
Ban hành Nghị định số 92/2026/NĐ-CP về chế độ, chính sách đặc thù đối với Hội đồng điều hành Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam.
Chính phủ ban hành Nghị định số 92/2026/NĐ-CP về chế độ, chính sách đặc thù đối với Hội đồng điều hành Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam.
Nghị định này quy định về chế độ, chính sách đặc thù đối với Hội đồng điều hành Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam (Hội đồng điều hành), người làm việc tại Cơ quan giúp việc của Hội đồng điều hành (Cơ quan giúp việc) và Hội đồng tư vấn Trung tâm tài chính quốc tế (Hội đồng tư vấn).
Đối tượng áp dụng là Chủ tịch, Phó Chủ tịch và thành viên Hội đồng điều hành; Người làm việc tại Cơ quan giúp việc và Hội đồng tư vấn; Các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan.
Chế độ, chính sách đối với Hội đồng điều hành
Về chế độ, chính sách đối với Hội đồng điều hành, Nghị định quy định trường hợp Chủ tịch, Phó Chủ tịch và thành viên Hội đồng điều hành làm việc kiêm nhiệm, ngoài tiền lương hằng tháng được hưởng phụ cấp bằng 50% mức lương hiện hưởng (mức lương chức vụ hoặc mức lương theo ngạch công chức cộng phụ cấp chức vụ lãnh đạo). Phụ cấp này không dùng để tính đóng, hưởng chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế.
Trường hợp Chủ tịch Hội đồng điều hành làm việc chuyên trách được hưởng chế độ, chính sách như sau:
a) Được tiếp tục hưởng mức lương và các khoản phụ cấp lương (nếu có) đã hưởng và được hưởng phụ cấp tăng thêm hằng tháng bằng 80% mức lương hiện hưởng. Phụ cấp này không dùng để tính đóng, hưởng chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế.
b) Được hưởng các chế độ, chính sách về tiền thưởng, nhà ở, phương tiện đi lại, điều kiện làm việc, tôn vinh, khen thưởng, chăm sóc y tế, nghỉ dưỡng và nghỉ phép trong năm quy định tại khoản 2, khoản 5, khoản 6 và khoản 7 Điều 24 Nghị định số 231/2025/NĐ-CP ngày 26/8/2025 của Chính phủ quy định về tuyển chọn, sử dụng Tổng công trình sư, Kiến trúc sư trưởng về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Trường hợp thành viên Hội đồng điều hành làm việc chuyên trách được hưởng chế độ, chính sách tương đương với người đứng đầu Cơ quan giúp việc quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 5 Nghị định này.
Chế độ, chính sách đối với người làm việc tại Cơ quan giúp việc
Về chế độ, chính sách đối với người làm việc tại Cơ quan giúp việc, Điều 5 của Nghị định quy định:
Chủ tịch Hội đồng điều hành quyết định tuyển dụng, quản lý, sử dụng cán bộ, công chức, viên chức đến làm việc tại Cơ quan giúp việc. Người đứng đầu và cấp phó của người đứng đầu Cơ quan giúp việc được hưởng chế độ tương đương cấp Vụ thuộc bộ.
Hội đồng điều hành quyết định số lượng và lựa chọn nhân sự làm việc tại Cơ quan giúp việc trên cơ sở đề xuất của người đứng đầu Cơ quan giúp việc.
Người được tuyển dụng hoặc điều động đến làm việc tại Cơ quan giúp việc được hưởng chế độ, chính sách như sau: Được hưởng mức lương theo ngạch công chức, chức danh nghề nghiệp viên chức; phụ cấp chức vụ lãnh đạo (nếu có); phụ cấp thâm niên vượt khung (nếu có) và các khoản phụ cấp lương đối với công chức hành chính; đồng thời được hưởng phụ cấp tăng thêm hằng tháng bằng 80% mức lương hiện hưởng của ngạch công chức, chức danh nghề nghiệp viên chức.
Phụ cấp này không dùng để tính đóng, hưởng chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế.
Trường hợp người được thu hút theo diện tài năng hoặc cán bộ, công chức, viên chức được đánh giá là người có năng lực, chuyên môn nổi trội, xuất sắc được cơ quan, đơn vị quản lý xác định là người tài năng thì được hưởng phụ cấp tăng thêm hằng tháng bằng 150% mức lương hiện hưởng theo quy định tại Nghị định số 179/2024/NĐ-CP ngày 31/12/2024 của Chính phủ quy định về chính sách thu hút, trọng dụng người có tài năng làm việc trong cơ quan, tổ chức, đơn vị của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội.
Được đầu tư trang thiết bị, phương tiện làm việc để triển khai thực hiện tốt nhiệm vụ được giao. Trường hợp cần thiết được đầu tư nguồn lực và các trang thiết bị đặc biệt để thực hiện các nội dung của chương trình, đề án, đề tài, công trình nghiên cứu khoa học đã được cấp có thẩm quyền đánh giá là khả thi, đề nghị áp dụng trong thực tiễn.
Được xem xét cử tham gia các hội thảo, lớp tập huấn trong nước và quốc tế liên quan đến ngành nghề, lĩnh vực công tác, nhiệm vụ được giao và định hướng phát triển hoặc các chương trình đào tạo, bồi dưỡng kiến thức ngắn hạn tối đa 01 năm, các khóa học cấp chứng chỉ quốc tế chuyên sâu trong nước và quốc tế liên quan đến ngành nghề, lĩnh vực công tác, nhiệm vụ được giao và định hướng phát triển.
Sau khi kết thúc thời gian làm việc, được đánh giá hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên thì được cơ quan quản lý cán bộ, công chức, viên chức bố trí vị trí việc làm bằng hoặc cao hơn vị trí việc làm đã đảm nhận.
Trường hợp được đánh giá hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được xem xét bổ nhiệm giữ chức vụ lãnh đạo cao hơn chức vụ lãnh đạo đã đảm nhiệm; được cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định theo trường hợp đặc biệt còn thiếu tiêu chuẩn, điều kiện về quy hoạch, độ tuổi, thời gian giữ chức vụ tương đương.
Trường hợp không đáp ứng yêu cầu của công việc thì được điều động trở lại cơ quan, đơn vị trước khi đến làm việc tại Cơ quan giúp việc. Cơ quan quản lý cán bộ, công chức, viên chức có trách nhiệm bố trí công việc phù hợp với năng lực của cán bộ, công chức, viên chức và điều kiện thực tế của cơ quan, tổ chức, đơn vị.
Trường hợp bị xếp loại chất lượng ở mức không hoàn thành nhiệm vụ gắn với thực thi chức trách nhiệm vụ, công việc được giao thì thực hiện tinh giản biên chế theo quy định hiện hành về tinh giản biên chế.
Người đứng đầu Cơ quan giúp việc căn cứ nhu cầu công việc quyết định ký kết hợp đồng lao động để thực hiện công việc hỗ trợ, phục vụ tại Cơ quan giúp việc; mức tiền lương và tiền thưởng theo cơ chế thỏa thuận trên cơ sở yêu cầu công việc, năng lực, đóng góp và kết quả thực hiện nhiệm vụ của người lao động.
Chế độ, chính sách đối với chuyên gia của Hội đồng tư vấn
Về Chế độ, chính sách đối với chuyên gia của Hội đồng tư vấn, Nghị định quy định:
Căn cứ nhu cầu sử dụng, nhiệm vụ và mục tiêu hoạt động của Hội đồng điều hành, Chủ tịch Hội đồng điều hành ký hợp đồng lao động đối với các chuyên gia tài chính, pháp lý uy tín trong nước và quốc tế để làm thành viên của Hội đồng tư vấn.
Các chuyên gia làm việc tại Hội đồng tư vấn theo chế độ hợp đồng lao động; hưởng lương theo cơ chế thỏa thuận. Chủ tịch Hội đồng điều hành quyết định mức lương, nội dung thỏa thuận trong hợp đồng lao động đối với các chuyên gia của Hội đồng tư vấn trên cơ sở yêu cầu công việc, năng lực, đóng góp của chuyên gia; học hàm, học vị, kinh nghiệm trong lĩnh vực chuyên môn và kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao.
Chuyên gia là người Việt Nam làm việc tại Hội đồng tư vấn trong độ tuổi lao động theo quy định của pháp luật về lao động, sau khi kết thúc thời gian làm việc tại Hội đồng tư vấn nếu có nguyện vọng công tác lâu dài tại cơ quan, tổ chức, đơn vị trong hệ thống chính trị thì được cấp có thẩm quyền xem xét tiếp nhận vào làm công chức, viên chức, được hưởng tiền lương theo vị trí việc làm đảm nhận và được hưởng thêm phụ cấp bằng 150% mức lương theo ngạch công chức, chức danh nghề nghiệp viên chức trong thời hạn 05 năm. Thời gian làm việc tại Hội đồng tư vấn được tính làm căn cứ xếp lương theo vị trí việc làm khi được tuyển dụng.
Chính phủ ban hành Nghị định số 98/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo trợ, trợ giúp xã hội và trẻ em.
Nghị định này quy định hành vi vi phạm hành chính; hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với từng hành vi vi phạm hành chính; đối tượng bị xử phạt; thẩm quyền xử phạt, mức phạt tiền cụ thể theo từng chức danh và thẩm quyền lập biên bản đối với vi phạm hành chính; việc thi hành các hình thức xử phạt vi phạm hành chính, các biện pháp khắc phục hậu quả trong lĩnh vực bảo trợ, trợ giúp xã hội và trẻ em.
Nghị định quy định mức phạt tiền tối đa trong lĩnh vực bảo trợ, trợ giúp xã hội và trẻ em đối với cá nhân là 50.000.000 đồng, đối với tổ chức là 100.000.000 đồng.
Trong đó, hành vi vi phạm quy định về khai hưởng chính sách trợ giúp xã hội, trợ cấp hưu trí xã hội, hỗ trợ nạn nhân bị mua bán người bị phạt từ 500.000 đồng đến 5.000.000 đồng.
Hành vi vi phạm quy định về hỗ trợ nạn nhân bị mua bán ngưòi, người đang trong quá trình xác định là nạn nhân bị mua bán bị phạt từ 3.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
Lợi dụng việc nhận chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ để trục lợi bị phạt tới 30 triệu đồng
Hành vi vi phạm quy định về trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng của người đứng ra nhận chăm sóc, nuôi dưỡng đối tượng bảo trợ xã hội, người cao tuổi, người khuyết tật và trẻ em tại cộng đồng bị phạt từ 10.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng. Cụ thể:
Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với người đứng ra nhận nuôi dưỡng, chăm sóc thực hiện một trong các hành vi sau đối với đối tượng được nhận chăm sóc, nuôi dưỡng tại cộng đồng nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự: Bắt nhịn ăn; bắt nhịn uống; không cho hoặc hạn chế vệ sinh cá nhân; bắt sống ở nơi có môi trường độc hại, nguy hiểm; lăng mạ, ngược đãi, xúc phạm, hành hạ, phân biệt đối xử đối với đối tượng bảo trợ xã hội, người cao tuổi, người khuyết tật và trẻ em.
Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với người đứng ra nhận chăm sóc, nuôi dưỡng thực hiện một trong các hành vi nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự sau: Lợi dụng việc nhận chăm sóc, nuôi dưỡng để trục lợi; ép buộc đối tượng được nhận chăm sóc, nuôi dưỡng lao động nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm.
Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với người đứng ra nhận chăm sóc, nuôi dưỡng thực hiện một trong các hành vi nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự sau: Dụ dỗ, lôi kéo đối tượng được nhận chăm sóc, nuôi dưỡng thực hiện hành vi vi phạm pháp luật; ép buộc đối tượng được nhận chăm sóc, nuôi dưỡng thực hiện hành vi vi phạm pháp luật.
Nghị định quy định hành vi vi phạm về hoạt động của các loại hình cơ sở trợ giúp xã hội, cơ sở chăm sóc người cao tuổi, cơ sở chăm sóc người khuyết tật, cơ sở hỗ trợ nạn nhân, cơ sở cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em (Cơ sở) bị phạt từ 1.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.
Hành vi vi phạm quy định về trách nhiệm của tổ chức dịch vụ chi trả bị phạt từ 3.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.
Kỳ thị, phân biệt đối xử người khuyết tật bị phạt tới 5 triệu đồng
Nghị định quy định hành vi vi phạm quy định về hành vi bị nghiêm cấm đối với người khuyết tật bị phạt từ 3.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng. Trong đó:
Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau: Kỳ thị, phân biệt đối xử người khuyết tật; cản trở quyền kết hôn, quyền nuôi con hợp pháp của người khuyết tật; cản trở người khuyết tật sống độc lập, hòa nhập cộng đồng; cản trở người khuyết tật tham gia bình đẳng vào các hoạt động xã hội; cản trở người khuyết tật thực hiện quyền tiếp cận công nghệ thông tin.
Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi không thực hiện trách nhiệm nuôi dưỡng, chăm sóc người khuyết tật theo quy định của pháp luật.
Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi lợi dụng hình ảnh, thông tin cá nhân, tình trạng của người khuyết tật, tổ chức của người khuyết tật, tổ chức vì người khuyết tật để trục lợi hoặc thực hiện hành vi vi phạm pháp luật nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với hành vi lôi kéo, dụ dỗ hoặc ép buộc người khuyết tật thực hiện hành vi vi phạm pháp luật nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
Ép buộc trẻ em đi xin ăn bị phạt tới 40 triệu đồng
Đối với các hành vi vi phạm quy định về cấm lạm dụng, bóc lột trẻ em, Nghị định quy định phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với một trong các hành vi bắt trẻ em làm công việc gia đình quá sức, quá thời gian, ảnh hưởng đến việc học tập, vui chơi, giải trí, ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của trẻ em.
Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với một trong các hành vi nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự sau: Tổ chức, ép buộc trẻ em đi xin ăn; cho thuê, cho mượn trẻ em hoặc sử dụng trẻ em để xin ăn; dẫn dắt, rủ rê, xúi giục, dụ dỗ, lôi kéo, kích động, lợi dụng, ép buộc làm trung gian giao dịch hoạt động bóc lột trẻ em; dẫn dắt, rủ rê, xúi giục, dụ dỗ, lôi kéo, kích động, lợi dụng, bắt trẻ em lao động trái quy định của pháp luật.
Phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với hành vi lợi dụng hình ảnh, thông tin cá nhân của trẻ em để tạo ra nội dung gây tổn hại đến sự phát triển thể chất và tinh thần của trẻ hoặc để trục lợi nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
Bán chất gây nghiện, thực phẩm không bảo đảm an toàn cho trẻ em bị phạt tới 40 triệu đồng
Nghị định quy định phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau: Cung cấp sản phẩm, dịch vụ không an toàn, gây tổn hại cho trẻ em; bán chất gây nghiện, chất kích thích khác, thực phẩm không bảo đảm an toàn, có hại cho trẻ em; cho trẻ em sử dụng chất gây nghiện, chất kích thích khác, thực phẩm không bảo đảm an toàn, có hại cho trẻ em.
Mức phạt tiền trên là mức phạt được áp dụng đối với hành vi vi phạm hành chính của cá nhân. Riêng mức phạt đối với hành vi vi phạm quy định về trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng của người đứng ra nhận chăm sóc, nuôi dưỡng đối tượng bảo trợ xã hội, người cao tuổi, người khuyết tật và trẻ em tại cộng đồng áp dụng cho tổ chức.
Nghị định nêu rõ, đối với cùng một hành vi vi phạm hành chính thì mức phạt tiền đối với tổ chức gấp hai lần mức phạt tiền đối với cá nhân.
Chính phủ ban hành Nghị định số 101/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp để hướng dẫn thi hành Luật Chuyển giao công nghệ. Trong đó, đáng chú ý là các chính sách hỗ trợ, khuyến khích doanh nghiệp ứng dụng, đổi mới công nghệ.
Nghị định này gồm 8 chương, 69 điều quy định chi tiết một số điều của Luật Chuyển giao công nghệ số 07/2017/QH14, được sửa đổi bổ sung bởi Luật Giá số 16/2023/QH15, Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo số 93/2025/Qh15 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chuyển giao công nghệ số 115/2025/QH15 về: thẩm định công nghệ; danh mục công nghệ, quản lý hoạt động chuyển giao công nghệ; kiểm tra, giám sát công nghệ trong dự án đầu tư và kiểm tra hoạt động chuyển giao công nghệ; biện pháp hỗ trợ, thúc đẩy chuyển giao công nghệ, ứng dụng đổi mới công nghệ và phát triển thị trường khoa học và công nghệ; thẩm quyền, trình tự, thủ tục, điều kiện hoạt động của tổ chức đánh giá, thẩm định giá, giám định công nghệ; trách nhiệm của các bộ, ngành, địa phương, tổ chức, cá nhân liên quan.
Nghị định này áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan đến hoạt động thẩm định công nghệ; chuyển giao công nghệ; biện pháp khuyến khích chuyển giao công nghệ, ứng dụng, đổi mới công nghệ và phát triển thị trường khoa học và công nghệ, kiểm tra, giám sát công nghệ dự án đầu tư và hoạt động chuyển giao công nghệ.
Về chính sách hỗ trợ, khuyến khích ứng dụng, đổi mới công nghệ, Nghị định quy định 4 hình thức hỗ trợ như sau:
1. Hỗ trợ doanh nghiệp có dự án thuộc lĩnh vực ưu đãi đầu tư, địa bàn ưu đãi đầu tư nhận chuyển giao công nghệ từ tổ chức khoa học và công nghệ
Điều kiện đối với doanh nghiệp được hỗ trợ:
a) Có dự án thuộc ngành, nghề ưu đãi đầu tư, địa bàn ưu đãi đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư;
b) Có hợp đồng chuyển giao công nghệ hoặc Giấy chứng nhận đăng ký chuyển giao công nghệ theo quy định của pháp luật về chuyển giao công nghệ;
Hình thức hỗ trợ:
Các doanh nghiệp đáp ứng điều kiện nêu trên được hỗ trợ thông qua chương trình, nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo hoặc hoạt động phát triển hệ thống đổi mới sáng tạo, hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo, thúc đẩy văn hóa đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp sáng tạo theo quy định của pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
2. Khuyến khích hình thức hợp tác giữa doanh nghiệp với cơ quan, tổ chức, cá nhân để triển khai các dự án đầu tư đổi mới công nghệ, khởi nghiệp sáng tạo, phát triển kết cấu hạ tầng phục vụ phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Cụ thể:
Nhà nước khuyến khích doanh nghiệp hợp tác với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài, đặc biệt là cơ sở giáo dục đại học, viện nghiên cứu, trung tâm đổi mới sáng tạo, trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo theo các hình thức sau đây (*):
a) Hợp tác phát triển công nghệ, hoàn thiện công nghệ để hình thành sản phẩm mẫu, tổ chức thử nghiệm, trình diễn, kiểm nghiệm công nghệ; hiệu chỉnh và làm chủ công nghệ, dây chuyền sản xuất, quy trình kỹ thuật trên cơ sở nhu cầu của doanh nghiệp;
b) Hợp tác chuyển giao công nghệ, thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo giữa cơ sở giáo dục đại học, viện nghiên cứu, các tổ chức khoa học và công nghệ với doanh nghiệp; hình thành doanh nghiệp từ kết quả nghiên cứu, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo; liên kết chuỗi giá trị sản phẩm, dịch vụ dựa trên công nghệ; tổ chức hoạt động ươm tạo, tăng tốc doanh nghiệp khoa học và công nghệ;
c) Hợp tác đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng chung nguồn nhân lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, bao gồm: đặt hàng đào tạo nhân lực công nghệ; trao đổi chuyên gia giữa doanh nghiệp và cơ sở giáo dục đại học, viện nghiên cứu; bố trí sinh viên, nghiên cứu viên, kỹ sư thực tập, làm việc trong doanh nghiệp gắn với nhiệm vụ nghiên cứu, đổi mới công nghệ; đào tạo, bồi dưỡng năng lực nghiên cứu phát triển, quản trị công nghệ, quản trị đổi mới sáng tạo và phát triển mô hình kinh doanh mới;
d) Hợp tác công - tư trong đầu tư, quản lý vận hành phòng thí nghiệm, cơ sở kỹ thuật, trung tâm đổi mới sáng tạo, trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo, cơ sở ươm tạo, khu làm việc chung, tổ chức trung gian của thị trường khoa học và công nghệ, hạ tầng kỹ thuật, không gian thử nghiệm, trình diễn công nghệ, nền tảng số và cơ sở dữ liệu phục vụ ứng dụng, chuyển giao, đổi mới công nghệ và đổi mới sáng tạo theo quy định của pháp luật về đầu tư theo phương thức đối tác công tư và pháp luật có liên quan;
đ) Hợp tác khai thác, chia sẻ dữ liệu, thông tin về công nghệ, kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, tài sản trí tuệ, nhu cầu công nghệ, chuyên gia công nghệ thông qua nền tảng số quản lý khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia và các hệ thống thông tin theo quy định của pháp luật;
e) Hợp tác xây dựng và phát triển hệ thống đổi mới sáng tạo, hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo; phát triển mạng lưới chuyên gia; tổ chức hội thảo, diễn đàn, sự kiện thúc đẩy văn hóa đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp sáng tạo.
Doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia các hình thức hợp tác quy định tại (*) được ưu tiên xem xét áp dụng các biện pháp hỗ trợ sau đây:
a) Được hỗ trợ theo quy định tại Điều 31 của Nghị định này đối với dự án đầu tư đổi mới công nghệ, hoạt động chuyển giao công nghệ đáp ứng điều kiện theo quy định của pháp luật về đầu tư và pháp luật về chuyển giao công nghệ;
b) Được ưu tiên xem xét, đặt hàng, giao trực tiếp, tuyển chọn thực hiện nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo theo quy định của pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo;
c) Được ưu tiên sử dụng, khai thác dịch vụ của phòng thí nghiệm, cơ sở kỹ thuật, trung tâm đổi mới sáng tạo, trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo, cơ sở ươm tạo, khu làm việc chung, tổ chức trung gian của thị trường khoa học và công nghệ, hạ tầng kỹ thuật, không gian thử nghiệm, trình diễn công nghệ, nền tảng số và cơ sở dữ liệu;
d) Được ưu tiên xem xét hỗ trợ thông qua Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia, quỹ phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở trung ương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và các quỹ hợp pháp khác theo quy định của pháp luật;
đ) Được ưu tiên tham gia, nhận hỗ trợ theo quy định tại Điều 53 và Điều 54 của Nghị định này và pháp luật có liên quan; tham gia mạng lưới đổi mới sáng tạo, sự kiện, diễn đàn trong nước và quốc tế về công nghệ, đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp sáng tạo;
e) Được ưu tiên xem xét tôn vinh, khen thưởng, ghi nhận thành tích về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo theo quy định của pháp luật.
Kinh phí thực hiện các biện pháp hỗ trợ được bố trí từ kinh phí sự nghiệp khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia; quỹ phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở trung ương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; các chương trình, nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
3. Hỗ trợ tổ chức, doanh nghiệp thực hiện hoạt động chuyển giao công nghệ
Nghị định quy định tổ chức, doanh nghiệp được Nhà nước hỗ trợ thực hiện hoạt động chuyển giao công nghệ bao gồm: bên chuyển giao công nghệ, bên nhận chuyển giao công nghệ, tổ chức trung gian của thị trường khoa học và công nghệ.
Các đối tượng này được ưu tiên xem xét hỗ trợ, đặt hàng thực hiện nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, hoạt động hỗ trợ nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, ứng dụng công nghệ, chuyển giao công nghệ, đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp sáng tạo thông qua Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia, quỹ phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở trung ương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, các nguồn hỗ trợ hợp pháp khác theo quy định của pháp luật.
4. Hỗ trợ phát triển mạng lưới tổ chức thực hiện hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể, cá nhân kinh doanh
Nghị định quy định mạng lưới các tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 35 của Luật số 07/2017/QH14 được sửa đổi, bổ sung tại khoản 15 Điều 1 của Luật số 115/2025/QH15 được ưu tiên đầu tư xây dựng và phát triển từ nguồn ngân sách Nhà nước dành cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Việc hỗ trợ các hoạt động phát triển mạng lưới được thực hiện thông qua một hoặc một số hình thức sau đây:
a) Thông qua các chương trình, nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo;
b) Giao nhiệm vụ, đặt hàng các tổ chức trong mạng lưới phối hợp thực hiện hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp;
c) Tổ chức, hỗ trợ hoạt động của các câu lạc bộ, diễn đàn, mạng lưới liên kết giữa các tổ chức hỗ trợ và doanh nghiệp;
d) Ưu tiên kết nối, tham gia các nền tảng, chương trình, mạng lưới trong nước và quốc tế phục vụ hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp.
Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/4/2026.
Chính phủ ban hành Nghị định số 112/2026/NĐ-CP ngày 01/4/2026 về trao đổi quốc tế kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và tín chỉ các-bon.
Nghị định này quy định về trao đổi kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, tín chỉ các-bon với đối tác quốc tế nhằm thực hiện Thỏa thuận Paris thuộc Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu, hỗ trợ thực hiện mục tiêu giảm nhẹ phát thải khí nhà kính quốc gia và các mục tiêu giảm nhẹ phát thải khí nhà kính khác.
Nghị định này áp dụng đối với cơ quan, tổ chức thực hiện trao đổi quốc tế kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, tín chỉ các-bon.
Nguyên tắc trao đổi quốc tế kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, tín chỉ các-bon
Nghị định quy định trao đổi quốc tế kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, tín chỉ các-bon phải bảo đảm:
a) Tuân thủ quy định của Thỏa thuận Paris; hỗ trợ phát triển, chuyển giao công nghệ giảm phát thải khí nhà kính, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, thúc đẩy phát triển kinh tế các-bon thấp tại Việt Nam;
b) Ưu tiên thực hiện mục tiêu giảm nhẹ phát thải khí nhà kính trong NDС của Việt Nam và các mục tiêu giảm nhẹ phát thải khí nhà kính theo các điều ước quốc tế và cam kết quốc tế;
c) Bảo đảm lợi ích quốc gia và hài hòa lợi ích giữa các bên tham gia, có đóng góp cho sự phát triển bền vững của cộng đồng địa phương nơi thực hiện chương trình, dự án.
Hoạt động trao đổi quốc tế kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, tín chỉ các-bon giữa Việt Nam với đối tác quốc tế phải được ghi nhận, công bố trên Hệ thống đăng ký quốc gia của Việt Nam.
Nghị định quy định Bộ Nông nghiệp và Môi trường cấp văn bản chấp thuận chuyển giao quốc tế kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và tín chỉ các-bon sau khi kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, tín chỉ các-bon được cấp.
Kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, tín chỉ các-bon đã bị thu hồi, hoặc hết hiệu lực thì không được chuyển giao quốc tế.
Việc điều chỉnh tương ứng đối với lượng kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính được chuyển giao quốc tế (viết tắt là ITMO) giữa Việt Nam với các đối tác quốc tế được thực hiện theo quy định của Thỏa thuận Paris.
Tỷ lệ chuyển giao quốc tế
Về tỷ lệ chuyển giao quốc tế, Nghị định quy định như sau:
1. Trường hợp chuyển giao quốc tế có điều chỉnh tương ứng, tỷ lệ chuyển giao tối đa đối với lượng kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, tín chỉ các-bon được cấp cho giai đoạn tạo kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, tín chỉ các-bon được quy định như sau:
a) 90% đối với các chương trình, dự án theo các biện pháp, hoạt động giảm phát thải khí nhà kính thuộc danh mục số 01 tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này;
b) 50% đối với các chương trình, dự án theo các biện pháp, hoạt động giảm phát thải khí nhà kính thuộc danh mục số 02 tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này.
2. Trường hợp chuyển giao quốc tế không điều chỉnh tương ứng, tỷ lệ chuyển giao tối đa là 90% lượng kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, tín chỉ các-bon được cấp cho một giai đoạn tạo kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, tín chỉ các-bon đối với tất cả chương trình, dự án.
Lượng kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, tín chỉ các-bon còn lại sau khi chuyển giao quốc tế được phép sử dụng để trao đổi trong nước.
Căn cứ tình hình thực tiễn, bộ quản lý lĩnh vực đề xuất việc điều chỉnh, bổ sung danh mục biện pháp, hoạt động giảm phát thải khí nhà kính chuyển giao quốc tế tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này gửi Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.
Bán kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, tín chỉ các-bon
Nghị định quy định cơ quan chủ quản chương trình, dự án đầu tư công quyết định việc bán kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, tín chỉ các-bon từ các chương trình, dự án đó.
Việc bán kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, tín chỉ các-bon từ các chương trình, dự án đầu tư công phải lấy ý kiến của bộ quản lý lĩnh vực, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Công an và các cơ quan, tổ chức có liên quan.
Cơ quan, tổ chức được lấy ý kiến có trách nhiệm trả lời bằng văn bản trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản xin ý kiến.
Nguồn thu từ việc trao đổi kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, tín chỉ các-bon hình thành từ dự án đầu tư theo phương thức đối tác công tư (dự án PPP) được ghi nhận là doanh thu của dự án PPP và được quản lý theo quy định của pháp luật về đầu tư theo phương thức đối tác công tư.
Đối với các dự án PPP đã được ký kết hợp đồng dự án và/hoặc có phương án tài chính mà có nhu cầu trao đổi kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, tín chỉ các-bon thì cơ quan ký kết hợp đồng và nhà đầu tư tiến hành điều chỉnh hợp đồng dự án PPP và/hoặc phương án tài chính.
Khoản tiền thu được từ việc bán kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, tín chỉ các-bon từ các chương trình, dự án đầu tư công là khoản thu ngân sách nhà nước và được quản lý, sử dụng theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.
Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 19/5/2026.
Chính phủ ban hành Nghị định số 102/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 75/2019/NĐ-CP ngày 26/9/2019 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực cạnh tranh.
Thay đổi mức phạt tiền đối với hành vi vi phạm hành chính về cạnh tranh
Trong đó, Nghị định số 102/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số khoản của Điều 4 Nghị định số 75/2019/NĐ-CP về mức phạt tiền đối với hành vi vi phạm hành chính về cạnh tranh.
Cụ thể, Nghị định số 102/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung khoản 3 theo hướng nâng mức phạt tiền trong trường hợp tổng doanh thu của doanh nghiệp có hành vi vi phạm trên thị trường liên quan trong năm tài chính liền kề trước năm thực hiện hành vi vi phạm bằng 0 và mở rộng trường hợp áp dụng quy định này trong trường hợp các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế không trên cùng thị trường liên quan, không kinh doanh ở các công đoạn khác nhau trong cùng một chuỗi sản xuất, phân phối, cung ứng đối với một loại hàng hóa, dịch vụ nhất định và không có ngành, nghề kinh doanh là đầu vào của nhau hoặc bổ trợ cho nhau; sửa đổi, bổ sung khoản 4 Điều 4 theo hướng quy định rõ hơn cách xác định tổng doanh thu trên thị trường liên quan của các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế; sửa đổi, bổ sung khoản 8 về mức phạt tiền cụ thể đối với hành vi vi phạm hành chính trong trường hợp có 1 hoặc 2 tình tiết giảm nhẹ, 1 hoặc 2 tình tiết tăng nặng và trong trường hợp vừa có tình tiết tăng nặng vừa có tình tiết giảm nhẹ như sau:
"3. Phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng đối với doanh nghiệp có hành vi vi phạm thuộc một trong các trường hợp sau:
a) Tổng doanh thu của doanh nghiệp có hành vi vi phạm trên thị trường liên quan trong năm tài chính liền kề trước năm thực hiện hành vi vi phạm quy định tại các khoản 1 và khoản 2 của Điều này được xác định bằng 0 (không);
b) Các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế có hành vi vi phạm quy định tại khoản 2 Điều này không trên cùng thị trường liên quan; không kinh doanh ở các công đoạn khác nhau trong cùng một chuỗi sản xuất, phân phối, cung ứng đối với một loại hàng hóa, dịch vụ nhất định và không có ngành, nghề kinh doanh là đầu vào của nhau hoặc bổ trợ cho nhau.".
"4. Trong trường hợp các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế là các doanh nghiệp kinh doanh ở các công đoạn khác nhau trong cùng một chuỗi sản xuất, phân phối, cung ứng đối với một loại hàng hóa, dịch vụ nhất định hoặc ngành, nghề kinh doanh của các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế là đầu vào của nhau hoặc bổ trợ cho nhau hoặc các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm là các doanh nghiệp kinh doanh ở các công đoạn khác nhau trong cùng một chuỗi sản xuất, phân phối, cung ứng đối với một loại hàng hóa, dịch vụ nhất định, thì tổng doanh thu trên thị trường liên quan quy định tại các khoản 1 và khoản 2 Điều này được xác định là tổng doanh thu của tất cả các thị trường liên quan đến hành vi vi phạm."
"8. Mức tiền phạt cụ thể đối với một hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực cạnh tranh là mức trung bình của khung tiền phạt được quy định đối với hành vi đó.
Nếu có 01 tình tiết giảm nhẹ thì mức tiền phạt cụ thể được xác định trong khoảng từ trên mức tối thiểu đến dưới mức trung bình của khung tiền phạt, nhưng không thấp hơn mức trung bình của mức tối thiểu và mức trung bình của khung tiền phạt. Trường hợp có từ 02 tình tiết giảm nhẹ trở lên thì áp dụng mức tối thiểu của khung tiền phạt.
Nếu có 01 tình tiết tăng nặng thì mức tiền phạt cụ thể được xác định trong khoảng từ trên mức trung bình đến dưới mức tối đa của khung tiền phạt, nhưng không cao hơn mức trung bình của mức tối đa và mức trung bình của khung tiền phạt. Trong trường hợp có từ 02 tình tiết tăng nặng trở lên, thì áp dụng mức tối đa của khung tiền phạt.
Nếu vừa có tình tiết tăng nặng, vừa có tình tiết giảm nhẹ, thì giảm trừ một tình tiết tăng nặng với một tình tiết giảm nhẹ.".
Quy định mới về hành vi không thông báo tập trung kinh tế và hành vi vi phạm pháp luật về tập trung kinh tế khác
Nghị định số 102/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Điều 14 về hành vi không thông báo tập trung kinh tế theo hướng xác định cụ thể mức phạt tiền tương ứng đối với từng trường hợp doanh nghiệp thuộc ngưỡng hoặc không thuộc ngưỡng phải thông báo tập trung kinh tế theo quy định của Luật Cạnh tranh và Nghị định số 35/2020/NĐ-CP ngày 24 tháng 3 năm 2020 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Cạnh tranh, đảm bảo mức phạt tiền phù hợp với tính chất và mức độ của hành vi vi phạm như sau:
" Điều 14. Hành vi không thông báo tập trung kinh tế
Phạt tiền đối với từng doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế khi thực hiện hành vi không thông báo tập trung kinh tế theo quy định của Luật Cạnh tranh như sau:
Phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng đối với từng doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế có tổng tài sản trên thị trường Việt Nam, tổng doanh thu bán ra và tổng doanh số mua vào trên thị trường Việt Nam đạt dưới 3.000 tỷ đồng trong năm tài chính liền kề trước năm thực hiện tập trung kinh tế, nhưng không vượt quá 05% tổng doanh thu của doanh nghiệp vi phạm trên thị trường liên quan trong năm tài chính liền kề trước năm thực hiện hành vi vi phạm.
Phạt tiền từ 1.000.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng đối với từng doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế có tổng tài sản trên thị trường Việt Nam hoặc tổng doanh thu bán ra hoặc tổng doanh số mua vào trên thị trường Việt Nam đạt từ 3.000 tỷ đồng trở lên trong năm tài chính liền kề trước năm thực hiện tập trung kinh tế, nhưng không vượt quá 05% tổng doanh thu của doanh nghiệp vi phạm trên thị trường liên quan trong năm tài chính liền kề trước năm thực hiện hành vi vi phạm.".
Đồng thời, Nghị định số 102/2026/NĐ-CP cũng sửa đổi, bổ sung Điều 15 về hành vi vi phạm pháp luật về tập trung kinh tế khác theo cách tiếp cận có tính logic với quy định sửa đổi, bổ sung tại Điều 14 và bổ sung 03 khoản tiếp theo vào sau khoản 2 tại Điều này nhằm cụ thể hoá các quy định về việc áp dụng một hoặc một số biện pháp khắc phục hậu quả tương ứng với tính chất, mức độ của hành vi vi phạm như sau:
"1. Phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng đối với từng doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế có tổng tài sản trên thị trường Việt Nam, tổng doanh thu bán ra và tổng doanh số mua vào trên thị trường Việt Nam đạt dưới 3.000 tỷ đồng trong năm tài chính liền kề trước năm thực hiện tập trung kinh tế, nhưng không vượt quá 05% tổng doanh thu của doanh nghiệp vi phạm trên thị trường liên quan trong năm tài chính liền kề trước năm thực hiện hành vi vi phạm; phạt tiền từ 1.000.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng đối với từng doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế có tổng tài sản trên thị trường Việt Nam hoặc tổng doanh thu bán ra hoặc tổng doanh số mua vào trên thị trường Việt Nam đạt từ 3.000 tỷ đồng trở lên trong năm tài chính liền kề trước năm thực hiện tập trung kinh tế, nhưng không vượt quá 05% tổng doanh thu của doanh nghiệp vi phạm trên thị trường liên quan trong năm tài chính liền kề trước năm thực hiện hành vi vi phạm khi thực hiện một trong các hành vi sau đây:
a) Thực hiện tập trung kinh tế khi chưa có thông báo kết quả thẩm định sơ bộ của Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia quy định tại khoản 2 Điều 36 Luật Cạnh tranh, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 36 Luật Cạnh tranh;
b) Thực hiện việc tập trung kinh tế khi Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia chưa ra quyết định quy định tại Điều 41 Luật Cạnh tranh trong trường hợp hành vi tập trung kinh tế phải thẩm định chính thức.
2. Phạt tiền từ 01% đến 03% tổng doanh thu trên thị trường liên quan trong năm tài chính liền kề trước năm thực hiện hành vi vi phạm của doanh nghiệp không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ điều kiện được thể hiện trong quyết định về tập trung kinh tế quy định tại điểm b khoản 1 Điều 41 Luật Cạnh tranh.
3. Phạt tiền từ 01% đến 05% tổng doanh thu trên thị trường liên quan của doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế trong năm tài chính liền kề trước năm thực hiện hành vi vi phạm đối với hành vi thực hiện tập trung kinh tế trong trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 41 Luật Cạnh tranh.
4. Biện pháp khắc phục hậu quả:
a) Buộc thực hiện đầy đủ điều kiện được thể hiện trong quyết định về tập trung kinh tế quy định tại điểm b khoản 1 Điều 41 Luật Cạnh tranh đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 2 Điều này;
b) Buộc chia, tách doanh nghiệp đã sáp nhập hoặc hợp nhất đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 3 Điều này;
c) Buộc bán lại một phần hoặc toàn bộ vốn góp, tài sản mà doanh nghiệp đã mua đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 3 Điều này;
d) Buộc chịu sự kiểm soát của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về giá mua, giá bán hàng hóa, dịch vụ hoặc các điều kiện giao dịch khác trong hợp đồng của doanh nghiệp nhận sáp nhập, doanh nghiệp mới hình thành sau tập trung kinh tế, doanh nghiệp mua lại hoặc doanh nghiệp liên doanh đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 3 Điều này.".
Nâng mức phạt đối với hành vi vi phạm quy định về cung cấp thông tin, tài liệu
Nghị định số 102/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Điều 22 về hành vi vi phạm quy định về cung cấp thông tin, tài liệu theo hướng: Nâng mức phạt tiền tại khoản 2; mở rộng chủ thể áp dụng đối với khoản 3; sửa đổi, bổ sung khoản 4 nhằm thể hiện cụ thể hơn các biện pháp khắc phục hậu quả; bổ sung khoản 5 để quy định chế tài áp dụng trong trường hợp hành vi vi phạm quy định về cung cấp thông tin, tài liệu gây ảnh hưởng đến việc kiểm tra tính đầy đủ, hợp lệ của hồ sơ thông báo tập trung kinh tế; ảnh hưởng kết quả thẩm định sơ bộ việc tập trung kinh tế hoặc quyết định về việc tập trung kinh tế của Uỷ ban Cạnh tranh Quốc gia như sau:
"2. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với bên bị điều tra, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ việc cạnh tranh, các bên tham gia tập trung kinh tế, các bên nộp hồ sơ đề nghị hưởng miễn trừ đối với thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm về hành vi cung cấp không đầy đủ thông tin, tài liệu theo yêu cầu của Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia, Cơ quan điều tra vụ việc cạnh tranh, Hội đồng xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh trong quá trình điều tra, xử lý vụ việc cạnh tranh, xem xét hồ sơ đề nghị hưởng miễn trừ đối với thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm.
"3. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với bên bị điều tra, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ việc cạnh tranh, các bên tham gia tập trung kinh tế, các bên nộp hồ sơ thông báo tập trung kinh tế, các bên nộp hồ sơ đề nghị hưởng miễn trừ đối với thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm về một trong các hành vi sau đây:
a) Không cung cấp thông tin, tài liệu theo yêu cầu của Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia, Cơ quan điều tra vụ việc cạnh tranh, Hội đồng xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh trong quá trình điều tra, xử lý vụ việc cạnh tranh, xem xét hồ sơ đề nghị hưởng miễn trừ đối với thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm;
b) Cung cấp thông tin, tài liệu gian dối, không trung thực hoặc làm sai lệch thông tin, tài liệu;
c) Cưỡng ép người khác cung cấp thông tin, tài liệu gian dối, không trung thực hoặc làm sai lệch thông tin, tài liệu;
d) Che giấu, tiêu hủy các thông tin, tài liệu liên quan đến vụ việc cạnh tranh.
4. Biện pháp khắc phục hậu quả:
Buộc cung cấp thông tin, tài liệu đầy đủ, trung thực.
5. Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia quyết định bãi bỏ thông báo về tính đầy đủ, hợp lệ của hồ sơ thông báo tập trung kinh tế; thông báo kết quả thẩm định sơ bộ việc tập trung kinh tế hoặc quyết định về việc tập trung kinh tế nếu phát hiện một trong các bên nộp hồ sơ thông báo tập trung kinh tế thực hiện một hoặc các hành vi quy định tại điểm b, c và d khoản 3 Điều này dẫn đến làm sai lệch kết quả quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 36 và Điều 41 Luật Cạnh tranh.".
2 hình thức nộp tiền phạt
Nghị định số 102/2026/NĐ-CP sửa đổi bổ sung Điều 32 theo hướng mở rộng các hình thức nộp phạt.
Theo quy định mới, tổ chức, cá nhân bị phạt tiền theo quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vi phạm quy định pháp luật về cạnh tranh khác thực hiện nộp tiền phạt theo một trong các hình thức sau đây:
- Nộp tiền mặt trực tiếp tại Kho bạc Nhà nước hoặc tại ngân hàng thương mại nơi Kho bạc Nhà nước mở tài khoản được ghi trong quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vi phạm quy định pháp luật về cạnh tranh khác;
- Chuyển khoản vào tài khoản của Kho bạc Nhà nước được ghi trong quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vi phạm quy định pháp luật về cạnh tranh khác thông qua Cổng Dịch vụ công Quốc gia hoặc dịch vụ thanh toán điện tử của ngân hàng hoặc tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán.
Nghị định này có hiệu lực từ ngày 20/5/2026.
Chính phủ ban hành Nghị định số 113/2026/NĐ-CP ngày 1/4/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 38/2016/NĐ-CP ngày 15/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Khí tượng thủy văn được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 48/2020/NĐ-CP, Nghị định số 22/2023/NĐ-CP và Nghị định số 136/2025/NĐ-CP.
Quy định mới về thủ tục cấp, gia hạn, sửa đổi, bổ sung giấy phép hoạt động dự báo, cảnh báo khí tượng thủy văn
Trong đó, Nghị định số 113/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Điều 16 Nghị định số 38/2016/NĐ-CP đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 22/2023/NĐ-CP về thủ tục cấp, gia hạn, sửa đổi, bổ sung giấy phép hoạt động dự báo, cảnh báo khí tượng thủy văn như sau:
1- Cơ quan thẩm định hồ sơ
a) Cơ quan giúp Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước và tổ chức thực thi pháp luật đối với lĩnh vực khí tượng thủy văn là cơ quan thẩm định hồ sơ đề nghị cấp, gia hạn, sửa đổi, bổ sung giấy phép hoạt động dự báo, cảnh báo khí tượng thủy văn thuộc thẩm quyền của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường;
b) Cơ quan chuyên môn về nông nghiệp và môi trường thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh là cơ quan thẩm định hồ sơ đề nghị cấp, gia hạn, sửa đổi, bổ sung giấy phép hoạt động dự báo, cảnh báo khí tượng thủy văn thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
2. Thủ tục cấp, gia hạn, sửa đổi, bổ sung giấy phép hoạt động dự báo, cảnh báo khí tượng thủy văn
Tổ chức, cá nhân đề nghị cấp, gia hạn, sửa đổi, bổ sung giấy phép hoạt động dự báo, cảnh báo khí tượng thủy văn quy định tại Điều 15 của Nghị định này nộp 01 bộ hồ sơ trực tiếp tại Bộ phận Tiếp nhận và Trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính của Bộ Nông nghiệp và Môi trường đối với trường hợp do Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường cấp hoặc trực tiếp tại bất kỳ Trung tâm Phục vụ hành chính công đối với trường hợp do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp hoặc thông qua dịch vụ bưu chính công ích theo quy định của Thủ tướng Chính phủ hoặc qua thuê dịch vụ của doanh nghiệp, cá nhân hoặc qua ủy quyền theo quy định của pháp luật hoặc trực tuyến thông qua Cổng Dịch vụ công quốc gia hoặc Ứng dụng định danh quốc gia (VNeID) hoặc phương thức tiếp nhận khác theo quy định của pháp luật tại thời điểm nộp hồ sơ.
Trình tự, thời gian cấp, gia hạn, sửa đổi, bổ sung giấy phép hoạt động dự báo, cảnh báo khí tượng thủy văn
Nghị định quy định trong thời hạn 01 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ, cơ quan cấp giấy phép hoạt động dự báo, cảnh báo khí tượng thủy văn có trách nhiệm xem xét, kiểm tra, khẳng định tính hợp lệ của hồ sơ đã nhận; trường hợp hồ sơ không hợp lệ, cơ quan cấp giấy phép thông báo cho tổ chức, cá nhân xin phép để hoàn thiện hồ sơ theo quy định.
Kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ theo quy định, cơ quan thẩm định hồ sơ có trách nhiệm xem xét, tổ chức thẩm định, trình Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường hoặc Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo thẩm quyền cấp, gia hạn, sửa đổi, bổ sung giấy phép hoạt động dự báo, cảnh báo khí tượng thủy văn cho tổ chức và cá nhân có đủ điều kiện trong thời hạn tối đa 12 ngày làm việc. Trường hợp không đủ điều kiện cấp, gia hạn, sửa đổi, bổ sung giấy phép, cơ quan cấp giấy phép hoạt động dự báo, cảnh báo khí tượng thủy văn trả lời bằng văn bản cho tổ chức, cá nhân biết lý do.
Giấy phép hoạt động dự báo, cảnh báo khí tượng thủy văn đã được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép phê duyệt được giao trực tiếp cho tổ chức, cá nhân tại Bộ phận Tiếp nhận và Trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính của Bộ Nông nghiệp và Môi trường đối với trường hợp do Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường cấp hoặc trực tiếp tại Trung tâm Phục vụ hành chính công nơi đã tiếp nhận hồ sơ ban đầu đối với trường hợp do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp hoặc thông qua dịch vụ bưu chính công ích theo quy định của Thủ tướng Chính phủ hoặc qua thuê dịch vụ của doanh nghiệp, cá nhân hoặc qua ủy quyền theo quy định của pháp luật hoặc phương thức nhận kết quả khác theo quy định của pháp luật tại thời điểm cấp sau thời hạn quy định.
Quy định về cấp lại giấy phép hoạt động dự báo, cảnh báo khí tượng thủy văn
Đồng thời, Nghị định số 113/2026/NĐ-CP cũng sửa đổi, bổ sung Điều 18 Nghị định số 38/2016/NĐ-CP đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 22/2023/NĐ-CP về cấp lại giấy phép hoạt động dự báo, cảnh báo khí tượng thủy văn như sau:
Giấy phép hoạt động dự báo, cảnh báo khí tượng thủy văn được cấp lại trong các trường hợp bị mất hoặc bị rách nát, hư hỏng không thể sử dụng được.
Tổ chức, cá nhân đề nghị cấp lại giấy phép hoạt động dự báo, cảnh báo khí tượng thủy văn nộp đơn đề nghị trực tiếp tại Bộ phận Tiếp nhận và Trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính của Bộ Nông nghiệp và Môi trường đối với trường hợp do Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường cấp hoặc trực tiếp tại bất kỳ Trung tâm Phục vụ hành chính công đối với trường hợp do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp hoặc thông qua dịch vụ bưu chính công ích theo quy định của Thủ tướng Chính phủ hoặc qua thuê dịch vụ của doanh nghiệp, cá nhân hoặc qua ủy quyền theo quy định của pháp luật hoặc trực tuyến thông qua Cổng Dịch vụ công quốc gia hoặc Ứng dụng định danh quốc gia (VNeID) hoặc phương thức tiếp nhận khác theo quy định của pháp luật tại thời điểm nộp đơn.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận đơn đề nghị cấp lại giấy phép hoạt động dự báo, cảnh báo khí tượng thủy văn, cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép phê duyệt và giao trực tiếp cho tổ chức, cá nhân tại Bộ phận Tiếp nhận và Trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính của Bộ Nông nghiệp và Môi trường đối với trường hợp do Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường cấp hoặc trực tiếp tại Trung tâm Phục vụ hành chính công nơi đã tiếp nhận hồ sơ ban đầu đối với trường hợp do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp hoặc thông qua dịch vụ bưu chính công ích theo quy định của Thủ tướng Chính phủ hoặc qua thuê dịch vụ của doanh nghiệp, cá nhân hoặc qua ủy quyền theo quy định của pháp luật hoặc phương thức nhận kết quả khác theo quy định của pháp luật tại thời điểm cấp.
Nghị định số 113/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 1/4/2026.
Ngày 31/3/2026, Thủ tướng Chính phủ đã phê chuẩn các kết quả bầu chức vụ Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố nhiệm kỳ 2026-2031.
Thành phố Hà Nội
Tại Quyết định số 566/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn kết quả bầu chức vụ Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội nhiệm kỳ 2026 - 2031 đối với ông Vũ Đại Thắng, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thành ủy Hà Nội nhiệm kỳ 2025-2030, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội nhiệm kỳ 2021-2026.
Đồng thời, tại Quyết định số 551/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn kết quả bầu chức vụ Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội nhiệm kỳ 2026 - 2031 đối với:
1- Ông Dương Đức Tuấn, Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Thường trực Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội nhiệm kỳ 2021-2026.
2- Ông Nguyễn Xuân Lưu, Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội nhiệm kỳ 2021-2026.
3- Ông Trương Việt Dũng, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội nhiệm kỳ 2021-2026.
4- Bà Vũ Thu Hà, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội nhiệm kỳ 2021-2026.
Thành phố Hồ Chí Minh
Tại Quyết định số 580/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn kết quả bầu chức vụ Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh nhiệm kỳ 2026 - 2031 đối với ông Nguyễn Văn Được, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh nhiệm kỳ 2025-2030, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh nhiệm kỳ 2021-2026.
Đồng thời, tại Quyết định số 596/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn kết quả bầu chức vụ Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh nhiệm kỳ 2026 - 2031 đối với:
1- Ông Nguyễn Mạnh Cường, Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh nhiệm kỳ 2021-2026.
2- Ông Nguyễn Lộc Hà, Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh nhiệm kỳ 2021-2026.
3- Ông Hoàng Nguyên Dinh, Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh nhiệm kỳ 2021-2026.
4- Ông Bùi Xuân Cường, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh nhiệm kỳ 2021-2026.
5- Ông Bùi Minh Thạnh, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh nhiệm kỳ 2021-2026.
6- Ông Nguyễn Công Vinh, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh nhiệm kỳ 2021-2026.
7- Ông Trần Văn Bảy, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh nhiệm kỳ 2021-2026.
Thành phố Huế
Tại Quyết định số 571/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn kết quả bầu chức vụ Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Huế nhiệm kỳ 2026 - 2031 đối với ông Nguyễn Khắc Toàn, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Phó Bí thư thành ủy nhiệm kỳ 2025-2030, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Huế nhiệm kỳ 2021-2026.
Đồng thời, tại Quyết định số 552/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn kết quả bầu chức vụ Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Huế nhiệm kỳ 2026 - 2031 đối với:
1- Ông Hoàng Hải Minh, Ủy viên Ban Thường vụ thành ủy Huế nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Huế nhiệm kỳ 2021-2026.
2- Ông Trần Hữu Thùy Giang, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố Huế nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Huế nhiệm kỳ 2021-2026.
3- Ông Hà Văn Tuấn, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố Huế nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân thành phố Huế nhiệm kỳ 2021-2026.
4- Ông Nguyễn Văn Mạnh, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố Huế nhiệm kỳ 2025-2030, Giám đốc Sở Nội vụ thành phố Huế.
Thành phố Cần Thơ
Tại Quyết định số 548/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn kết quả bầu chức vụ Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ nhiệm kỳ 2026 - 2031 đối với ông Trương Cảnh Tuyên, Phó Bí thư Thành ủy nhiệm kỳ 2025-2030, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ nhiệm kỳ 2021-2026.
Đồng thời, tại Quyết định số 526/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn kết quả bầu chức vụ Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ nhiệm kỳ 2026 - 2031 đối với:
1- Bà Nguyễn Thị Ngọc Điệp, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố nhiệm kỳ 2025 - 2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ nhiệm kỳ 2021 - 2026.
2- Ông Nguyễn Văn Hòa, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố nhiệm kỳ 2025 - 2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ nhiệm kỳ 2021 - 2026.
3- Ông Trần Chí Hùng, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố nhiệm kỳ 2025 - 2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ nhiệm kỳ 2021 - 2026.
4- Ông Nguyễn Văn Khởi, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố nhiệm kỳ 2025 - 2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ nhiệm kỳ 2021 - 2026.
5- Ông Vương Quốc Nam, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố nhiệm kỳ 2025 - 2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ nhiệm kỳ 2021 - 2026.
Tỉnh Tuyên Quang
Tại Quyết định số 588/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn kết quả bầu chức vụ Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang nhiệm kỳ 2026 - 2031 đối với ông Phan Huy Ngọc, Phó Bí thư Tỉnh ủy nhiệm kỳ 2025-2030, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang nhiệm kỳ 2021-2026.
Đồng thời, tại Quyết định số 545/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn kết quả bầu chức vụ Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang nhiệm kỳ 2026 - 2031 đối với:
1- Ông Nguyễn Mạnh Tuấn, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy Tuyên Quang nhiệm kỳ 2025- 2030, Phó Chủ tịch Thường trực Ủy ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang nhiệm kỳ 2021-2026.
2- Ông Hoàng Gia Long, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy Tuyên Quang nhiệm kỳ 2025- 2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang nhiệm kỳ 2021-2026.
3- Bà Vương Ngọc Hà, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy Tuyên Quang nhiệm kỳ 2025- 2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang nhiệm kỳ 2021-2026.
Tỉnh Cao Bằng
Tại Quyết định số 581/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn kết quả bầu chức vụ Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Cao Bằng nhiệm kỳ 2026 - 2031 đối với ông Lê Hải Hòa, Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Phó Bí thư Tỉnh ủy Cao Bằng nhiệm kỳ 2025-2030, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Cao Bằng nhiệm kỳ 2021-2026.
Đồng thời, tại Quyết định số 598/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn kết quả bầu chức vụ Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Cao Bằng nhiệm kỳ 2026 - 2031 đối với:
1- Ông Vũ Đình Quang, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy Cao Bằng nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Thường trực Ủy ban nhân dân tỉnh Cao Bằng nhiệm kỳ 2021-2026.
2- Ông Hoàng Văn Thạch, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Cao Bằng nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Cao Bằng nhiệm kỳ 2021-2026.
3- Bà Hà Nhật Lệ, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Cao Bằng nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Cao Bằng nhiệm kỳ 2021-2026.
Tỉnh Lai Châu
Tại Quyết định số 555/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn kết quả bầu chức vụ Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Lai Châu nhiệm kỳ 2026 - 2031 đối với ông Hà Quang Trung, Phó Bí thư Tỉnh ủy Lai Châu nhiệm kỳ 2025-2030, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Lai Châu nhiệm kỳ 2021-2026.
Đồng thời, tại Quyết định số 544/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn kết quả bầu chức vụ Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Lai Châu nhiệm kỳ 2026 - 2031 đối với:
1- Ông Tống Thanh Hải, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy Lai Châu nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Thường trực Ủy ban nhân dân tỉnh Lai Châu nhiệm kỳ 2021-2026.
2- Ông Hà Trọng Hải, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Lai Châu nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh nhiệm kỳ 2021-2026.
3- Ông Nguyễn Sỹ Cảnh, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Lai Châu nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh nhiệm kỳ 2021-2026.
Tỉnh Lào Cai
Tại Quyết định số 556/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn kết quả bầu chức vụ Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai nhiệm kỳ 2026 - 2031 đối với ông Nguyễn Tuấn Anh, Phó Bí thư Tỉnh ủy Lào Cai nhiệm kỳ 2025-2030, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai nhiệm kỳ 2021-2026.
Đồng thời, tại Quyết định số 557/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn kết quả bầu chức vụ Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai nhiệm kỳ 2026 - 2031 đối với:
1- Ông Ngô Hạnh Phúc, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy Lào Cai nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai nhiệm kỳ 2021-2026.
2- Ông Giàng Quốc Hưng, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy Lào Cai nhiệm kỳ 2025-2030, Trưởng Ban Nội chính Tỉnh ủy Lào Cai.
3- Ông Phan Trung Bá, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Lào Cai nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai nhiệm kỳ 2021-2026.
4- Ông Nguyễn Thành Sinh, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Lào Cai nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai nhiệm kỳ 2021-2026.
5- Bà Vũ Thị Hiền Hạnh, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Lào Cai nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai nhiệm kỳ 2021-2026.
Tỉnh Thái Nguyên
Tại Quyết định số 569/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn kết quả bầu chức vụ Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên nhiệm kỳ 2026 - 2031 đối với ông Vương Quốc Tuấn, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Phó Bí thư Tỉnh ủy nhiệm kỳ 2025-2030, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên nhiệm kỳ 2021-2026.
Đồng thời, tại Quyết định số 575/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn kết quả bầu chức vụ Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên nhiệm kỳ 2026 - 2031 đối với:
1- Ông Nguyễn Linh, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy Thái Nguyên nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên nhiệm kỳ 2021-2026.
2- Bà Nguyễn Thị Loan, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên nhiệm kỳ 2021-2026.
3- Ông Dương Văn Lượng, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên nhiệm kỳ 2021-2026.
4- Ông Nông Quang Nhất, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên nhiệm kỳ 2021-2026.
Tỉnh Điện Biên
Tại Quyết định số 597/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn kết quả bầu chức vụ Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên nhiệm kỳ 2026 - 2031 đối với ông Lê Văn Lương, Phó Bí thư Tỉnh ủy Điện Biên nhiệm kỳ 2025-2030, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên nhiệm kỳ 2021-2026.
Đồng thời, tại Quyết định số 595/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn kết quả bầu chức vụ Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên nhiệm kỳ 2026 - 2031 đối với:
1- Ông Lò Văn Cương, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy Điện Biên nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên nhiệm kỳ 2021-2026.
2- Ông Nguyễn Văn Đoạt, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Điện Biên nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên nhiệm kỳ 2021-2026.
3- Ông Nguyễn Minh Phú, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Điện Biên nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên nhiệm kỳ 2021-2026.
Tỉnh Lạng Sơn
Tại Quyết định số 563/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn kết quả bầu chức vụ Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn nhiệm kỳ 2026 - 2031 đối với ông Nguyễn Cảnh Toàn, Phó Bí thư Tỉnh ủy Lạng Sơn nhiệm kỳ 2025-2030, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn nhiệm kỳ 2021-2026.
Đồng thời, tại Quyết định số 528/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn kết quả bầu chức vụ Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn nhiệm kỳ 2026 - 2031 đối với:
1- Ông Đinh Hữu Học, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy Lạng Sơn nhiệm kỳ 2025 - 2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn nhiệm kỳ 2021 - 2026.
2- Ông Đoàn Thanh Sơn, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn nhiệm kỳ 2025 - 2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn nhiệm kỳ 2021 - 2026.
3- Bà Trần Thanh Nhàn, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn nhiệm kỳ 2025 - 2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn nhiệm kỳ 2021 - 2026.
Tỉnh Sơn La
Tại Quyết định số 593/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn kết quả bầu chức vụ Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La nhiệm kỳ 2026 - 2031 đối với ông Nguyễn Đình Việt, Phó Bí thư Tỉnh ủy Sơn La nhiệm kỳ 2025 - 2030, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La nhiệm kỳ 2021-2026.
Đồng thời, tại Quyết định số 599/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn kết quả bầu chức vụ Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La nhiệm kỳ 2026 - 2031 đối với:
1- Ông Hà Trung Chiến, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy Sơn La nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La nhiệm kỳ 2021-2026.
2- Ông Nguyễn Thành Công, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Sơn La nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La nhiệm kỳ 2021-2026.
3- Ông Đặng Ngọc Hậu, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Sơn La nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La nhiệm kỳ 2021-2026.
4- Ông Nguyễn Minh Tiến, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Sơn La nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La nhiệm kỳ 2021-2026.
Tỉnh Phú Thọ
Tại Quyết định số 559/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn kết quả bầu chức vụ Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Thọ nhiệm kỳ 2026 - 2031 đối với ông Trần Duy Đông, Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Phó Bí thư Tỉnh ủy Phú Thọ nhiệm kỳ 2025 - 2030, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Thọ nhiệm kỳ 2021-2026.
Đồng thời, tại Quyết định số 590/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn kết quả bầu chức vụ Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Thọ nhiệm kỳ 2026 - 2031 đối với:
1- Ông Phan Trọng Tấn, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy Phú Thọ nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Thọ nhiệm kỳ 2021-2026.
2- Ông Vũ Việt Văn, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy Phú Thọ nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Thọ nhiệm kỳ 2021-2026.
3- Ông Quách Tất Liêm, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Phú Thọ nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Thọ nhiệm kỳ 2021-2026.
4- Ông Đinh Công Sứ, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Phú Thọ nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Thọ nhiệm kỳ 2021-2026.
5- Ông Nguyễn Huy Ngọc, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Phú Thọ nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Thọ nhiệm kỳ 2021-2026.
6- Ông Nguyễn Khắc Hiếu, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Phú Thọ nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Thọ nhiệm kỳ 2021-2026.
7- Bà Phùng Thị Kim Nga, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Phú Thọ nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Thọ nhiệm kỳ 2021-2026.
Tỉnh Bắc Ninh
Tại Quyết định số 535/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn kết quả bầu chức vụ Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh nhiệm kỳ 2026 - 2031 đối với ông Phạm Hoàng Sơn, Phó Bí thư Tỉnh ủy Bắc Ninh nhiệm kỳ 2025 - 2030, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh nhiệm kỳ 2021-2026.
Đồng thời, tại Quyết định số 576/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn kết quả bầu chức vụ Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh nhiệm kỳ 2026 - 2031 đối với:
1- Ông Mai Sơn, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh nhiệm kỳ 2021-2026.
2- Ông Đào Quang Khải, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh nhiệm kỳ 2021-2026.
3- Ông Lê Xuân Lợi, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh nhiệm kỳ 2021-2026.
4- Ông Phạm Văn Thịnh, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh nhiệm kỳ 2021-2026.
5- Ông Ngô Tân Phượng, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh nhiệm kỳ 2021-2026.
6- Ông Phan Thế Tuấn, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh nhiệm kỳ 2021-2026.
Tỉnh Quảng Ninh
Tại Quyết định số 558/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn kết quả bầu chức vụ Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh nhiệm kỳ 2026 - 2031 đối với ông Bùi Văn Khắng, Phó Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ninh nhiệm kỳ 2025-2030, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh nhiệm kỳ 2021-2026.
Đồng thời, tại Quyết định số 550/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn kết quả bầu chức vụ Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh nhiệm kỳ 2026 - 2031 đối với:
1- Ông Vũ Văn Diện, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Thường trực Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh nhiệm kỳ 2021-2026.
2- Ông Lê Văn Ánh, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh nhiệm kỳ 2021-2026.
3- Bà Nguyễn Thị Hạnh Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh nhiệm kỳ 2021-2026.
4- Ông Nguyễn Văn Công, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh nhiệm kỳ 2021-2026.
Tỉnh Ninh Bình
Tại Quyết định số 568/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn kết quả bầu chức vụ Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Bình nhiệm kỳ 2026 - 2031 đối với ông Nguyễn Thanh Bình, Phó Bí thư Tỉnh ủy Ninh Bình nhiệm kỳ 2025-2030, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Bình nhiệm kỳ 2021-2026.
Đồng thời, tại Quyết định số 538/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn kết quả bầu chức vụ Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Bình nhiệm kỳ 2026 - 2031 đối với:
1- Ông Trần Song Tùng, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy Ninh Bình nhiệm kỳ 2025 - 2030, Phó Chủ tịch Thường trực Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Bình nhiệm kỳ 2021 - 2026.
2- Ông Nguyễn Anh Chức, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy Ninh Bình nhiệm kỳ 2025 - 2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Bình nhiệm kỳ 2021 - 2026.
3- Ông Trần Anh Dũng, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy Ninh Bình nhiệm kỳ 2025 - 2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Bình nhiệm kỳ 2021 - 2026.
4- Ông Đặng Thanh Sơn, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy Ninh Bình nhiệm kỳ 2025 - 2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Bình nhiệm kỳ 2021 - 2026.
5- Bà Hà Lan Anh, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Ninh Bình nhiệm kỳ 2025 - 2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Bình nhiệm kỳ 2021 - 2026.
6- Ông Nguyễn Cao Sơn, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Ninh Bình kỳ 2025 - 2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Bình nhiệm kỳ 2021 - 2026.
Tỉnh Thanh Hóa
Tại Quyết định số 567/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn kết quả bầu chức vụ Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa nhiệm kỳ 2026 - 2031 đối với ông Nguyễn Hoài Anh, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Phó Bí thư Tỉnh ủy nhiệm kỳ 2025-2030, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa nhiệm kỳ 2021-2026.
Đồng thời, tại Quyết định số 547/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn kết quả bầu chức vụ Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa nhiệm kỳ 2026 - 2031 đối với:
1- Ông Mai Xuân Liêm, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy Thanh Hóa nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa nhiệm kỳ 2021-2026.
2- Ông Lê Quang Hùng, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy Thanh Hóa nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa nhiệm kỳ 2021-2026.
3- Ông Đầu Thanh Tùng, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa nhiệm kỳ 2021-2026.
4- Ông Cao Văn Cường, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa nhiệm kỳ 2021-2026.
Tỉnh Nghệ An
Tại Quyết định số 546/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn kết quả bầu chức vụ Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An nhiệm kỳ 2026 - 2031 đối với ông Võ Trọng Hải, Phó Bí thư Tỉnh ủy nhiệm kỳ 2025-2030, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An nhiệm kỳ 2021-2026.
Đồng thời, tại Quyết định số 560/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn kết quả bầu chức vụ Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An nhiệm kỳ 2026 - 2031 đối với:
1- Ông Bùi Thanh An, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy Nghệ An nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An nhiệm kỳ 2021-2026.
2- Ông Nguyễn Văn Đệ, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy Nghệ An nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An nhiệm kỳ 2021-2026.
3- Ông Hoàng Phú Hiền, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Nghệ An nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An nhiệm kỳ 2021-2026.
4- Ông Thái Văn Thành, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Nghệ An nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An nhiệm kỳ 2021-2026.
5- Ông Phùng Thành Vinh, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Nghệ An nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An nhiệm kỳ 2021-2026.
Tỉnh Hà Tĩnh
Tại Quyết định số 570/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn kết quả bầu chức vụ Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh nhiệm kỳ 2026 - 2031 đối với ông Phan Thiên Định, Phó Bí thư Tỉnh ủy Hà Tĩnh nhiệm kỳ 2025-2030, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh nhiệm kỳ 2021-2026.
Đồng thời, tại Quyết định số 584/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn kết quả bầu chức vụ Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh nhiệm kỳ 2026 - 2031 đối với:
1- Ông Trần Báu Hà, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy Hà Tĩnh nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh nhiệm kỳ 2021-2026.
2- Ông Hồ Huy Thành, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh nhiệm kỳ 2021-2026.
3- Bà Nguyễn Thị Nguyệt, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh nhiệm kỳ 2021-2026.
Tỉnh Quảng Trị
Tại Quyết định số 562/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn kết quả bầu chức vụ Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Trị nhiệm kỳ 2026 - 2031 đối với ông Lê Hồng Vinh, Phó Bí thư Tỉnh ủy nhiệm kỳ 2025-2030, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Trị nhiệm kỳ 2021-2026.
Đồng thời, tại Quyết định số 537/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn kết quả bầu chức vụ Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Trị nhiệm kỳ 2026 - 2031 đối với:
1- Ông Hoàng Nam, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Thường trực Ủy ban nhân dân tỉnh nhiệm kỳ 2021-2026.
2- Ông Lê Văn Bảo, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh nhiệm kỳ 2021-2026.
3- Ông Phan Phong Phú, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh nhiệm kỳ 2021-2026.
4- Ông Hoàng Xuân Tân, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh nhiệm kỳ 2021-2026.
5- Ông Lê Đức Tiến, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh nhiệm kỳ 2021-2026.
Tỉnh Quảng Ngãi
Tại Quyết định số 577/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn kết quả bầu chức vụ Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi nhiệm kỳ 2026 - 2031 đối với ông Nguyễn Hoàng Giang, Phó Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi nhiệm kỳ 2025-2030, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi nhiệm kỳ 2021-2026.
Đồng thời, tại Quyết định số 587/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn kết quả bầu chức vụ Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi nhiệm kỳ 2026 - 2031 đối với:
1- Bà Y Ngọc, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Ngãi nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Thường trực Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi nhiệm kỳ 2021-2026.
2- Ông Trần Phước Hiền, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi nhiệm kỳ 2021-2026.
3- Ông Đỗ Tâm Hiển, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi nhiệm kỳ 2021-2026.
4- Ông Nguyễn Công Hoàng, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi nhiệm kỳ 2021-2026.
5- Ông Nguyễn Ngọc Sâm, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi nhiệm kỳ 2021-2026.
Tỉnh Gia Lai
Tại Quyết định số 582/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn kết quả bầu chức vụ Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai nhiệm kỳ 2026 - 2031 đối với ông Phạm Anh Tuấn, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Phó Bí thư Tỉnh ủy Gia Lai nhiệm kỳ 2025-2030, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai nhiệm kỳ 2021-2026.
Đồng thời, tại Quyết định số 583/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn kết quả bầu chức vụ Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai nhiệm kỳ 2026 - 2031 đối với:
1- Ông Nguyễn Tuấn Thanh, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy Gia Lai nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Thường trực Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai nhiệm kỳ 2021-2026.
2- Ông Nguyễn Tự Công Hoàng, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy Gia Lai nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai nhiệm kỳ 2021-2026.
3- Ông Lâm Hải Giang, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Gia Lai nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai nhiệm kỳ 2021-2026.
4- Bà Nguyễn Thị Thanh Lịch, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Gia Lai nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai nhiệm kỳ 2021-2026.
5- Ông Dương Mah Tiệp, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Gia Lai nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai nhiệm kỳ 2021-2026.
6- Ông Nguyễn Hữu Quế, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Gia Lai nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai nhiệm kỳ 2021-2026.
Tỉnh Đắk Lắk
Tại Quyết định số 536/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn kết quả bầu chức vụ Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk nhiệm kỳ 2026 - 2031 đối với ông Đỗ Hữu Huy, Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Phó Bí thư Tỉnh ủy Đắk Lắk nhiệm kỳ 2025 - 2030.
Đồng thời, tại Quyết định số 592/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn kết quả bầu chức vụ Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk nhiệm kỳ 2026 - 2031 đối với:
1- Bà Hồ Thị Nguyên Thảo, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy Đắk Lắk nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Thường trực Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk nhiệm kỳ 2021-2026.
2- Ông Đào Mỹ, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk nhiệm kỳ 2021-2026.
3- Ông Trương Công Thái, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk nhiệm kỳ 2021-2026.
4- Ông Nguyễn Thiên Văn, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk nhiệm kỳ 2021-2026.
Tỉnh Khánh Hoà
Tại Quyết định số 579/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn kết quả bầu chức vụ Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa nhiệm kỳ 2026 - 2031 đối với ông Nguyễn Việt Hùng, Phó Bí thư Tỉnh ủy Khánh Hòa nhiệm kỳ 2025-2030.
Đồng thời, tại Quyết định số 585/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn kết quả bầu chức vụ Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa nhiệm kỳ 2026 - 2031 đối với:
1- Ông Nguyễn Long Biên, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy Khánh Hòa nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Thường trực Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa nhiệm kỳ 2021-2026.
2- Ông Trần Hòa Nam, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy Khánh Hòa nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa nhiệm kỳ 2021-2026.
3- Ông Lê Huyền, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa nhiệm kỳ 2021-2026.
4- Ông Trịnh Minh Hoàng, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa nhiệm kỳ 2021-2026.
5- Ông Nguyễn Thanh Hà, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa nhiệm kỳ 2021-2026.
Tỉnh Lâm Đồng
Tại Quyết định số 554/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn kết quả bầu chức vụ Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng nhiệm kỳ 2026 - 2031 đối với ông Hồ Văn Mười, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Phó Bí thư Tỉnh ủy Lâm Đồng nhiệm kỳ 2025-2030, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng nhiệm kỳ 2021-2026.
Đồng thời, tại Quyết định số 561/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn kết quả bầu chức vụ Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng nhiệm kỳ 2026 - 2031 đối với:
1- Ông Lê Trọng Yên, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy Lâm Đồng nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Thường trực Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng nhiệm kỳ 2021-2026.
2- Ông Nguyễn Hồng Hải, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy Lâm Đồng nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng nhiệm kỳ 2021-2026.
3- Ông Võ Ngọc Hiệp, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng nhiệm kỳ 2021-2026.
4- Ông Nguyễn Minh, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng nhiệm kỳ 2021-2026.
5- Ông Nguyễn Ngọc Phúc, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng nhiệm kỳ 2021-2026.
6- Ông Đinh Văn Tuấn, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng nhiệm kỳ 2021-2026.
Tỉnh Đồng Nai
Tại Quyết định số 565/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn kết quả bầu chức vụ Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai nhiệm kỳ 2026 - 2031 đối với ông Nguyễn Văn Út, Phó Bí thư Tỉnh ủy Đồng Nai nhiệm kỳ 2025-2030, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai nhiệm kỳ 2021-2026.
Đồng thời, tại Quyết định số 586/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn kết quả bầu chức vụ Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai nhiệm kỳ 2026 - 2031 đối với:
1- Ông Nguyễn Kim Long, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy Đồng Nai nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai nhiệm kỳ 2021-2026.
2- Ông Lê Trường Sơn, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy Đồng Nai nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai nhiệm kỳ 2021-2026.
3- Bà Nguyễn Thị Hoàng, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Đồng Nai nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai nhiệm kỳ 2021-2026.
4- Ông Hồ Văn Hà, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Đồng Nai nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai nhiệm kỳ 2021-2026.
Tỉnh Tây Ninh
Tại Quyết định số 539/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn kết quả bầu chức vụ Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh nhiệm kỳ 2026 - 2031 đối với ông Lê Văn Hẳn, Phó Bí thư Tỉnh ủy Tây Ninh nhiệm kỳ 2025-2030, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh nhiệm kỳ 2021-2026.
Đồng thời, tại Quyết định số 591/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn kết quả bầu chức vụ Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh nhiệm kỳ 2026 - 2031 đối với:
1- Ông Nguyễn Hồng Thanh, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh nhiệm kỳ 2021-2026.
2- Ông Nguyễn Minh Lâm, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh nhiệm kỳ 2021-2026.
3- Ông Đoàn Trung Kiên, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh nhiệm kỳ 2021-2026.
4- Ông Phạm Tấn Hòa, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh nhiệm kỳ 2021-2026.
5- Ông Huỳnh Văn Sơn, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh nhiệm kỳ 2021-2026.
Tỉnh Đồng Tháp
Tại Quyết định số 564/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn kết quả bầu chức vụ Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp nhiệm kỳ 2026 - 2031 đối với ông Phạm Thành Ngại, Phó Bí thư Tỉnh ủy Đồng Tháp nhiệm kỳ 2025-2030, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp nhiệm kỳ 2021-2026.
Đồng thời, tại Quyết định số 542/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn kết quả bầu chức vụ Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp nhiệm kỳ 2026 - 2031 đối với:
1- Ông Trần Văn Dũng, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy Đồng Tháp nhiệm kỳ 2025- 2030, Phó Chủ tịch Thường trực Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp nhiệm kỳ 2021-2026.
2- Ông Nguyễn Thành Diệu, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Đồng Tháp nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp nhiệm kỳ 2021-2026.
3- Ông Huỳnh Minh Tuấn, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Đồng Tháp nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp nhiệm kỳ 2021-2026.
4- Ông Nguyễn Phước Thiện, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Đồng Tháp nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp nhiệm kỳ 2021-2026.
Tỉnh An Giang
Tại Quyết định số 573/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn kết quả bầu chức vụ Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang nhiệm kỳ 2026 - 2031 đối với ông Hồ Văn Mừng, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Phó Bí thư Tỉnh ủy nhiệm kỳ 2025-2030, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang nhiệm kỳ 2021-2026.
Đồng thời, tại Quyết định số 594/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn kết quả bầu chức vụ Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang nhiệm kỳ 2026 - 2031 đối với:
1- Ông Nguyễn Thanh Phong, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Thường trực Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang nhiệm kỳ 2021-2026.
2- Ông Lê Văn Phước, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang nhiệm kỳ 2021-2026.
3- Ông Lê Trung Hồ, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang nhiệm kỳ 2021-2026.
4- Bà Nguyễn Thị Minh Thúy, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang nhiệm kỳ 2021-2026.
5- Ông Ngô Công Thức, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang nhiệm kỳ 2021-2026.
Tỉnh Vĩnh Long
Tại Quyết định số 578/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn kết quả bầu chức vụ Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long nhiệm kỳ 2026 - 2031 đối với ông Trần Trí Quang, Phó Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Long nhiệm kỳ 2025-2030, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long nhiệm kỳ 2021-2026.
Đồng thời, tại Quyết định số 541/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn kết quả bầu chức vụ Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long nhiệm kỳ 2026 - 2031 đối với:
1- Ông Đặng Văn Chính, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy Vĩnh Long nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Thường trực Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long nhiệm kỳ 2021-2026.
2- Ông Nguyễn Trúc Sơn, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy Vĩnh Long nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long nhiệm kỳ 2021-2026.
3- Ông Châu Văn Hòa, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long nhiệm kỳ 2021-2026.
4- Ông Nguyễn Quỳnh Thiện, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long nhiệm kỳ 2021-2026.
5- Bà Nguyễn Thị Bé Mười, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long nhiệm kỳ 2021-2026.
Tỉnh Cà Mau
Tại Quyết định số 572/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn kết quả bầu chức vụ Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Cà Mau nhiệm kỳ 2026 - 2031 đối với ông Lữ Quang Ngời, Phó Bí thư Tỉnh ủy Cà Mau nhiệm kỳ 2025-2030, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Cà Mau nhiệm kỳ 2021-2026.
Đồng thời, tại Quyết định số 543/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn kết quả bầu chức vụ Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Cà Mau nhiệm kỳ 2026 - 2031 đối với:
1- Ông Lâm Văn Bi, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Thường trực Ủy ban nhân dân tỉnh Cà Mau nhiệm kỳ 2021-2026.
2- Ông Nguyễn Minh Luân, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Cà Mau nhiệm kỳ 2021-2026.
3- Ông Lê Văn Sử, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Cà Mau nhiệm kỳ 2021-2026.
4- Ông Huỳnh Chí Nguyện, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Cà Mau nhiệm kỳ 2021-2026.
5- Ông Ngô Vũ Thăng, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2025-2030, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Cà Mau nhiệm kỳ 2021-2026.
Các Quyết định nêu trên có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký (31/3/2026).
Phó Thủ tướng Hồ Đức Phớc ký Quyết định số 12/2026/QĐ-TTg sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế bảo lãnh cho doanh nghiệp nhỏ và vừa vay vốn tại ngân hàng thương mại ban hành kèm theo Quyết định số 03/2011/QĐ-TTg ngày 10/1/2011 của Thủ tướng Chính phủ.
Cụ thể, Quyết định số 12/2026/QĐ-TTg sửa đổi, bổ sung Điều 9 Quy chế về phí bảo lãnh. Theo quy định mới, phí bảo lãnh bao gồm:
- Phí thẩm định hồ sơ đề nghị bảo lãnh vay vốn: 500.000 đồng cho một hồ sơ và nộp cho Ngân hàng Phát triển Việt Nam cùng với hồ sơ đề nghị bảo lãnh vay vốn;
- Phí bảo lãnh vay vốn: 0,5%/năm tính trên số tiền được bảo lãnh.
Phí bảo lãnh thu được, Ngân hàng Phát triển Việt Nam được hạch toán toàn bộ vào thu nhập của Ngân hàng Phát triển Việt Nam.
Ngân hàng Phát triển Việt Nam xem xét, quyết định xóa phí bảo lãnh đối với doanh nghiệp đã phá sản, giải thể và sau khi thanh lý, xử lý toàn bộ tài sản của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật. Ngân hàng Phát triển Việt Nam hướng dẫn về hồ sơ, trình tự, thủ tục và chịu trách nhiệm về quyết định xóa phí bảo lãnh.
Quy định mới về nợ vay bắt buộc bảo lãnh và hoàn trả nợ cho Ngân hàng Phát triển Việt Nam
Đồng thời, Quyết định số 12/2026/QĐ-TTg cũng sửa đổi, bổ sung Điều 20 Quy chế về nợ vay bắt buộc bảo lãnh và hoàn trả nợ cho Ngân hàng Phát triển Việt Nam:
Sau khi thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh, Ngân hàng Phát triển Việt Nam yêu cầu bên được bảo lãnh nhận nợ và ký hợp đồng nợ vay bắt buộc bảo lãnh với Ngân hàng Phát triển Việt Nam.
Sau khi ký hợp đồng nợ vay bắt buộc bảo lãnh, bên được bảo lãnh chuyển thành bên nhận nợ vay bắt buộc bảo lãnh tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam.
Hợp đồng nợ vay bắt buộc bảo lãnh quy định tại khoản 1 Điều này bao gồm các nội dung như sau:
Lãi suất nợ vay bắt buộc bảo lãnh: Được xác định bằng lãi suất cho vay tín dụng đầu tư của nhà nước tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam tại thời điểm ký hợp đồng nợ vay bắt buộc bảo lãnh; lãi suất nợ vay bắt buộc bảo lãnh quá hạn tối đa bằng 150% lãi suất trong hạn, mức lãi suất cụ thể do Ngân hàng Phát triển Việt Nam xem xét, quyết định;
Thời gian trả nợ vay bắt buộc bảo lãnh: Thời gian cụ thể do Ngân hàng Phát triển Việt Nam xem xét, quyết định căn cứ vào tình hình tài chính, phương án sản xuất kinh doanh và khả năng trả nợ vay của bên nhận nợ vay bắt buộc bảo lãnh;
Bảo đảm cho khoản nợ vay bắt buộc bảo lãnh: Ngân hàng Phát triển Việt Nam thực hiện định giá lại tài sản bảo đảm. Trường hợp sau khi định giá, giá trị tài sản bảo đảm của dự án, phương án của khoản nợ vay bắt buộc bảo lãnh thấp hơn giá trị ghi sổ số dư nợ gốc và nợ lãi của khoản nợ vay bắt buộc bảo lãnh tại thời điểm ký hợp đồng nợ vay bắt buộc bảo lãnh, Ngân hàng Phát triển Việt Nam căn cứ vào tình hình tài chính, hoạt động, khả năng trả nợ của bên được bảo lãnh để thẩm định và quyết định việc bổ sung biện pháp bảo đảm tiền vay theo quy định của pháp luật;
Các nội dung khác liên quan đến khoản nợ vay bắt buộc bảo lãnh do Ngân hàng Phát triển Việt Nam xem xét thỏa thuận, thống nhất với bên nhận nợ vay bắt buộc bảo lãnh và quy định cụ thể tại hợp đồng nợ vay bắt buộc bảo lãnh.
Quyết định nêu rõ, bên nhận nợ vay bắt buộc bảo lãnh có trách nhiệm hoàn trả đầy đủ nợ gốc và nợ lãi phát sinh cho Ngân hàng Phát triển Việt Nam theo hợp đồng nợ vay bắt buộc bảo lãnh đã ký.
Căn cứ kết quả đánh giá về tình hình tài chính, hoạt động, phương án sản xuất kinh doanh và khả năng trả nợ của bên nhận nợ vay bắt buộc bảo lãnh, Ngân hàng Phát triển Việt Nam xem xét, quyết định việc miễn, giảm lãi của khoản nợ vay bắt buộc bảo lãnh. Ngân sách nhà nước không cấp bù lãi suất và phí quản lý đối với toàn bộ dư nợ của khoản nợ vay bắt buộc bảo lãnh trong trường hợp Ngân hàng Phát triển Việt Nam và bên nhận nợ vay bắt buộc bảo lãnh thỏa thuận, thống nhất áp dụng quy định về miễn, giảm lãi của khoản nợ vay bắt buộc bảo lãnh. Ngân hàng Phát triển Việt Nam hướng dẫn về hồ sơ, trình tự, thủ tục miễn, giảm lãi của khoản nợ vay bắt buộc bảo lãnh.
Việc xử lý rủi ro đối với các khoản nợ vay bắt buộc bảo lãnh thực hiện theo quy định tại cơ chế xử lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam do Thủ tướng Chính phủ ban hành.
Sửa đổi quy định về trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro nợ vay bắt buộc bảo lãnh
Ngoài ra, Quyết định 12/2026/QĐ-TTg cũng sửa đổi, bổ sung Điều 21 Quy chế về trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro nợ vay bắt buộc bảo lãnh như sau:
Việc trích lập, sử dụng dự phòng rủi ro để xử lý rủi ro đối với các khoản nợ vay bắt buộc bảo lãnh thực hiện theo quy định về chế độ quản lý tài chính và đánh giá hiệu quả hoạt động của Ngân hàng Phát triển Việt Nam và cơ chế xử lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam do các cơ quan có thẩm quyền ban hành.
Phó Thủ tướng Bùi Thanh Sơn - Tổ trưởng Tổ công tác bảo đảm an ninh năng lượng trước diễn biến phức tạp của cuộc xung đột quân sự tại Trung Đông vừa ký Quyết định số 30/QĐ-TCT ban hành Quy chế hoạt động của Tổ công tác này.
Quy chế này quy định nguyên tắc, trách nhiệm, quyền hạn, chế độ làm việc; chế độ báo cáo và điều kiện đảm bảo hoạt động của Tổ công tác bảo đảm an ninh năng lượng trước diễn biến phức tạp của cuộc xung đột quân sự tại Trung Đông (Tổ công tác).
Nguyên tắc và phương thức hoạt động của Tổ công tác
Tổ công tác làm việc theo nguyên tắc quy định tại Điều 3 Quyết định số 385/QĐ-TTg ngày 04 tháng 3 năm 2026 của Thủ tướng Chính phủ thành lập Tổ công tác bảo đảm an ninh năng lượng trước diễn biến phức tạp của cuộc xung đột quân sự tại Trung Đông (Quyết định số 385/QĐ-TTg) và Quy chế này.
Hoạt động của Tổ công tác được thực hiện thông qua cuộc họp, lấy ý kiến bằng văn bản hoặc triển khai các hoạt động cụ thể theo chức năng, nhiệm vụ của Tổ công tác. Ý kiến của thành viên Tổ công tác tại các cuộc họp là ý kiến đại diện cho cơ quan cử thành viên tham gia, trừ trường hợp phải xin ý kiến chính thức của cơ quan theo quy định.
Các thành viên Tổ công tác phân công Trưởng đơn vị thuộc cơ quan mình tham gia Nhóm giúp việc và làm đầu mối phối hợp giữa cơ quan công tác với Nhóm giúp việc để triển khai thực hiện các nhiệm vụ của Tổ công tác và sử dụng kinh phí, bộ máy tổ chức của cơ quan mình để thực hiện các nhiệm vụ được phân công.
Bộ Công Thương là đầu mối tiếp nhận các kiến nghị của bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp về các khó khăn, vướng mắc trong thực hiện bảo đảm an ninh năng lượng thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Tổ công tác để tổng hợp, báo cáo Tổ công tác theo quy định tại Điều 2 Quyết định số 385/QĐ-TTg.
Cơ cấu tổ chức và nhiệm vụ của Tổ công tác
Tổ công tác gồm Tổ trưởng, Tổ phó thường trực và các thành viên.
Tổ công tác thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn quy định tại Điều 2 Quyết định số 385/QĐ-TTg. Bộ Công Thương thành lập Nhóm giúp việc gồm Trưởng một số đơn vị thuộc Bộ Công Thương và các bộ, cơ quan liên quan.
Về Nhóm giúp việc Tổ công tác, Quyết định quy định Bộ trưởng Bộ Công Thương quyết định thành lập Nhóm giúp việc của Tổ công tác để tham mưu, giúp Tổ công tác tổ chức triển khai thực hiện các nhiệm vụ của Tổ công tác.
Thành viên Nhóm giúp việc bao gồm Trưởng một số đơn vị thuộc Bộ Công Thương và các bộ, cơ quan và doanh nghiệp quy định tại khoản 3 Điều 1 Quyết định số 385/QĐ-TTg. Thành viên Nhóm giúp việc có trách nhiệm đề xuất, tham mưu, tổng hợp các nội dung làm việc của Tổ công tác trong phạm vi nhiệm vụ, lĩnh vực quản lý của cơ quan mình theo phân công của lãnh đạo Tổ công tác.
Nhóm giúp việc có nhiệm vụ chuẩn bị tài liệu phục vụ hoạt động thuộc trách nhiệm của Tổ công tác; xây dựng chương trình, kế hoạch làm việc, chuẩn bị nội dung các phiên họp và các hoạt động khác của Tổ công tác theo phân công của lãnh đạo Tổ công tác.
Thành viên Nhóm giúp việc Tổ công tác có trách nhiệm giúp thành viên Tổ công tác là đại diện lãnh đạo các bộ, cơ quan mình thực hiện nhiệm vụ được giao.
Nhóm giúp việc và thành viên Nhóm giúp việc thực hiện các nhiệm vụ khác khi được lãnh đạo Tổ công tác phân công.
Trưởng Nhóm giúp việc giúp lãnh đạo Tổ công tác điều hành hoạt động của Nhóm giúp việc.
Phó Thủ tướng Bùi Thanh Sơn ký Quyết định số 540/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch thực hiện Hiệp định hợp tác về khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa Pháp (Kế hoạch).
Kế hoạch nhằm mục đích triển khai Hiệp định hợp tác về khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa Pháp ký và có hiệu lực từ ngày 26/5/2025 (Hiệp định).
Lộ trình thực hiện Hiệp định
Theo Kế hoạch, Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan tổ chức chỉ đạo, hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện Hiệp định; xây dựng báo cáo về tình hình ký kết và thực hiện Hiệp định gửi Bộ Ngoại giao tổng hợp; báo cáo các cấp có thẩm quyền về tình hình ký kết và thực hiện Hiệp định theo yêu cầu.
Định kỳ hai năm một lần, chủ trì tổ chức đánh giá kết quả thực hiện Hiệp định và trao đổi kế hoạch phối hợp với Bộ Đại học và Nghiên cứu Pháp; định kỳ kiểm tra, giám sát việc thực hiện Hiệp định, kịp thời phát hiện những vấn đề phát sinh để đề xuất sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với tình hình hai nước.
Các Bộ, ban, ngành liên quan căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ được giao, phối hợp chặt chẽ với Bộ Khoa học và Công nghệ và các Bộ, ban, ngành liên quan khác xây dựng và triển khai Kế hoạch thực hiện Hiệp định.
Phân công trách nhiệm tổ chức thực hiện Hiệp định
Bộ Khoa học và Công nghệ thống nhất với Bộ Giáo dục Đại học và Nghiên cứu Pháp về đầu mối liên lạc để trao đổi triển khai Hiệp định theo Điều 7 của Hiệp định.
Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với các cơ quan đại diện ngoại giao tại Việt Nam và Pháp trao đổi với Bộ Giáo dục Đại học và Nghiên cứu Pháp về các hình thức trao đổi để triển khai Hiệp định thông qua họp, hội nghị song phương hoặc diễn đàn chung.
Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì trao đổi với Bộ Giáo dục Đại học và Nghiên cứu Pháp về việc tái khởi động Chương trình Hubert Curien Hoa Sen Lotus để đi đến ký kết thỏa thuận riêng với cơ quan có thẩm quyền của Pháp để thực hiện Chương trình này, phù hợp với pháp luật của mỗi nước.
Tuyên truyền, phổ biến nội dung Hiệp định
Tổ chức tuyên truyền, phổ biến nội dung Hiệp định, các văn bản hướng dẫn thực hiện, các quy định của pháp luật của Việt Nam và Pháp liên quan đến hoạt động khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo cho các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân có liên quan của Việt Nam và Pháp trên các phương tiện thông tin; tổ chức các hội nghị, hội thảo, tọa đàm, tập huấn về Hiệp định./.