề nghị Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, tổ chức rà soát văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú năm 2025 thuộc thẩm quyền quản lý nhà nước được phân công; thực hiện theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền kịp thời sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc ban hành mới, bảo đảm sự thống nhất, phù hợp với quy định của Luật.

Các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam gửi kết quả rà soát về Bộ Công an trong tháng 02/2026.

Bộ Công an tổng hợp kết quả rà soát, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trong tháng 3/2026.

Xây dựng văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật

Bộ Công an chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, cơ quan, tổ chức có liên quan xây dựng Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú (hướng dẫn khoản 7 Điều 22, khoản 3 Điều 24, khoản 4 Điều 26, khoản 6 Điều 27, khoản 2 Điều 28, khoản 4 Điều 30, khoản 1 Điều 33, khoản 3 Điều 35, khoản 2 Điều 47 Luật) trình Chính phủ trước ngày 30/4/2026.

Bộ Công an chủ trì, phối hợp các cơ quan có liên quan xây dựng Thông tư của Bộ trưởng Bộ Công an ban hành Nội quy cơ sở giam giữ và danh mục đồ vật cấm đưa vào khu vực giam giữ (hướng dẫn khoản 3 Điều 9, khoản 2 Điều 24 Luật); Thông tư của Bộ trưởng Bộ Công an quy định về chế độ của người bị tạm giữ, người bị tạm giam (hướng dẫn khoản 2 và khoản 4 Điều 27, khoản 1 Điều 31 Luật). Thời gian ban hành: Bảo đảm văn bản có hiệu lực từ ngày 01/7/2026.

Bộ Quốc phòng chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan xây dựng Thông tư của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ban hành Nội quy cơ sở giam giữ và danh mục đồ vật cấm đưa vào khu vực giam giữ (hướng dẫn khoản 3 Điều 9, khoản 2 Điều 24 Luật); Thông tư của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định về quy chuẩn kỹ thuật trong thiết kế và xây dựng các cơ sở giam giữ và các tiêu chuẩn ứng dụng khoa học, công nghệ trong quản lý cơ sở giam giữ (hướng dẫn khoản 3 Điều 12 Luật). Thời gian ban hành: Bảo đảm văn bản có hiệu lực từ ngày 01/7/2026.

Tuyên truyền, phổ biến Luật và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật

Bộ Công an chủ trì tổ chức tập huấn Luật và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật nhằm nâng cao trách nhiệm, thống nhất nhận thức cho đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý, cán bộ trực tiếp làm công tác tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú; biên soạn tài liệu về pháp luật tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú cho lực lượng trực tiếp làm công tác tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú.

Bộ Quốc phòng chủ trì, phối hợp với Bộ Công an tổ chức tập huấn Luật và các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật cho lực lượng thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú trong Quân đội nhân dân.

Bộ Tư pháp căn cứ nhiệm vụ theo quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú.

Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch chủ trì, phối hợp với Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật Trung ương, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố chỉ đạo, hướng dẫn các cơ quan thông tấn, báo chí, phát thanh, truyền hình ở trung ương và địa phương tuyên truyền, phổ biến Luật và các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật.

Kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Bùi Thanh Sơn tại Phiên họp lần thứ bảy Ban Chỉ đạo Nhà nước các chương trình, công trình, dự án quan trọng quốc gia, trọng điểm ngành năng lượng

Văn phòng Chính phủ vừa có Thông báo số 33/TB-VPCP kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Bùi Thanh Sơn tại Phiên họp lần thứ bảy Ban Chỉ đạo Nhà nước các chương trình, công trình, dự án quan trọng quốc gia, trọng điểm ngành năng lượng.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 19/1/2026 (2)- Ảnh 3.

Thông báo kết luận nêu rõ, năm 2025 có nhiều khó khăn, thách thức đối với công tác đầu tư xây dựng các công trình, dự án trọng điểm ngành năng lượng. Tuy nhiên, với sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, sự nỗ lực của các bộ, ngành, địa phương, các tập đoàn, chủ đầu tư và đơn vị liên quan, Ban Chỉ đạo đã hoàn thành tốt vai trò điều phối, tháo gỡ khó khăn, góp phần quan trọng thúc đẩy tiến độ các dự án.

Năm 2025, đã hoàn thành và đưa vào vận hành 8 dự án lưới điện quan trọng; khánh thành 3 nhà máy điện lớn; khởi công 2 dự án thủy điện; nhiều dự án nguồn và lưới điện trọng điểm tiếp tục được đẩy nhanh tiến độ. Công tác triển khai các chuỗi dự án khí – điện, các dự án LNG, các dự án lưới điện truyền tải tiếp tục đạt được những kết quả bước đầu rất đáng ghi nhận.

Bên cạnh những kết quả đạt được, cũng còn tồn tại một số hạn chế như: Một số nhiệm vụ được giao còn chậm tiến độ, vẫn còn tình trạng ngại trách nhiệm, chờ ý kiến chỉ đạo. Nhiều địa phương chưa chủ động xử lý dứt điểm các vướng mắc thuộc thẩm quyền, đặc biệt là về bồi thường, giải phóng mặt bằng; một số dự án thi công còn tiềm ẩn rủi ro chậm tiến độ, ảnh hưởng đến kế hoạch cung ứng điện trung và dài hạn.

Tập trung tháo gỡ các "điểm nghẽn" về thủ tục và giải phóng mặt bằng

Phó Thủ tướng yêu cầu trong năm 2026, các bộ, ngành, địa phương cần rà soát lại tình hình triển khai các dự án, làm rõ tiến độ, tình hình thực hiện, khó khăn vướng mắc, trách nhiệm của chủ đầu tư, cơ quan, đơn vị liên quan đối với từng dự án để tập trung theo dõi, đôn đốc, thúc đẩy một cách có trọng tâm, trọng điểm và đạt hiệu quả cao.

Các bộ, ngành, địa phương chủ động rà soát các văn bản quy phạm pháp luật, tập trung tháo gỡ các "điểm nghẽn" về thủ tục và giải phóng mặt bằng, xử lý dứt điểm các vướng mắc về đất đai, môi trường, rừng, biển, quy hoạch, tái định cư theo thẩm quyền. Các địa phương phải xác định công tác giải phóng mặt bằng là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, gắn trách nhiệm người đứng đầu với kết quả thực hiện. Kiên quyết không để tình trạng dự án chậm tiến độ chỉ vì thiếu mặt bằng.

Đồng thời, tập trung thúc đẩy tiến độ các dự án nguồn điện trọng điểm và các chuỗi dự án khí - điện, trong đó bảo đảm tiến độ đóng điện và vận hành thương mại nhà máy nhiệt điện Quảng Trạch I, triển khai thực hiện tốt công tác chuẩn bị đầu tư để khởi công các Dự án nhà máy nhiệt điện LNG Quảng Trạch II và Quảng Trạch III; tiếp tục kiểm soát chặt tiến độ Dự án Long Phú I, Dự án nhà máy thủy điện Trị An mở rộng, nhà máy thủy điện tích năng Bác Ái; thúc đẩy việc triển khai các dự án điện khí LNG, chuỗi khí điện Lô B – Ô Môn, chuỗi khí điện Cá Voi Xanh và chuỗi khí – điện LNG Sơn Mỹ.

Đối với các dự án nhà máy điện khí LNG, các địa phương và chủ đầu tư cam kết tiến độ cụ thể, tăng cường kiểm tra, giám sát và đề xuất hướng xử lý đối với các dự án chậm tiến độ hoặc có nguy cơ không tiếp tục triển khai.

Bên cạnh đó, tập trung chỉ đạo hoàn thành các dự án lưới điện truyền tải, trạm biến áp và đường dây đấu nối, tập trung vào dự án dự kiến thời gian vận hành trong năm 2026, đặc biệt là một số dự án có kế hoạch hoàn thành trong năm 2025 nhưng đến nay chưa hoàn thành; các dự án đảm bảo giải tỏa công suất các nhà máy điện mới; các dự án tăng cường liên kết vùng, nâng cao năng lực truyền tải hệ thống điện quốc gia.

Tăng cường trách nhiệm phối hợp giữa các Bộ, ngành, địa phương và các chủ đầu tư; các địa phương cần chủ động đề xuất cơ chế, giải pháp phù hợp thực tiễn, kịp thời báo cáo Ban Chỉ đạo các vấn đề vượt thẩm quyền để được xem xét, chỉ đạo xử lý hoặc báo cáo Thủ tướng Chính phủ các vấn đề vượt thẩm quyền.

Chủ động xử lý theo thẩm quyền những khó khăn vướng mắc phát sinh liên quan đến chức năng quản lý nhà nước của Bộ, ngành và địa phương trong quá trình triển khai các dự án, chủ động tháo gỡ khó khăn, đẩy nhanh tiến độ các dự án, kịp thời báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ những vấn đề vượt thẩm quyền.

Xử lý các vấn đề phát sinh liên ngành, liên địa phương

Phó Thủ tướng giao Bộ Công Thương tiếp tục phát huy vai trò đầu mối, chủ động tổng hợp tình hình, kịp thời báo cáo, tham mưu cho Trưởng Ban Chỉ đạo trong việc chỉ đạo, điều hòa, phối hợp và xử lý các vấn đề phát sinh liên ngành, liên địa phương; tăng cường phối hợp với các địa phương kiểm tra tình trình triển khai thực tế các dự án tại công trường; chủ động xử lý kịp thời các khó khăn, vướng mắc phát sinh theo chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền trong quá trình triển khai thực hiện các dự án; báo cáo, đề xuất Ban Chỉ đạo và Thủ tướng Chính phủ xử lý nếu có các vấn đề vượt thẩm quyền.

Khẩn trương chỉ đạo các địa phương triển khai việc lựa chọn nhà đầu tư dự án nguồn điện và lưới điện truyền tải trong Kế hoạch, Quy hoạch điện VIII điều chỉnh; thúc đẩy đầu tư để hoàn thành theo đúng tiến độ được phê duyệt, bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia; tăng cường theo dõi, đôn đốc tình hình thực hiện các kết luận, chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và Phó Thủ tướng Chính phủ liên quan đến các công trình, dự án quan trọng quốc gia, trọng điểm ngành năng lượng.

Chủ động rà soát tình hình triển khai các dự án nguồn điện trong Kế hoạch, Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, nhất là các dự án điện nền, bao gồm cả các dự án không thuộc diện theo dõi của Ban Chỉ đạo để đôn đốc thực hiện và điều chỉnh tiến độ các dự án theo thẩm quyền hoặc đề xuất, kiến nghị cấp thẩm quyền xử lý các vấn đề vượt thẩm quyền.

Đưa vào vận hành đúng tiến độ các dự án

Các Tập đoàn EVN, PVN tập trung hoàn thành và đưa vào vận hành đúng tiến độ các dự án trong Danh mục các công trình, dự án quan trọng quốc gia, trọng điểm ngành năng lượng được giao triển khai thực hiện.

Tăng cường phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương trong quá trình xem xét, giải quyết những khó khăn, vướng mắc về thủ tục đầu tư, công tác giải phóng mặt bằng, công tác thi công và các vướng mắc phát sinh trong quá trình triển khai các dự án.

Tập trung phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường để hoàn thiện hồ sơ, thủ tục pháp lý về việc giao khu vực biển để thực hiện hoạt động khảo sát, đẩy nhanh tiến độ triển khai các dự án điện gió ngoài khơi theo đúng quy định của pháp luật.

Sửa đổi, bổ sung quy định về cấp, cấp lại giấy phép khai thác khoáng sản 

Chính phủ ban hành Nghị định số 21/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 193/2025/NĐ-CP ngày 2/7/2025 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Địa chất và khoáng sản và quy định chi tiết Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Địa chất và khoáng sản.

Bổ sung quy định về cấp giấy phép khai thác khoáng sản

Nghị định số 21/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Điều 61 Nghị định số 193/2025/NĐ-CP quy định về cấp giấy phép khai thác khoáng sản. Trong đó, Nghị định số 21/2026/NĐ-CP bổ sung quy định điều kiện cấp giấy phép khai thác khoáng sản nhóm III làm vật liệu xây dựng thông thường để phục vụ cho các công trình, dự án quy định tại các điểm a, b, c, d và đ khoản 1a Điều 55 của Luật Địa chất và khoáng sản.

Về cấp giấy phép khai thác khoáng sản, Nghị định số 21/2026/NĐ-CP quy định như sau:

1- Tổ chức, cá nhân được xem xét cấp giấy phép khai thác khoáng sản khi đáp ứng điều kiện quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 53 của Luật Địa chất và khoáng sản và các điều kiện sau:

a) Là tổ chức, cá nhân có quyền sử dụng thông tin, kết quả thăm dò khoáng sản hợp pháp;

b) Có hồ sơ năng lực tài chính để thực hiện dự án đầu tư khai thác khoáng sản theo quy định tại Điều 55 của Nghị định số 193/2025/NĐ-CP;

c) Đã được cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền chấp thuận hoặc quyết định chủ trương đầu tư đối với dự án đầu tư khai thác khoáng sản trong trường hợp pháp luật về đầu tư, đầu tư công, đầu tư theo phương thức đối tác công tư có yêu cầu; trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này;

d) Đã được cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền phê duyệt kết quả thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc cấp giấy phép môi trường theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường; trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này;

đ) Đã được cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền có ý kiến bằng văn bản về kết quả thẩm định báo cáo đánh giá an toàn theo quy định của pháp luật về năng lượng nguyên tử đối với trường hợp đề nghị khai thác khoáng sản phóng xạ hoặc có chứa chất phóng xạ đi kèm; trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.

2. Tổ chức, cá nhân được xem xét cấp giấy phép khai thác khoáng sản nhóm III làm vật liệu xây dựng thông thường để phục vụ cho các công trình, dự án quy định tại các điểm a, b, c, d và đ khoản 1a Điều 55 của Luật Địa chất và khoáng sản phải đáp ứng các điều kiện sau:

a) Các điều kiện quy định tại khoản 1a Điều 53 và khoản 1b Điều 55 của Luật Địa chất và khoáng sản;

b) Điều kiện quy định tại điểm a khoản 1 Điều này;

c) Hồ sơ dự án đầu tư khai thác khoáng sản phải có nội dung về kỹ thuật an toàn, bảo vệ môi trường, ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường trong khai thác khoáng sản.

Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép khai thác khoáng sản

Về hồ sơ, Nghị định số 21/2026/NĐ-CP quy định hồ sơ đề nghị cấp giấy phép khai thác khoáng sản đối với trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này được lập thành 01 bộ, bao gồm:

- Văn bản đề nghị cấp giấy phép khai thác khoáng sản (bản chính);

- Bản đồ khu vực khai thác khoáng sản, các bản đồ, mặt cắt, bản vẽ thiết kế liên quan (bản chính);

- Báo cáo nghiên cứu khả thi hoặc tài liệu tương đương với báo cáo nghiên cứu khả thi của dự án đầu tư khai thác khoáng sản (bản sao hợp lệ);

- Báo cáo đánh giá tác động môi trường đã được phê duyệt kết quả thẩm định hoặc báo cáo đề xuất cấp giấy phép môi trường đã được cấp giấy phép môi trường theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường (bản sao hợp lệ).

Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép khai thác khoáng sản đối với trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này được lập thành 01 bộ, bao gồm:

- Văn bản đề nghị cấp giấy phép khai thác khoáng sản (bản chính);

- Bản đồ khu vực khai thác khoáng sản, các bản đồ, mặt cắt, bản vẽ thiết kế liên quan (bản chính);

- Phương án về kỹ thuật an toàn, bảo vệ môi trường theo quy định (bản chính).

Nghị định số 21/2026/NĐ-CP nêu rõ đối với khu vực đề nghị cấp giấy phép khai thác khoáng sản nhóm II, nhóm III nằm trên địa bàn từ 02 đơn vị hành chính cấp tỉnh trở lên thì tổ chức, cá nhân đề nghị cấp giấy phép khai thác khoáng sản thực hiện thủ tục cấp giấy phép tại địa phương nơi có diện tích khu vực khai thác khoáng sản chiếm tỷ lệ diện tích lớn nhất, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi tổ chức, cá nhân nộp hồ sơ đề nghị cấp giấy phép khai thác khoáng sản có trách nhiệm lấy ý kiến của Ủy ban nhân dân các tỉnh có diện tích địa giới hành chính thuộc diện tích khu vực khai thác khoáng sản trước khi cấp giấy phép khai thác khoáng sản.

Cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền cấp giấy phép khai thác khoáng sản theo quy định trên thực hiện việc gia hạn, cấp lại, điều chỉnh, cấp đổi, thu hồi giấy phép khai thác khoáng sản, chuyển nhượng quyền khai thác khoáng sản, đóng cửa mỏ khoáng sản đối với giấy phép khai thác khoáng sản đã được cấp trước đó.

Sửa đổi điều kiện cấp lại giấy phép khai thác khoáng sản

Đồng thời, Nghị định số 21/2026/NĐ-CP cũng sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 63 Nghị định số 193/2025/NĐ-CP theo hướng sửa đổi điều kiện cấp lại giấy phép khai thác khoáng sản.

Theo quy định mới, tổ chức, cá nhân được xem xét cấp lại giấy phép khai thác khoáng sản khi đáp ứng đủ các điều kiện sau:

a) Khi thời hạn khai thác khoáng sản đã hết hoặc đã được gia hạn nhưng giấy phép đã hết hiệu lực mà khu vực được phép khai thác còn trữ lượng hoặc khi tổ chức, cá nhân nộp hồ sơ đề nghị gia hạn hoặc cấp lại giấy phép khai thác khoáng sản sau ngày giấy phép khai thác khoáng sản đã hết hiệu lực mà khu vực được phép khai thác còn trữ lượng;

b) Đã hoàn thành các nghĩa vụ quy định tại điểm a khoản 2 Điều 59 của Luật Địa chất và khoáng sản và không vi phạm các nghĩa vụ của pháp luật về khoáng sản đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự đối với giấy phép khai thác khoáng sản đã được cấp trước đó;

c) Được cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền phê duyệt kết quả thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc cấp giấy phép môi trường theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường (nếu có);

d) Được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xác nhận việc thực hiện nghĩa vụ quy định tại điểm b ở trên tính đến thời điểm đề nghị cấp lại giấy phép đối với giấy phép khai thác khoáng sản thuộc thẩm quyền cấp giấy phép của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường;

đ) Được cơ quan có thẩm quyền thẩm định thiết kế cơ sở hoặc thiết kế bản vẽ thi công chấp thuận bằng văn bản đối với nội dung điều chỉnh so với thiết kế cơ sở trong báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng hoặc thiết kế bản vẽ thi công trong báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng theo quy định của pháp luật về xây dựng.

Nghị định số 21/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ 16/1/2026.

Kế hoạch triển khai thi hành Nghị quyết số 248/2025/QH15 của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội để thực hiện đột phá phát triển giáo dục và đào tạo

Phó Thủ tướng Lê Thành Long vừa ký Quyết định số 131/QĐ-TTg ngày 19/01/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Nghị quyết số 248/2025/QH15 của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội để thực hiện đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 19/1/2026 (2)- Ảnh 4.

Nghị quyết số 248/2025/QH15 của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội để thực hiện đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết) kịp thời thể chế hóa các nghị quyết, chủ trương, đường lối của Đảng, nhất là Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý, ban hành các chính sách đột phá, đặc thù để giải quyết vướng mắc, bất cập và tăng cường phân quyền, phân cấp, cải cách thủ tục hành chính trong quản lý nhà nước về giáo dục.

Để việc triển khai thi hành Nghị quyết đồng bộ, thống nhất, kịp thời, hiệu quả, Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Nghị quyết với mục đích xác định cụ thể, đầy đủ, toàn diện các công việc, nhiệm vụ và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, đơn vị có liên quan trong việc tổ chức triển khai thi hành Nghị quyết, bảo đảm kịp thời, thống nhất và hiệu quả, tránh lãng phí nguồn lực.

Phân công nhiệm vụ cơ quan chủ trì và cơ quan phối hợp trong việc thực hiện các hoạt động triển khai thi hành Nghị quyết theo quan điểm "06 rõ: rõ người, rõ việc, rõ thẩm quyền, rõ trách nhiệm, rõ thời gian, rõ kết quả".

Nâng cao nhận thức và trách nhiệm của bộ, ngành và địa phương, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc triển khai thi hành Nghị quyết, tạo sự thống nhất trong nhận thức và hành động, góp phần đưa các điểm mới, tinh thần và mục tiêu của Nghị quyết sớm đi vào cuộc sống, phát huy hiệu quả trong thực tiễn.

Tổ chức quán triệt, truyền thông, phổ biến Nghị quyết và các văn bản quy định chi tiết

Theo Kế hoạch, Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các cơ quan, tổ chức có liên quan tổ chức hội nghị, tọa đàm quán triệt, truyền thông, phổ biến Nghị quyết và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Nghị quyết. Thời gian thực hiện trong năm 2026.

Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp các bộ, cơ quan ngang bộ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các cơ quan, tổ chức có liên quan xây dựng Nghị định của Chính phủ, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Thông tư của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định chi tiết Nghị quyết.

Xây dựng văn bản quy định chi tiết Nghị quyết

Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì xây dựng văn bản quy định chi tiết Nghị quyết. Đồng thời, chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp, các cơ quan, tổ chức có liên quan tiến hành rà soát các văn bản để sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ theo lộ trình, chậm nhất ngày 20/6/2026.

Các bộ, cơ quan ngang bộ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp chủ trì, phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Tư pháp, các cơ quan, tổ chức có liên quan gửi danh mục văn bản cần sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ, ban hành mới về Bộ Giáo dục và Đào tạo trong tháng 02/2026 để theo dõi.

Tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ

Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp, các cơ quan, tổ chức liên quan tổ chức hội nghị, tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ về các nội dung của Nghị quyết. Thời gian thực hiện: Năm 2026 và các năm tiếp theo.

Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo giúp Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ hướng dẫn, theo dõi, kiểm tra, đôn đốc các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các cơ quan khác có liên quan trong việc triển khai thực hiện các nhiệm vụ được nêu trong Kế hoạch theo đúng tiến độ và báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ kết quả thực hiện Kế hoạch này.

Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường có trách nhiệm phối hợp với Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo trong việc ban hành mới các quy định về trình tự, thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất, giao đất, cho thuê đất theo hình thức rút gọn đối với các dự án đầu tư công trung hạn trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định bổ sung.

Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng có trách nhiệm rà soát, thực hiện theo thẩm quyền hoặc tham mưu cơ quan, người có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới các quy định để phù hợp với quy định của Nghị quyết liên quan đến lực lượng vũ trang.

Phê duyệt Chương trình Phát triển Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh thuộc nhóm cơ sở giáo dục đại học hàng đầu châu Á

Phó Thủ tướng Lê Thành Long ký Quyết định số 129/QĐ-TTg ngày 19/1/2026 phê duyệt Chương trình Phát triển Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh thuộc nhóm cơ sở giáo dục đại học hàng đầu châu Á (Chương trình).

Xây dựng Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh theo mô hình đại học đa ngành, đa lĩnh vực

Quan điểm là xây dựng Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh theo mô hình đại học đa ngành, đa lĩnh vực thuộc nhóm hàng đầu châu Á, trở thành trung tâm đại học - nghiên cứu - đổi mới sáng tạo trọng điểm của quốc gia; thực hiện tốt sứ mệnh phát triển nhân lực trình độ cao, bồi dưỡng nhân tài, nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và khởi nghiệp; đồng thời dẫn dắt các xu hướng công nghệ và học thuật, góp phần định hình chính sách phát triển quốc gia.

Ưu tiên đầu tư và phát triển các lĩnh vực trọng điểm, gồm khoa học cơ bản; kỹ thuật - công nghệ then chốt; công nghệ chiến lược, công nghệ lõi và công nghệ số; cùng các lĩnh vực kinh tế - quản trị, môi trường và khoa học xã hội nhân văn, nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững của Thành phố Hồ Chí Minh, Vùng Đông Nam Bộ và cả nước.

Đến năm 2045, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh trở thành hệ thống đại học nghiên cứu hàng đầu châu Á

Chương trình trên thực hiện từ năm 2026 đến năm 2030 với mục tiêu tổng quát đến năm 2030, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh thuộc nhóm cơ sở giáo dục đại học hàng đầu châu Á, là trung tâm đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, phát triển và ứng dụng khoa học công nghệ, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp, góp phần kiến tạo động lực tăng trưởng, không gian phát triển mới, nhanh và bền vững cho đất nước, nhất là Vùng Đông Nam Bộ.

Tầm nhìn đến năm 2045, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh trở thành hệ thống đại học nghiên cứu hàng đầu châu Á, có ít nhất 04 ngành được xếp hạng trong nhóm 50 của bảng xếp hạng quốc tế uy tín; là nơi hội tụ nhân tài và lan tỏa tri thức, văn hóa Việt Nam.

Mục tiêu cụ thể đến năm 2030 là cơ sở giáo dục đại học thuộc nhóm 100 đại học hàng đầu châu Á, có ít nhất một lĩnh vực xếp hạng 100 thế giới theo bảng xếp hạng quốc tế uy tín (trong đó có ngành Toán học); các ngành trí tuệ nhân tạo, khoa học cơ bản thuộc tốp 150 - 250 thế giới theo bảng xếp hạng quốc tế uy tín.

Đào tạo, thu hút ít nhất 1.500 nhà khoa học trẻ và đầu ngành, 100 giáo sư thỉnh giảng, 100 chuyên gia đổi mới sáng tạo; tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ đạt 75%.

Ít nhất 60% các chương trình đào tạo thuộc khối ngành khoa học, kỹ thuật, công nghệ được giảng dạy bằng tiếng Anh, ưu tiên liên kết đào tạo cấp bằng đối với các đại học thuộc tốp 200 thế giới. Tỷ lệ học viên sau đại học (kỹ sư chuyên sâu, thạc sĩ, tiến sĩ) chiếm tối thiểu 30% tổng số người học, trong đó nghiên cứu sinh chiếm 40%...

6 nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm của Chương trình

Để đạt được các mục tiêu trên, Chương trình đưa ra 6 nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm.

1. Hoàn thiện cơ chế, chính sách, đề xuất sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan để Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh: Xây dựng và áp dụng cơ chế thu hút và trọng dụng chuyên gia đầu ngành, nhà khoa học quốc tế, trí thức người Việt Nam ở nước ngoài về khoa học và công nghệ; quy định tiêu chuẩn, điều kiện, quy trình bổ nhiệm, miễn nhiệm chức danh giáo sư, phó giáo sư bảo đảm tiêu chuẩn, điều kiện (hoặc tiêu chuẩn, điều kiện quy đổi đối với các nhà khoa học tài năng) không thấp hơn tiêu chuẩn, điều kiện chung theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo và triển khai thực hiện trong Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2026...

2. Phát triển, nâng cao năng lực đội ngũ giảng viên, nghiên cứu viên, cán bộ quản lý: Xây dựng các chương trình bồi dưỡng nâng cao năng lực quản trị đại học, tư duy chiến lược, quản lý phát triển bền vững và hội nhập quốc tế cho đội ngũ lãnh đạo, quản lý; nâng cao năng lực nghiên cứu, năng lực quốc tế và trình độ chuyên môn cho đội ngũ giảng viên, nghiên cứu viên; xây dựng các chương trình phát triển đội ngũ, thu hút, giữ chân và phát triển các nhà khoa học trẻ xuất sắc, các nhà khoa học đầu ngành, chuyên gia, nhà quản lý và doanh nhân; mở rộng hợp tác sử dụng chung nguồn nhân lực với doanh nghiệp, gắn kết đào tạo - nghiên cứu - đổi mới sáng tạo...

3. Đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo theo chuẩn quốc tế: Đổi mới mạnh mẽ chương trình đào tạo theo chuẩn quốc tế, hiện đại hoá phương thức đào tạo và ứng dụng công nghệ tiên tiến, nhất là trí tuệ nhân tạo; phát triển các ngành trọng điểm như: Toán học, Trí tuệ nhân tạo, Công nghiệp bán dẫn và các chương trình tài năng - liên ngành theo chuẩn quốc tế; xây dựng các chương trình đào tạo tài năng để phát triển nhân tài giai đoạn 2026 - 2030 cho học sinh, sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh trong các lĩnh vực khoa học cơ bản, kỹ thuật và công nghệ then chốt, công nghệ chiến lược, công nghệ lõi; đổi mới phương pháp tuyển sinh theo hướng đánh giá đúng năng lực, phẩm chất người học; tăng cường đào tạo sau đại học, nâng tỷ lệ chương trình đào tạo thuộc khối ngành khoa học, kỹ thuật, công nghệ được giảng dạy bằng tiếng Anh; thực hiện chính sách đào tạo bảo đảm 100% nghiên cứu sinh được miễn học phí và được cấp học bổng thông qua cơ chế trả lương trợ giảng, trợ lý nghiên cứu...

4. Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số: Đầu tư cơ sở vật chất, hạ tầng; gia tăng số lượng công bố quốc tế, số lượng đơn đăng ký sáng chế, văn bằng bảo hộ sáng chế, chuyển giao công nghệ và thương mại hóa kết quả nghiên cứu; hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh, áp dụng cơ chế tài trợ theo hiệu quả đầu ra, phát triển Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh đạt chuẩn quốc tế; phát triển Trung tâm Đổi mới sáng tạo Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh thành hạt nhân kết nối mô hình hợp tác 3 Nhà: Nhà nước - Nhà trường - Doanh nghiệp, là nơi thử nghiệm chính sách hợp tác công - tư - học thuật...

5. Phát triển đô thị Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh thành đô thị công nghệ cao Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh: Phát triển đô thị công nghệ cao Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh theo hướng đô thị công nghệ cao, đại học xanh, thông minh và hiện đại; mở rộng hệ thống nhà ở sinh viên và không gian học tập - nghiên cứu thân thiện; phát triển từ 01 đến 02 bệnh viện đạt tiêu chuẩn chất lượng quốc tế phục vụ cho đào tạo, nghiên cứu khoa học, khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe người dân trong khu vực...

6. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế và tham gia xếp hạng đại học: Xây dựng và triển khai các chương trình thu hút người học quốc tế đến học tập, nghiên cứu tại Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh; mở rộng trao đổi sinh viên quốc tế; thiết lập hợp tác chiến lược với các doanh nghiệp, tổ chức, đại học hàng đầu thế giới để đồng triển khai chương trình liên kết và kiểm định quốc tế.../.