
Mức phạt tiền tối đa đối với cá nhân vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia là 75 triệu đồng.
Chính phủ ban hành Nghị định số 79/2026/NĐ-CP ngày 18/3/2026 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia.
Nghị định này quy định về hành vi vi phạm hành chính; hành vi vi phạm hành chính đã kết thúc và hành vi vi phạm hành chính đang thực hiện; hình thức, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả; thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính và thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính; mức phạt tiền cụ thể theo từng chức danh; việc thi hành các hình thức xử phạt vi phạm hành chính, biện pháp khắc phục hậu quả trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia.
Theo Nghị định, có 8 hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia gồm: vi phạm các quy định về quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia, mốc quốc giới, dấu hiệu đường biên giới; vi phạm quy chế khu vực biên giới; vi phạm quy chế quản lý cửa khẩu biên giới đất liền; vi phạm về quản lý hoạt động của người, phương tiện trong khu vực biên giới biển; vi phạm quy định về bảo đảm an ninh, trật tự tại cửa khẩu cảng; vi phạm các quy định về quản lý, bảo vệ công trình biên giới, biển báo trong khu vực biên giới, khu vực cửa khẩu biên giới đất liền, cửa khẩu cảng; vi phạm các quy định về xây dựng các dự án, công trình trong khu vực biên giới, cửa khẩu; hành vi vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới ngoài khu vực cửa khẩu; vi phạm các quy định về tàng trữ, mua bán, vận chuyển, trao đổi hàng hóa ở khu vực biên giới.
Phạt đến 75 triệu đồng đối với hành vi vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới ngoài khu vực cửa khẩu
Về hành vi vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới ngoài khu vực cửa khẩu, Nghị định quy định:
1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm mà tang vật vi phạm có giá trị dưới 10.000.000 đồng.
2. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau:
a) Hành vi vi phạm mà tang vật vi phạm có giá trị từ 10.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng;
b) Vận chuyển trái phép qua biên giới hàng hóa là văn hóa phẩm.
3. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm mà tang vật vi phạm có giá trị từ 50.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng.
4. Phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 75.000.000 đồng đối với tang vật vi phạm có giá trị từ 100.000.000 đồng trở lên hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi quy định tại khoản 1, điểm a khoản 2, khoản 3 nêu trên mà còn tái phạm nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
5. Hình thức xử phạt bổ sung: Tịch thu tang vật đối với hành vi vi phạm nêu trên, trừ trường hợp đã áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả sau:
Buộc tiêu hủy hàng hóa, vật phẩm gây hại cho sức khỏe con người, vật nuôi, cây trồng, môi trường và văn hóa phẩm có nội dung độc hại đối với hành vi vi phạm;
Buộc nộp lại số tiền bằng với giá trị tang vật vi phạm hành chính đã bị tiêu thụ, tẩu tán, tiêu hủy trái quy định của pháp luật đối với hành vi vi phạm.
Phạt từ 30 đến 40 triệu đồng đối với hàng hóa vi phạm về tàng trữ, mua bán, vận chuyển ở khu vực biên giới có giá trị từ 100 triệu đồng
Về vi phạm các quy định về tàng trữ, mua bán, vận chuyển, trao đổi hàng hóa ở khu vực biên giới, Nghị định quy định như sau:
1. Tàng trữ, mua bán, vận chuyển, trao đổi hàng hóa ở khu vực biên giới mà tại thời điểm kiểm tra không có giấy tờ, không đầy đủ giấy tờ chứng minh tính hợp pháp của hàng hóa:
a) Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hàng hóa vi phạm có giá trị dưới 5.000.000 đồng;
b) Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hàng hóa vi phạm có giá trị từ 5.000.000 đồng đến dưới 10.000.000 đồng;
c) Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hàng hóa vi phạm có giá trị từ 10.000.000 đồng đến dưới 20.000.000 đồng;
d) Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với hàng hóa vi phạm có giá trị từ 20.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng;
đ) Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hàng hóa vi phạm có giá trị từ 50.000.000 đồng đến dưới 70.000.000 đồng;
e) Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hàng hóa vi phạm có giá trị từ 70.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng;
g) Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với hàng hóa vi phạm có giá trị từ 100.000.000 đồng trở lên;
h) Phạt tiền gấp 02 lần mức tiền phạt quy định tại điểm a, điểm b, điểm c, điểm d, điểm đ, điểm e, điểm g nêu trên nhưng không vượt quá mức phạt tối đa quy định tại Nghị định này trong trường hợp hàng hóa vi phạm là: Lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm, thuốc phòng bệnh và thuốc chữa bệnh cho người, thực phẩm chức năng, mỹ phẩm; chất tẩy rửa, diệt côn trùng, thuốc thú y, phân bón, xi măng, thức ăn chăn nuôi, thuốc bảo vệ thực vật, chất kích thích tăng trưởng, giống cây trồng, giống vật nuôi; hàng hóa khác thuộc danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện.
Phạt từ 10- 20 triệu đồng khi vi phạm lưu giữ hàng hóa không đúng địa điểm quy định
2. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi xảy ra ngoài địa bàn hoạt động hải quan sau:
a) Vận chuyển hàng hóa quá cảnh, chuyển cảng, chuyển khẩu, chuyển cửa khẩu, hàng kinh doanh tạm nhập - tái xuất không đúng tuyến đường, địa điểm, cửa khẩu, thời gian quy định hoặc đăng ký trong hồ sơ hàng hóa chưa được phép của cơ quan chức năng theo quy định của pháp luật;
b) Tự ý phá niêm phong hàng hóa;
c) Không bảo đảm nguyên trạng hàng hóa đang chịu sự giám sát hoặc hàng hóa được giao bảo quản theo quy định của pháp luật chờ hoàn thành thủ tục xuất khẩu, nhập khẩu;
d) Lưu giữ hàng hóa không đúng địa điểm quy định.
3. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi tự ý tiêu thụ hàng hóa đang chịu sự giám sát theo quy định của pháp luật.
4. Hình thức phạt bổ sung:
a) Tịch thu tang vật vi phạm hành chính quy định tại khoản 1 nêu trên, trừ trường hợp hàng hóa đã được xác định có nguồn gốc, xuất xứ hợp pháp;
b) Tịch thu tang vật vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 3 Điều này đối với hàng hóa thuộc danh mục cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu; tạm ngừng xuất khẩu, tạm ngừng nhập khẩu hoặc không đủ điều kiện để xuất khẩu, nhập khẩu hoặc thuộc trường hợp phải có giấy phép mà không có giấy phép khi xuất khẩu, nhập khẩu, trừ trường hợp áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả sau:
Buộc tiêu hủy hàng hóa, vật phẩm gây hại cho sức khỏe con người, vật nuôi, cây trồng, môi trường và văn hóa phẩm có nội dung độc hại đối với các hành vi vi phạm nêu trên;
Buộc thực hiện việc vận chuyển hàng hóa quá cảnh, chuyển cảng, chuyển khẩu, chuyển cửa khẩu, hàng kinh doanh tạm nhập - tái xuất đúng cửa khẩu, tuyến đường quy định đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm a khoản 2 nêu trên;
Buộc nộp lại số tiền bằng với giá trị tang vật vi phạm hành chính đã bị tiêu thụ, tẩu tán, tiêu hủy trái quy định của pháp luật đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 1, khoản 3 nêu trên;
Buộc đưa ra khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc tái xuất hàng hóa, vật phẩm, phương tiện, trường hợp quá thời hạn 30 ngày kể từ ngày hết thời hạn thi hành biện pháp khắc phục hậu quả nhưng không thực hiện được thì tịch thu tang vật vi phạm đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm b, điểm c, điểm d khoản 2 nêu trên.
Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 02/5/2026.

Bơi lội trong khu vực cảng biển bị phạt tới 1 triệu đồng - Ảnh minh họa
Chính phủ ban hành Nghị định số 80/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 142/2017/NĐ-CP ngày 11/12/2017 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hàng hải được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 123/2021/NĐ-CP ngày 28/12/2021 của Chính phủ và Nghị định số 139/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa.
Đặt tên cảng biển không phù hợp với nguyên tắc bị phạt tới 50 triệu đồng
Trong đó, Nghị định số 80/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung mức phạt đối với hành vi vi phạm quy định về công bố mở cảng biển, cảng dầu khí ngoài khơi, bến cảng, cầu cảng.
Theo quy định mới, phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi khai báo sai lệch thông tin trong hồ sơ đề nghị công bố mở cảng biển, cảng dầu khí ngoài khơi, bến cảng, cầu cảng.
Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi sử dụng giấy chứng nhận, giấy xác nhận, giấy phép, văn bản cho phép, chứng chỉ, giấy tờ bị tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung hoặc không do cơ quan có thẩm quyền cấp nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự trong hồ sơ đề nghị công bố mở cảng biển, cảng dầu khí ngoài khơi, bến cảng, cầu cảng.
Đối với các hành vi vi phạm về đặt tên, đổi tên cảng biển, cảng dầu khí ngoài khơi, bến cảng, cầu cảng, bến phao, khu nước, vùng nước, Nghị định số 80/2026/NĐ-CP quy định phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với hành vi đặt tên, đổi tên cảng biển, cảng dầu khí ngoài khơi, bến cảng, cầu cảng, bến phao, khu nước, vùng nước không phù hợp với nguyên tắc đặt tên theo quy định hoặc không thông báo bằng văn bản về việc đặt tên, đổi tên cảng biển, cảng dầu khí ngoài khơi, bến cảng, cầu cảng, bến phao, khu nước, vùng nước cho các cơ quan quản lý chuyên ngành hàng hải theo quy định.
Đồng thời, Nghị định số 80/2026/NĐ-CP quy định phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi bơi lội hoặc làm mất trật tự công cộng trong khu vực cảng.
Khai thác tàu biển khi chưa được cấp giấy chứng nhận đăng ký bị phạt tới 30 triệu đồng
Nghị định số 80/2026/NĐ-CP quy định phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với mỗi hành vi vi phạm sau: Khai thác tàu biển, tàu biển công vụ, tàu ngầm, tàu lặn, kho chứa nổi, giàn khoan di động khi chưa được cấp giấy chứng nhận đăng ký; sử dụng một trong các giấy chứng nhận của tàu biển, tàu biển công vụ, tàu ngầm, tàu lặn, kho chứa nổi, giàn khoan di động khác hoặc giấy chứng nhận bị tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung hoặc giấy chứng nhận không do cơ quan có thẩm quyền cấp nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc giấy chứng nhận đã hết hiệu lực.
Bố trí thuyền viên làm việc trên tàu thuyền không có đủ chứng chỉ chuyên môn bị phạt tới 10 triệu đồng
Đối với các hành vi vi phạm quy định về bố trí thuyền viên, sử dụng chứng chỉ chuyên môn, chứng chỉ hành nghề, sổ thuyền viên, Nghị định quy định phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với mỗi hành vi vi phạm sau: Không ghi hoặc ghi không đầy đủ, chính xác thông tin trong sổ thuyền viên theo quy định; không mang theo đầy đủ chứng chỉ hành nghề, chứng chỉ chuyên môn, sổ thuyền viên khi làm việc trên tàu biển theo quy định.
Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với mỗi hành vi vi phạm sau:
- Bố trí thuyền viên làm việc trên tàu thuyền không có đủ chứng chỉ chuyên môn, chứng chỉ hành nghề, sổ thuyền viên hoặc có chứng chỉ chuyên môn, chứng chỉ hành nghề nhưng hết hiệu lực hoặc bố trí chức danh thuyền viên không phù hợp với chứng chỉ chuyên môn, chứng chỉ hành nghề của thuyền viên;
- Giao nhiệm vụ cho thuyền viên làm việc trên tàu biển không phù hợp với chức danh trong sổ thuyền viên;
- Không thực hiện việc khai báo hoặc khai báo không chính xác thông tin xuống, rời tàu và việc bố trí chức danh cho thuyền viên bằng phương thức điện tử vào Cơ sở dữ liệu quản lý thuyền viên của Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam theo quy định.
Cho thuê chứng chỉ thuyền viên bị phạt tới 20 triệu đồng
Đồng thời, Nghị định 80/2026/NĐ-CP quy định phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với mỗi hành vi mua, bán, thuê, cho thuê, mượn, cho mượn chứng chỉ chuyên môn, chứng chỉ hành nghề, sổ thuyền viên.
Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với mỗi hành vi vi phạm sau: Sử dụng chứng chỉ chuyên môn, chứng chỉ hành nghề, sổ thuyền viên không do cơ quan có thẩm quyền cấp hoặc đã bị sửa chữa, tẩy xóa; sử dụng chứng chỉ chuyên môn, chứng chỉ hành nghề, sổ thuyền viên của người khác để làm việc trên tàu thuyền; khai báo sai lệch thông tin hoặc sử dụng giấy tờ sửa chữa, tẩy xóa hoặc không do cơ quan có thẩm quyền cấp trong hồ sơ đề nghị cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề, chứng chỉ chuyên môn, sổ thuyền viên.

Xây dựng Trung tâm dữ liệu, quản lý, giám sát, xử lý vi phạm và điều hành giao thông giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050
Mục tiêu của Đề án là xây dựng Trung tâm dữ liệu, quản lý, giám sát, xử lý vi phạm và điều hành giao thông theo mô hình thống nhất trên phạm vi toàn quốc; vận hành trên nền tảng dữ liệu dùng chung; từng bước ứng dụng trí tuệ nhân tạo để hỗ trợ phân tích, dự báo và điều hành. Qua đó, đổi mới phương thức quản lý giao thông từ mô hình chủ yếu xử lý vi phạm sang mô hình điều hành chủ động dựa trên dữ liệu; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, bảo đảm trật tự, an toàn giao thông và phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.
Mở rộng hệ thống camera giám sát bảo đảm trật tự, an toàn giao thông
Đề án phấn đấu đến năm 2030, mở rộng hệ thống camera giám sát bảo đảm trật tự, an toàn giao thông, an ninh trật tự trên các tuyến cao tốc, quốc lộ, đường tỉnh, đường đô thị và các tuyến giao thông trọng điểm; từng bước mở rộng trên đường sắt và đường thuỷ nội địa.
Hoàn thiện nền tảng điều hành giao thông dựa trên dữ liệu và trí tuệ nhân tạo phục vụ phát hiện vi phạm, phân tích, dự báo và điều phối giao thông theo thời gian thực.
Phát triển và cung cấp dịch vụ giao thông số phục vụ người dân, doanh nghiệp thông qua thiết bị di động và các nền tảng số theo quy định; góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ công trong lĩnh vực giao thông.
Hình thành nền quản trị giao thông quốc gia hiện đại
Đến năm 2050, hoàn thiện hệ thống quản trị giao thông số hiện đại, liên thông toàn quốc, bao phủ toàn bộ các tuyến đường bộ, đường sắt và đường thuỷ nội địa; nâng cấp năng lực công nghệ của Trung tâm cấp 1 và Trung tâm cấp 2 đạt trình độ tiên tiến, tự động hoá cao; ứng dụng hiệu quả dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo trong điều hành giao thông.
Hình thành nền quản trị giao thông quốc gia hiện đại, chủ động, có khả năng dự báo, phòng ngừa rủi ro; góp phần giảm tai nạn giao thông, hạn chế ùn tắc và nâng cao mức độ an toàn, thông suốt của hệ thống giao thông.
Đề án được triển khai trên phạm vi cả nước từ năm 2026 đến năm 2050, chia làm 03 giai đoạn:
Giai đoạn 1 (2026 - 2028): Hình thành hệ thống, hoàn thiện nền tảng và đưa vào vận hành đồng bộ bước đầu;
Giai đoạn 2 (2029 - 2030): Mở rộng phạm vi triển khai, nâng cao năng lực điều hành dựa trên dữ liệu;
Giai đoạn 3 (2031 - 2050): Phát triển, hiện đại hoá và hoàn thiện hệ thống quản trị giao thông số.
Nhiệm vụ của Đề án là: Hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách; xây dựng Trung tâm dữ liệu, quản lý, giám sát, xử lý vi phạm và điều hành giao thông; phát triển hệ thống giám sát giao thông thông minh phục vụ quản lý, điều hành và bảo đảm trật tự, an toàn giao thông; quản lý, khai thác dữ liệu giao thông; quản trị dữ liệu, bảo vệ quyền riêng tư và bảo đảm an ninh, an toàn thông tin; kiện toàn tổ chức bộ máy, nhân lực và nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ; bảo đảm tính đồng bộ trong triển khai thực hiện Đề án...
Trung tâm dữ liệu, quản lý, giám sát, xử lý vi phạm và điều hành giao thông được xây dựng theo mô hình 02 cấp thống nhất
Theo Đề án, Trung tâm dữ liệu, quản lý, giám sát, xử lý vi phạm và điều hành giao thông được xây dựng trở thành thiết chế quản trị giao thông quốc gia theo mô hình 02 cấp thống nhất, liên thông toàn quốc, giữ vai trò trung tâm trong chỉ huy, điều hành, giám sát, xử lý vi phạm và cung cấp dịch vụ công về giao thông; bảo đảm quản lý tập trung, điều hành linh hoạt theo địa bàn, kết nối thông suốt giữa trung ương và địa phương; từng bước chuyển đổi mô hình quản lý giao thông từ phân tán sang quản trị tích hợp dựa trên dữ liệu và công nghệ số; bảo đảm chỉ huy thống nhất, kịp thời, hiệu quả.
Trung tâm cấp 1 là Trung tâm thực hiện chức năng điều phối, tổng hợp, phân tích dữ liệu và hỗ trợ điều hành liên vùng đối với dữ liệu chuyên ngành về trật tự, an toàn giao thông, độc lập về hạ tầng; bảo đảm an toàn hệ thống thông tin theo quy định pháp luật trên cơ sở kế thừa, tích hợp và nâng cấp các hệ thống, cơ sở dữ liệu, nền tảng công nghệ đã đầu tư; hình thành nền tảng dữ liệu dùng chung phục vụ toàn lực lượng và kết nối với các cơ sở dữ liệu quốc gia.
Thực hiện lưu trữ, phân tích, xử lý tập trung các dữ liệu về giám sát giao thông, xử lý vi phạm, đăng ký và quản lý phương tiện, tai nạn giao thông, thiết bị giám sát hành trình và các hệ thống nghiệp vụ liên quan; phát triển các nền tảng, phần mềm dùng chung, hạ tầng dự phòng phục vụ điều hành thống nhất, ổn định, liên tục trên phạm vi toàn quốc.
Trung tâm cấp 2 được đầu tư, nâng cấp tại địa phương để trực tiếp quản lý, tổ chức vận hành theo phân cấp; bảo đảm đồng bộ, kết nối liên thông với Trung tâm cấp 1 và các Trung tâm cấp 2 khác; tổ chức đầu tư theo nhóm địa phương phù hợp với quy mô dân số, mật độ phương tiện, mức độ phức tạp về trật tự, an toàn giao thông và nhu cầu thực tiễn; bảo đảm hiệu quả đầu tư và khả năng mở rộng trong dài hạn.
Đề án xây dựng hệ thống giám sát giao thông thông minh tích hợp các nền tảng ứng dụng, thiết bị, phương tiện; ứng dụng công nghệ số, dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo để tự động hoá, phục vụ chỉ huy, điều hành giao thông theo thời gian thực; hỗ trợ điều tra, xử lý tai nạn giao thông. Từng bước mở rộng phạm vi giám sát trên các tuyến cao tốc, quốc lộ, đường tỉnh, đô thị, đường sắt, đường thủy nội địa và các khu vực trọng điểm; bảo đảm khép kín tuyến, khép kín địa bàn theo lộ trình...

Chủ trương quyết toán chi phí tiền lương của 3 ngân hàng: CB, GPBank và OceanBank
Chính phủ ban hành Nghị quyết số 11/2026/NQ-CP về chi phí tiền lương Ngân hàng thương mại TNHH một thành viên Xây dựng Việt Nam, Ngân hàng thương mại TNHH một thành viên Dầu khí toàn cầu và Ngân hàng thương mại TNHH một thành viên Đại dương đã chi trả cho cán bộ, nhân viên, người lao động phát sinh trước thời điểm chuyển giao bắt buộc.
Nghị quyết này quy định việc quyết toán chi phí tiền lương (bao gồm tiền lương, thù lao, tiền thưởng và các khoản có tính chất tiền lương theo pháp luật về lao động, tiền lương, bảo hiểm và kế toán; sau đây gọi chung là chi phí tiền lương) phát sinh trước thời điểm chuyển giao bắt buộc của các ngân hàng được chuyển giao bắt buộc.
Đối tượng áp dụng gồm:
- Các ngân hàng được chuyển giao bắt buộc: Ngân hàng thương mại TNHH một thành viên Xây dựng Việt Nam (CB); Ngân hàng thương mại TNHH một thành viên Dầu khí toàn cầu (GPBank); Ngân hàng thương mại TNHH một thành viên Đại dương (OceanBank).
- Các Ngân hàng nhận chuyển giao bắt buộc: Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam (VCB); Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân đội (MB); Ngân hàng Thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank).
- Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và các bộ, cơ quan có liên quan.
Nghị quyết nêu rõ, Chính phủ thống nhất chủ trương cho phép quyết toán chi phí tiền lương của các ngân hàng CB, GPBank và OceanBank đã phát sinh từ năm 2015 đến trước thời điểm chuyển giao bắt buộc được ghi nhận hạch toán theo hồ sơ, chứng từ của các ngân hàng; việc quyết toán thực hiện trên cơ sở hồ sơ, chứng từ hợp pháp, hợp lệ.
Chính phủ yêu cầu Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có trách nhiệm chỉ đạo các ngân hàng: CB, GPBank và OceanBank hoàn thiện các thủ tục, hồ sơ quyết toán và báo cáo Thủ tướng Chính phủ kết quả thực hiện.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chịu trách nhiệm về nội dung đề xuất, kiến nghị, số liệu báo cáo theo quy định của pháp luật.
Các ngân hàng: CB, GPBank và OceanBank hoàn thiện các thủ tục, hồ sơ quyết toán và chịu trách nhiệm về các số liệu tại các báo cáo và Báo cáo tài chính./.