In bài viết

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 20/2/2026

(Chinhphu.vn) - Văn phòng Chính phủ vừa có Thông cáo báo chí chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 20/2/2026.

21/02/2026 01:00

Công điện của Thủ tướng Chính phủ về chủ động ứng phó với xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long và hạn hán, cháy rừng ở khu vực Nam Trung Bộ và Đông Nam Bộ

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính vừa ký Công điện số 15/CĐ-TTg ngày 20/2/2026 về việc chủ động ứng phó với xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long và hạn hán, cháy rừng ở khu vực Nam Trung Bộ và Đông Nam Bộ.

Công điện gửi Bộ trưởng các Bộ: Nông nghiệp và Môi trường, Công Thương; Tổng Giám đốc: Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam; Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố khu vực Nam Trung Bộ, Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long.

Theo thông tin từ cơ quan chuyên môn thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường, dự báo từ nay đến hết tháng 5/2026, hiện tượng ENSO có khả năng chuyển dần sang trạng thái trung tính với xác suất khoảng từ 80 - 90%, từ tháng 6 - 8/2026, hiện tượng ENSO có khả năng duy trì trạng thái trung tính, xác suất chuyển sang El Nino có xu hướng tăng dần với xác suất trong khoảng từ 35 - 45%, xác suất chuyển sang La Nina ở mức rất thấp. Dự báo lượng mưa, dòng chảy sông suối ở các khu vực Nam Trung Bộ, Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long ở mức tương đương trung bình nhiều năm nhưng lượng mưa, dòng chảy ở mức thấp do đang bước vào cao điểm của mùa khô. Lượng nước dự trữ của các hồ chứa thủy lợi, thủy điện tương đối khá, ở mức từ 70 - 80% dung tích thiết kế.

Xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đã xuất hiện ở mức tương đương với trung bình nhiều năm, một số thời điểm đã ảnh hưởng đến nguồn nước phục vụ sản xuất nông nghiệp và dân sinh. Nhận định từ cuối tháng 2 đến tháng 5/2026, dòng chảy trên sông Mê Công về ĐBSCL tiếp tục giảm dần; xâm nhập mặn ở các cửa sông ở mức tương đương trung bình nhiều năm, các đợt xâm nhập cao nhất ở các cửa sông Cửu Long tập trung trong tháng 2 và 3 (từ ngày 18 - 22/2 và từ ngày 19 - 23/3) với ranh mặn 4g/lít cao nhất trong phạm vi từ 42 - 55 km; ở các cửa sông Vàm Cỏ, Cái Lớn vào tháng 3 và 4 (từ ngày 1/3 - 6/3, từ 19/3 - 23/3, từ 30/3 - 4/4 và từ 18/4 - 21/4) với ranh mặn 4g/lít cao nhất trong phạm vi từ 65 - 70 km.

Với tình hình mưa, nguồn nước, xâm nhập mặn như trên, chưa ảnh hưởng lớn đến sản xuất và sinh hoạt của người dân; tuy nhiên, cần đề phòng hạn hán, cháy rừng, thiếu nước xảy ra cục bộ và xâm nhập mặn ở ĐBSCL có tình huống bất lợi bất thường do xâm nhập mặn phụ thuộc lớn vào các hoạt động khai thác nước ở thượng nguồn sông Mê Công.

Để chủ động ứng phó với ảnh hưởng của hạn hán, xâm nhập mặn, cháy rừng, nhất là tác động của các tình huống bất thường, bảo đảm nguồn nước phục vụ sản xuất nông nghiệp và dân sinh, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu:

1. Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường

a) Chỉ đạo theo dõi sát tình hình diễn biến thời tiết, thủy văn, nguồn nước; tổ chức dự báo ngắn hạn, dài hạn về thủy văn, nguồn nước, hạn hán, xâm nhập mặn, cháy rừng, thường xuyên cung cấp thông tin để các cơ quan chức năng, địa phương biết, chủ động thực hiện các giải pháp phòng, chống, tuyệt đối không để xảy ra tình huống gây bị động, bất ngờ.

b) Tổ chức thu thập thông tin về tình hình nguồn nước, vận hành điều tiết các hồ chứa thủy điện bên ngoài lãnh thổ Việt Nam, khai thác sử dụng nước của các nước ở thượng nguồn sông Mê Công để phục vụ dự báo nguồn nước, xâm nhập mặn ở vùng ĐBSCL.

c) Chỉ đạo triển khai các biện pháp phòng, chống hạn hán, xâm nhập mặn, phòng chống cháy rừng phù hợp với thực tế và thông tin nhận định, lưu ý hướng dẫn địa phương thực hiện việc điều chỉnh thời vụ, xác định thời điểm xuống giống lúa phù hợp, trữ nước cho vùng cây trồng cạn có giá trị kinh tế cao, bảo đảm hạn hán, xâm nhập mặn mùa khô năm 2025 - 2026 không gây thiệt hại đến sản xuất nông nghiệp và ảnh hưởng đến nguồn nước sinh hoạt của người dân.

d) Chỉ đạo đơn vị khai thác công trình thủy lợi trực thuộc tổ chức vận hành công trình thủy lợi lấy nước, phân phối nước hiệu quả, tạo điều kiện tốt nhất về nguồn nước cho các địa phương, người dân tổ chức lấy nước phục vụ sản xuất và dân sinh.

đ) Phân công lãnh đạo Bộ và giao nhiệm vụ cụ thể cho các cơ quan chuyên môn trực thuộc theo dõi, chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn các địa phương, nhất là chính quyền cấp xã ở ven biển triển khai các biện pháp ứng phó với xâm nhập mặn phù hợp với thực tế, tuyệt đối không được chủ quan, bị động nhất là khi xảy ra trường hợp xâm nhập mặn ở ĐBSCL bất thường tăng cao.

2. Bộ trưởng Bộ Công Thương chỉ đạo bảo đảm điện cho sản xuất kinh doanh và sinh hoạt của Nhân dân, khai thác tối đa hiệu quả từ các nhà máy thủy điện phù hợp với kế hoạch điều tiết nước phục vụ sản xuất và sinh hoạt. Tuyệt đối không để bị động và thiếu điện do yếu tố chủ quan.

3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố khu vực Nam Trung Bộ, Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Cửu Long

a) Tổ chức tăng cường theo dõi sát diễn biến, dự báo khí tượng, thủy văn, nguồn nước, xâm nhập mặn, nguy cơ cháy rừng để chủ động triển khai các biện pháp ứng phó cụ thể, phù hợp với từng khu vực theo chỉ đạo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường và phù hợp với tình hình thực tế tại địa phương, lưu ý chủ động ứng phó với các tình huống xâm nhập mặn tăng cao bất thường, tuyệt đối không để hạn hán, xâm nhập mặn, cháy rừng làm ảnh hưởng đến sản xuất, kinh doanh, người dân, cơ sở y tế, cơ sở giáo dục,… thiếu nước ngọt phục vụ sinh hoạt.

b) Phối hợp với Bộ Công Thương và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có liên quan chỉ đạo vận hành linh hoạt, hiệu quả các hồ chứa thủy lợi, thủy điện, các hệ thống công trình thủy lợi, bảo đảm khai thác đa mục tiêu, tối ưu nguồn nước, vừa đảm bảo cho sản xuất nông nghiệp, vừa đảm bảo nước cho phát điện, nhất là thời kỳ nắng nóng cao điểm.

c) Thường xuyên phổ biến, thông tin kịp thời về tình hình xâm nhập mặn, nguy cơ cháy rừng trên các phương tiện thông tin đại chúng và các phương tiện phù hợp khác để người dân, tổ chức liên quan chủ động ứng phó với ảnh hưởng của xâm nhập mặn đến sản xuất, dân sinh; tuyên truyền, hướng dẫn, khuyến cáo người dân tăng cường thực hiện các biện pháp tưới tiên tiến, tiết kiệm nước, sử dụng nước hiệu quả, đo độ mặn trước khi tưới cho cây trồng, nhất là cho cây trồng có giá trị kinh tế cao.

d) Chủ động sử dụng các nguồn kinh phí do địa phương quản lý để thực hiện các giải pháp phòng, chống hạn hán, xâm nhập mặn, cháy rừng; trường hợp ngoài khả năng của địa phương, báo cáo theo quy định tại Quyết định số 305/QĐ-TTg ngày 05/3/2021 của Thủ tướng Chính phủ quy định về phạm vi, đối tượng, nội dung chi và cơ chế hỗ trợ từ ngân sách Trung ương cho địa phương thực hiện phòng, chống, khắc phục hậu quả hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn, cháy rừng.

4. Tổng Giám đốc: Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam chỉ đạo cập nhật thông tin, kịp thời đưa tin về tình hình, thông tin dự báo và công tác chỉ đạo điều hành các nhiệm vụ, giải pháp ứng phó của các cơ quan có thẩm quyền, bảo đảm thông suốt đến người dân và chính quyền cấp xã để thường xuyên có thông tin cập nhật và chủ động ứng phó, nhất là các tình huống xảy ra xâm nhập mặn, khô hạn, cháy, nổ bất thường.

5. Giao Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Hồng Hà theo dõi, chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương triển khai thực hiện Công điện này.

6. Văn phòng Chính phủ theo chức năng, nhiệm vụ được giao theo dõi, đôn đốc việc thực hiện Công điện này, kịp thời báo cáo Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ phụ trách những vấn đề đột xuất, phát sinh.

Quy định về xử phạt trục xuất đối với người nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam

Chính phủ ban hành Nghị định số 59/2026/NĐ-CP quy định hình thức xử phạt trục xuất, biện pháp tạm giữ người, áp giải người vi phạm theo thủ tục hành chính và quản lý người nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam trong thời gian làm thủ tục trục xuất.

Nghị định gồm 6 chương, 44 điều quy định về đối tượng áp dụng, thủ tục áp dụng hình thức xử phạt trục xuất; quyền, nghĩa vụ của người bị áp dụng hình thức xử phạt trục xuất; biện pháp quản lý người nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam trong thời gian làm thủ tục trục xuất và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức thi hành hình thức xử phạt trục xuất.

Đối tượng áp dụng, thủ tục tạm giữ người, áp giải người vi phạm theo thủ tục hành chính; các trường hợp áp dụng biện pháp tạm giữ người, áp giải người vi phạm theo thủ tục hành chính; quyền và nghĩa vụ của người bị áp dụng biện pháp tạm giữ người, áp giải người vi phạm theo thủ tục hành chính.

Những quy định khác có liên quan đến việc áp dụng hình thức xử phạt trục xuất và biện pháp tạm giữ người, áp giải người vi phạm theo thủ tục hành chính.

Nghị định này áp dụng đối với các trường hợp sau:

1. Người có hành vi vi phạm pháp luật hành chính bị tạm giữ theo thủ tục hành chính.

2. Người có hành vi vi phạm pháp luật hành chính bị áp giải.

3. Người nước ngoài có hành vi vi phạm pháp luật Việt Nam mà theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính phải bị trục xuất.

4. Người có thẩm quyền áp dụng hình thức xử phạt trục xuất; người có thẩm quyền tạm giữ người theo thủ tục hành chính; người có thẩm quyền đang thi hành công vụ thực hiện việc áp giải người vi phạm theo quy định.

5. Các cơ quan, đơn vị, tổ chức khác có liên quan đến việc áp dụng hình thức xử phạt trục xuất, biện pháp tạm giữ người, áp giải người vi phạm theo thủ tục hành chính và quản lý người nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam trong thời gian làm thủ tục trục xuất.

Đối tượng áp dụng hình thức xử phạt trục xuất

Về việc xử phạt trục xuất đối với người nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam, Nghị định quy định đối tượng áp dụng hình thức xử phạt này là cá nhân người nước ngoài có hành vi vi phạm hành chính trong phạm vi lãnh thổ, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; trên tàu bay mang quốc tịch Việt Nam, tàu biển mang cờ quốc tịch Việt Nam bị áp dụng hình thức xử phạt trục xuất theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính và các nghị định của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực.

Người có thẩm quyền áp dụng hình thức xử phạt trục xuất được thực hiện theo quy định tại khoản 6, điểm đ khoản 7, khoản 9 Điều 8 Nghị định số 189/2025/NĐ-CP ngày 01/7/2025 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Xử lý vi phạm hành chính về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính.

Quyền, nghĩa vụ của người bị áp dụng hình thức xử phạt trục xuất

Người bị áp dụng hình thức xử phạt trục xuất có quyền:

a) Được biết lý do bị trục xuất, nhận quyết định xử phạt vi phạm hành chính có áp dụng hình thức xử phạt trục xuất (sau đây gọi chung là quyết định xử phạt trục xuất) chậm nhất 48 giờ trước khi thi hành;

b) Được liên hệ, thông báo với cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự của nước mà mình là công dân;

c) Được yêu cầu có người phiên dịch khi làm việc với cơ quan, người có thẩm quyền;

d) Được yêu cầu cơ quan chức năng có thẩm quyền xem xét lại đối với quyết định xử phạt trục xuất theo quy định của pháp luật;

đ) Được thực hiện các chế độ quy định tại Nghị định số 65/2020/NĐ-CP ngày 10/6/2020 của Chính phủ quy định về tổ chức và các chế độ đối với người lưu trú tại cơ sở lưu trú trong thời gian chờ xuất cảnh;

e) Được mang theo tài sản hợp pháp của mình ra khỏi lãnh thổ Việt Nam;

g) Được khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp luật.

Nghĩa vụ của người bị trục xuất gồm:

a) Thực hiện đầy đủ các quy định ghi trong quyết định xử phạt trục xuất, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 10 Nghị định này;

b) Xuất trình giấy tờ tùy thân theo yêu cầu của cơ quan quản lý xuất nhập cảnh;

c) Tuân thủ các quy định của pháp luật Việt Nam, chịu sự quản lý của cơ quan Công an trong thời gian làm thủ tục trục xuất;

d) Nhanh chóng chấp hành đầy đủ các nghĩa vụ về dân sự, hành chính, kinh tế và các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật (nếu có);

đ) Hoàn thành các thủ tục cần thiết để rời khỏi lãnh thổ Việt Nam trong thời hạn ghi trong quyết định xử phạt trục xuất.

Trường hợp hoãn thi hành quyết định xử phạt trục xuất

Nghị định quy định rõ việc hoãn thi hành quyết định xử phạt trục xuất được thực hiện trong các trường hợp sau đây:

a) Bị bệnh nặng phải cấp cứu hoặc đang điều trị bệnh không thể thực hiện được quyết định xử phạt trục xuất có chứng nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh từ cấp cơ bản trở lên;

b) Phải thực hiện nghĩa vụ về dân sự, hành chính, kinh tế theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 10 Nghị định này;

c) Người bị áp dụng hình thức xử phạt trục xuất đồng thời là người bị buộc tội, đương sự trong vụ án mà cơ quan điều tra đang thụ lý;

d) Trường hợp do dịch bệnh, thiên tai, chiến tranh hoặc nước tiếp nhận chưa đồng ý cho nhập cảnh.

Khi điều kiện hoãn không còn thì quyết định xử phạt trục xuất được tiếp tục thi hành.

Quản lý người nước ngoài vi phạm pháp luật trong thời gian chờ trục xuất

Nghị định cũng quy định cụ thể người nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam trong thời gian làm thủ tục trục xuất bị áp dụng biện pháp quản lý trong những trường hợp sau:

a) Khi có căn cứ cho rằng, nếu không áp dụng biện pháp cần thiết để quản lý thì người đó sẽ trốn tránh hoặc cản trở việc thi hành quyết định xử phạt trục xuất;

b) Để ngăn chặn người đó tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm pháp luật.

Biện pháp quản lý người nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam trong thời gian làm thủ tục trục xuất bao gồm: Hạn chế việc đi lại của người bị quản lý; chỉ định chỗ ở của người bị quản lý; tạm giữ hộ chiếu hoặc giấy tờ tùy thân khác thay hộ chiếu của người bị quản lý.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/4/2026 và thay thế Nghị định số 142/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định hình thức xử phạt trục xuất, biện pháp tạm giữ người, áp giải người vi phạm theo thủ tục hành chính và quản lý người nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam trong thời gian làm thủ tục trục xuất.

Đồng thời, bãi bỏ Điều 66 Nghị định số 282/2025/NĐ-CP ngày 30/10/2025 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng, chống bạo lực gia đình./.