In bài viết

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 20/5/2026 (1)

(Chinhphu.vn) - Văn phòng Chính phủ vừa có Thông cáo báo chí chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 20/5/2026 (1).

20/05/2026 18:09

Chỉ thị về việc sắp xếp thôn, tổ dân phố và bố trí, sử dụng, chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố 

Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà vừa ký Chỉ thị số 21/CT-TTg ngày 20/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ về việc sắp xếp thôn, tổ dân phố và bố trí, sử dụng, chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 20/5/2026 (1)- Ảnh 1.

Khẩn trương thực hiện sắp xếp thôn, tổ dân phố và bố trí, sử dụng, chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố

Chỉ thị nêu rõ: Thực hiện chủ trương của Đảng và các quy định của pháp luật, trong những năm qua việc sắp xếp thôn, làng, ấp, bản, buôn, bon, phum, sóc, tổ dân phố, khu phố, khối phố, khóm, tiểu khu (gọi chung là thôn, tổ dân phố) trong cả nước đã đạt được kết quả quan trọng, số lượng thôn, tổ dân phố giảm dần; nhiều thôn, tổ dân phố đã đáp ứng tiêu chí quy mô số hộ gia đình theo quy định hiện hành.

Tuy nhiên, đến thời điểm hiện nay vẫn còn nhiều thôn, tổ dân phố chưa bảo đảm tiêu chí theo quy định. Sau khi thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, cấp xã năm 2025, bình quân số lượng thôn, tổ dân phố trên mỗi đơn vị hành chính cấp xã tăng lên nhiều, tạo áp lực quản lý lớn đối với chính quyền địa phương ở cơ sở.

Bảo đảm người dân được tham gia góp ý, giám sát việc sắp xếp thôn, tổ dân phố

Thực hiện Kết luận số 34-KL/TW ngày 18/5/2026 của Bộ Chính trị về sắp xếp thôn, tổ dân phố và bố trí, sử dụng, chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố; nhằm bảo đảm việc triển khai được thực hiện thống nhất, đồng bộ, hiệu quả trong cả nước, phù hợp với yêu cầu quản lý trong tình hình mới, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành, địa phương khẩn trương thực hiện việc sắp xếp thôn, tổ dân phố bảo đảm phù hợp với tiêu chí, điều kiện theo quy định của Chính phủ và yêu cầu quản lý của địa phương khi vận hành chính quyền địa phương 02 cấp; đồng thời xem xét đầy đủ các yếu tố đặc thù về lịch sử, văn hóa, phong tục, tập quán, điều kiện địa lý, quốc phòng, an ninh và sự gắn kết tự nhiên của cộng đồng dân cư, nhất là tại địa bàn miền núi, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và địa bàn có yếu tố tôn giáo; gắn với yêu cầu nâng cao hiệu quả quản trị ở cơ sở, thúc đẩy chuyển đổi số, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững, mục tiêu tăng trưởng "2 con số" và nâng cao chất lượng phục vụ Nhân dân.

Trong quá trình triển khai thực hiện phải giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội; chủ động nắm chắc tình hình, kịp thời xử lý các vấn đề phát sinh, không để xảy ra điểm nóng, vụ việc phức tạp ở cơ sở; giữ gìn và phát huy truyền thống đoàn kết cộng đồng và củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước.

Việc bố trí, sử dụng người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố phải bảo đảm công khai, minh bạch, khách quan, đúng quy định gắn với quá trình triển khai thực hiện sắp xếp thôn, tổ dân phố ở địa phương; thực hiện đầy đủ chế độ, chính sách, bảo đảm ổn định tư tưởng và quyền lợi của người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố trong quá trình sắp xếp, kiện toàn tổ chức.

Lựa chọn, giới thiệu người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố là người có uy tín, sức khỏe, tâm huyết, trách nhiệm, năng lực vận động quần chúng nhân dân, từng bước trẻ hoá, nâng cao trình độ ứng dụng công nghệ thông tin, kỹ năng quản trị cộng đồng và chất lượng, hiệu quả phục vụ Nhân dân.

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động, tạo sự đồng thuận cao của Nhân dân; bảo đảm người dân được thông tin đầy đủ, tham gia góp ý, giám sát việc sắp xếp thôn, tổ dân phố theo đúng quy định của pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở.

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu UBND các tỉnh, thành phố khẩn trương tổ chức rà soát toàn bộ thôn, tổ dân phố trên địa bàn; xây dựng Phương án tổng thể sắp xếp, tổ chức lại thôn, tổ dân phố (trong đó bao gồm phương án kiện toàn đội ngũ người hoạt động không chuyên trách tại các thôn, tổ dân phố sau sắp xếp và chính sách hỗ trợ theo quy định; đồng thời giải quyết chế độ, chính sách cho người không tiếp tục tham gia hoạt động không chuyên trách tại thôn, tổ dân phố), báo cáo cấp ủy cùng cấp trước khi ban hành; hoàn thành trước ngày 10/6/2026.

Chỉ đạo UBND cấp xã xây dựng Đề án sắp xếp thôn, tổ dân phố; tổ chức lấy ý kiến Nhân dân theo đúng quy định của pháp luật và trình Hội đồng nhân dân cấp xã thông qua Đề án bảo đảm công khai, minh bạch và tạo sự đồng thuận trong quá trình triển khai thực hiện; hoàn thành trước ngày 30 tháng 6 năm 2026.

Kết thúc hoạt động đối với người hoạt động không chuyên trách tại cấp xã trước ngày 31/5/2026

UBND các tỉnh, thành phố kết thúc hoạt động đối với người hoạt động không chuyên trách tại cấp xã trước ngày 31/5/2026. Khẩn trương xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện phương án bố trí, sử dụng, giải quyết chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã; bảo đảm hoàn thành đồng bộ với thời gian hoàn thành sắp xếp thôn, tổ dân phố, trước ngày 30/6/2026.

Phương án bố trí, sử dụng phải gắn với yêu cầu cơ cấu lại, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã theo tinh thần Chỉ thị số 18/CT-TTg ngày 08/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ về nâng cao chất lượng cán bộ, công chức chính quyền địa phương cấp xã, đáp ứng yêu cầu của tình hình mới, theo hướng:

Trên cơ sở biên chế được giao năm 2026, lựa chọn, tiếp nhận vào làm công chức, viên chức cấp xã đối với các trường hợp có phẩm chất, năng lực, trình độ chuyên môn phù hợp, đáp ứng ngay yêu cầu nhiệm vụ và vị trí việc làm.

Thực hiện chế độ hợp đồng thực hiện nhiệm vụ công chức, viên chức đối với các vị trí cần thiết, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ và đủ tiêu chuẩn, điều kiện theo quy định.

Lựa chọn, giới thiệu người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố bảo đảm điều kiện, tiêu chuẩn, trình tự bố trí theo quy định. Giải quyết đầy đủ, kịp thời chế độ, chính sách đối với các trường hợp không tiếp tục bố trí, sử dụng.

Hoàn thiện chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố, ban hành trước 26/5/2026

Bộ Nội vụ hoàn thiện các nội dung Đề án sắp xếp thôn, tổ dân phố và bố trí, sử dụng, chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố, tham mưu Chính phủ ban hành Nghị định quy định về tổ chức, hoạt động của thôn, tổ dân phố và một số chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố theo đúng chỉ đạo của Chính phủ để ban hành trước ngày 26/5/2026.

Bộ Công an Chỉ đạo lực lượng công an các cấp chủ động nắm tình hình địa bàn; phối hợp với chính quyền địa phương các cấp trong việc rà soát, cung cấp số liệu hộ gia đình cư trú trên địa bàn; kịp thời tham mưu cấp ủy, chính quyền địa phương xử lý các vấn đề phát sinh về an ninh trật tự trong quá trình sắp xếp thôn, tổ dân phố; bảo đảm giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, không để hình thành điểm nóng, vụ việc phức tạp ở cơ sở.

Phối hợp với Bộ Nội vụ và các địa phương hướng dẫn việc rà soát, kiện toàn, bố trí lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở phù hợp với việc sắp xếp thôn, tổ dân phố trước ngày 25/5/2026.

Cắt giảm, phân quyền, đơn giản hóa thủ tục hành chính và cắt giảm, đơn giản hóa điều kiện kinh doanh thuộc phạm vi quản lý của Bộ Nông nghiệp và Môi trường 

Chính phủ ban hành Nghị quyết số 66.19/2026/NQ-CP ngày 18/5/2026 về cắt giảm, phân quyền, đơn giản hóa thủ tục hành chính và cắt giảm, đơn giản hóa điều kiện kinh doanh thuộc phạm vi quản lý của Bộ Nông nghiệp và Môi trường.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 20/5/2026 (1)- Ảnh 2.

Cắt giảm đơn giản hóa điều kiện kinh doanh của 11 lĩnh vực nông nghiệp và môi trường.

Cụ thể, Nghị quyết cắt giảm, phân quyền, đơn giản hóa thủ tục hành chính và cắt giảm, đơn giản hóa điều kiện kinh doanh của 11 lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ Nông nghiệp và Môi trường gồm: trồng trọt và bảo vệ thực vật; chăn nuôi và thú y; thủy sản và kiểm ngư; thủy lợi; quản lý đê điều và phòng, chống thiên tai; đất đai; tài nguyên nước; địa chất và khoáng sản; môi trường; khí tượng thủy văn; quản lý tổng hợp tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo.

Cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực đất đai

Đối với lĩnh vực đất đai, Nghị quyết cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh cụ thể như sau:

- Không thực hiện thủ tục hành chính cung cấp thông tin, dữ liệu đất đai quy định tại điểm i khoản 1 Điều 223 Luật Đất đai số 31/2024/QH15; Phần VI, Phụ lục I Nghị định số 151/2025/NĐ-CP về phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 02 cấp, phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực đất đai.

Việc cung cấp thông tin, dữ liệu đất đai được thực hiện theo quy định tại Luật Tiếp cận thông tin và Thông tư số 56/2024/TT-BTC về quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý, sử dụng phí khai thác và sử dụng tài liệu đất đai từ Hệ thống thông tin quốc gia về đất đai.

- Không thực hiện điều kiện kinh doanh về kinh doanh dịch vụ xác định giá đất tại khoản 3 Điều 162 Luật Đất đai số 31/2024/QH15 và Điều 36 Nghị định 71/2024/NĐ-CP quy định về giá đất được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 226/2025/NĐ-CP.

Cắt giảm, đơn giản hóa nhiều thủ tục hành chính trong lĩnh vực môi trường

Về lĩnh vực môi trường, Nghị quyết cắt giảm, đơn giản hóa các thủ tục hành chính sau:

1- Không thực hiện thủ tục hành chính cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động dịch vụ quan trắc môi trường và thủ tục hành chính Điều chỉnh nội dung Giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động dịch vụ quan trắc môi trường quy định tại Điều 110 Luật Bảo vệ môi trường số 72/2020/QH14; các Điều 90, 91, 92, 93, 94 và 95 Nghị định số 08/2022/NĐ-CP ngày 10/01/2022 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo vệ môi trường; khoản 45 Điều 1 Nghị định số 05/2025/NĐ-CP ngày 06/01/2025 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 08/2022/NĐ-CP; các Điều 25, 26 và 27 Nghị định số 48/2026/NĐ-CP ngày 29/01/2026 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 08/2022/NĐ-CP và Nghị định số 05/2025/NĐ-CP; các Điều 49, 50 và 51 Thông tư số 02/2022/TT-BTNMT ngày 10/01/2022 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường; Điều 26 Thông tư số 09/2026/TT-BNNMT ngày 29/01/2026 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 02/2022/TT-BTNMT và Thông tư số 07/2025/TT-BTNMT và Thông tư số 07/2025/TT-BNNMT.

2- Không thực hiện thủ tục hành chính thẩm định phương án cải tạo, phục hồi môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản (cấp trung ương và cấp tỉnh) quy định tại Điều 67 Luật Bảo vệ môi trường; khoản 2 và khoản 8 Điều 36 Nghị định số 08/2022/NĐ-CP; khoản 15 Điều 1 Nghị định số 05/2025/NĐ-CP; Điều 13 và Phụ lục Thông tư số 02/2022/TT-BTNMT; Điều 3 Thông tư số 09/2026/TT-BNNMT.

3- Không thực hiện thủ tục hành chính cấp lại giấy phép môi trường (cấp trung ương và cấp tỉnh) quy định tại Điều 44 Luật Bảo vệ môi trường; Điều 30 Nghị định số 08/2022/NĐ-CP; Điều 1 Nghị định số 05/2025/NĐ-CP; Điều 10 Nghị định số 48/2026/NĐ-CP; Điều 11 Thông tư số 09/2026/TT-BNNMT.

4- Không thực hiện thủ tục hành chính cung cấp thông tin môi trường quy định tại khoản 3 Điều 114, Điều 116 Luật Bảo vệ môi trường; Điều 101 Nghị định số 08/2022/NĐ-CP; Điều 58 và Điều 62 Thông tư số 02/2022/TT-BTNMT.

5- Không thực hiện thủ tục hành chính cấp đổi quyết định chứng nhận Nhãn sinh thái Việt Nam quy định tại Điều 145 Luật Bảo vệ môi trường; Điều 148 Nghị định số 08/2022/NĐ-CP; Điều 30 Nghị định số 48/2026/NĐ-CP.

6- Đơn giản hóa quy định đối tượng phải thực hiện đánh giá tác động môi trường quy định tại Điều 28 và Điều 30 Luật Bảo vệ môi trường; Điều 25 và các Phụ lục II, III và IV Nghị định số 08/2022/NĐ-CP; khoản 6 Điều 1 Nghị định số 05/2025/NĐ-CP và Điều 35 Nghị định số 48/2026/NĐ-CP.

7- Đơn giản hóa quy định đối tượng phải có giấy phép môi trường quy định tại Điều 39 Luật Bảo vệ môi trường; khoản 9 Điều 1 Luật số 146/2025/QH15; khoản 31 Điều 1 Nghị định số 05/2025/NĐ-CP; khoản 2 Điều 24 Nghị định số 48/2026/NĐ-CP.

8- Đơn giản hóa quy định đối tượng thực hiện thủ tục hành chính chứng nhận Nhãn sinh thái Việt Nam quy định tại Điều 145 Luật Bảo vệ môi trường; các Điều 145, 146, 147 và 149 Nghị định số 08/2022/NĐ- CP; Điều 29 và Điều 30 Nghị định số 48/2026/NĐ-CP đối với trường hợp không đăng ký hưởng các chính sách ưu đãi, hỗ trợ của Nhà nước.

Phân quyền cấp giấy phép môi trường và thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường

Nghị quyết cũng phân quyền thực hiện thủ tục hành chính trong lĩnh vực môi trường như sau:

1- Phân quyền thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường của Bộ Nông nghiệp và Môi trường (một phần) quy định tại Điều 35 Luật Bảo vệ môi trường; khoản 7 Điều 1 Luật số 146/2025/QH15; các Phụ lục số II, III, IV Nghị định số 08/2022/NĐ-CP; Điều 35 Nghị định số 48/2026/NĐ-CP; Điều 4, 5, 6, Mẫu số 04 Mục 1 Phụ lục Thông tư số 09/2026/TT-BNNMT cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện.

2- Phân quyền cấp giấy phép môi trường của Bộ Nông nghiệp và Môi trường (một phần) quy định tại Điều 41 Luật Bảo vệ môi trường, khoản 11 Điều 1 Luật số 146/2025/QH15 cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện.

Nghị quyết nêu rõ: Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ chịu trách nhiệm hướng dẫn, theo dõi, đôn đốc, tổ chức thi hành và kiểm tra việc thực hiện Nghị quyết này theo thẩm quyền; soạn thảo, trình cơ quan, người có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền văn bản quy phạm pháp luật theo các Phụ lục ban hành kèm theo Nghị quyết này để cắt giảm, phân quyền, đơn giản hóa thủ tục hành chính, cắt giảm, đơn giản hoá điều kiện kinh doanh, bảo đảm có hiệu lực trước ngày 01/3/2027; công bố thủ tục hành chính theo quy định của pháp luật về kiểm soát thủ tục hành chính.

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm tổ chức thực hiện, hướng dẫn thực hiện Nghị quyết này trên địa bàn. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức thực hiện nhiệm vụ được phân quyền tại Nghị quyết này; công bố thủ tục hành chính theo quy định của pháp luật về kiểm soát thủ tục hành chính.

Trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày Nghị quyết này có hiệu lực thi hành, Bộ Nông nghiệp và Môi trường có trách nhiệm chuyển giao hồ sơ giải quyết thủ tục hành chính được phân quyền tại Nghị quyết này cho cơ quan, người có thẩm quyền được phân quyền.

Người đứng đầu cơ quan, đơn vị, cán bộ, công chức, viên chức tham gia xây dựng, ban hành Nghị quyết này được xem xét loại trừ, miễn hoặc giảm trách nhiệm theo quy định tại khoản 11 Điều 68 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 64/2025/QH15 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 87/2025/QH15.

Nghị quyết này có hiệu lực thi hành từ ngày 18/5/2026 đến hết ngày 28/02/2027

Các quy định tại mục III, V, VIII, IX, X, XI phần A và phần B Phụ lục I; mục IX, X, XI phần A và phần B Phụ lục II; Phụ lục III; mục II phần A Phụ lục VI; mục II phần A Phụ lục VII; Phụ lục VIII; phần B Phụ lục IX ban hành kèm theo Nghị quyết này và mục IV, V, VI, VII, VIII, IX phần A Phụ lục XIII ban hành kèm theo Nghị quyết số 17/2026/NQ-CP ngày 29/4/2026 của Chính phủ có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 đến hết ngày 28/02/2027.

Trong thời gian Nghị quyết này có hiệu lực, nếu quy định thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh trong Nghị quyết này khác với các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan thì thực hiện theo Nghị quyết này.

Trường hợp luật, nghị quyết của Quốc hội; pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; nghị định, nghị quyết của Chính phủ; quyết định của Thủ tướng Chính phủ; thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ có quy định về thủ tục hành chính liên quan đến quy định tại Nghị quyết này được thông qua hoặc ban hành và thời điểm có hiệu lực trong khoảng thời gian từ ngày Nghị quyết này được ký ban hành đến hết ngày 28/02/2027 thì các quy định tương ứng trong Nghị quyết này hết hiệu lực kể từ thời điểm các văn bản quy phạm pháp luật đó có hiệu lực.

Phân quyền, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh của 11 ngành, lĩnh vực

Chính phủ ban hành Nghị quyết số 66.18/2026/NQ-CP phân quyền, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh của 11 ngành, lĩnh vực: công an; công thương; khoa học và công nghệ; nội vụ; quốc phòng; tư pháp; tài chính; xây dựng; văn hóa, thể thao và du lịch; y tế; giáo dục và đào tạo.

Việc phân quyền, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh phải bảo đảm tạo thuận lợi cho tổ chức, cá nhân, tạo lập môi trường kinh doanh thuận lợi, lành mạnh, công bằng; thúc đẩy đổi mới, sáng tạo; tăng tính chủ động của chính quyền địa phương; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.

Tiếp tục đổi mới toàn diện, nâng cao hiệu quả cơ chế một cửa, một cửa liên thông; bảo đảm công khai, minh bạch, tối ưu hóa quy trình, thực hiện thủ tục hành chính không phụ thuộc vào địa giới hành chính; nâng cao năng suất lao động, hiệu lực, hiệu quả quản lý, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong quản trị hành chính.

Phân quyền, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh thuộc quản lý của 11 Bộ

Nghị quyết 66.18/2026/NQ-CP phân quyền, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh thuộc phạm vi quản lý của 11 Bộ, ngành:

1. Cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh thuộc phạm vi quản lý của Bộ Công an theo quy định tại Phụ lục I.1 ban hành kèm theo Nghị quyết này.

2. Phân quyền, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh thuộc phạm vi quản lý của Bộ Công Thương theo quy định tại Phụ lục I.2 ban hành kèm theo Nghị quyết này.

3. Phân quyền, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh thuộc phạm vi quản lý của Bộ Khoa học và Công nghệ theo quy định tại Phụ lục I.3 ban hành kèm theo Nghị quyết này.

4. Cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh thuộc phạm vi quản lý của Bộ Nội vụ theo quy định tại Phụ lục I.4 ban hành kèm theo Nghị quyết này.

5. Cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh thuộc phạm vi quản lý của Bộ Quốc phòng theo quy định tại Phụ lục I.5 ban hành kèm theo Nghị quyết này.

6. Cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tư pháp theo quy định tại Phụ lục I.6 ban hành kèm theo Nghị quyết này.

7. Cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tài chính theo quy định tại Phụ lục I.7 ban hành kèm theo Nghị quyết này.

8. Cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh thuộc phạm vi quản lý của Bộ Xây dựng theo quy định tại Phụ lục I.8 ban hành kèm theo Nghị quyết này.

9. Phân quyền, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh thuộc phạm vi quản lý của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch theo quy định tại Phụ lục I.9 ban hành kèm theo Nghị quyết này.

10. Cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh thuộc phạm vi quản lý của Bộ Y tế theo quy định tại Phụ lục I.10 ban hành kèm theo Nghị quyết này.

11. Cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh thuộc phạm vi quản lý của Bộ Giáo dục và Đào tạo theo quy định tại Phụ lục I.11 ban hành kèm theo Nghị quyết này.

Người đứng đầu các Bộ chịu trách nhiệm về tính khả thi về nội dung phân quyền, cắt giảm, đơn giản hóa TTHC, điều kiện kinh doanh

Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ trong phạm vi quản lý ngành, lĩnh vực có trách nhiệm hướng dẫn việc tổ chức triển khai thi hành Nghị quyết này; chịu trách nhiệm tính khả thi các nội dung phân quyền, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh; ban hành theo thẩm quyền các biện pháp quản lý phù hợp với việc chuyển phương thức quản lý từ tiền kiểm sang hậu kiểm và bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.

Đồng thời, tham mưu cho Chính phủ trình cơ quan có thẩm quyền ban hành hoặc trình cơ quan, người có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền văn bản quy phạm pháp luật theo Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị quyết này để phân quyền, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh, bảo đảm có hiệu lực trước ngày 01/3/2027.

Công bố thủ tục hành chính theo quy định của pháp luật về kiểm soát thủ tục hành chính.

Tiếp tục rà soát để đề xuất việc phân quyền, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh phù hợp với nguyên tắc quy định tại Nghị quyết này, báo cáo Thủ tướng Chính phủ phương án thực thi.

Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố tổ chức triển khai thi hành Nghị quyết này; bố trí các điều kiện bảo đảm để thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ được phân quyền.

Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện Nghị quyết này.

Người đứng đầu cơ quan, đơn vị, người tham gia xây dựng Nghị quyết này và tham gia xác định, xử lý khó khăn, vướng mắc theo cơ chế đặc biệt quy định tại Nghị quyết này được xem xét loại trừ, miễn trách nhiệm trong trường hợp đã tuân thủ đầy đủ các quy trình, quy định liên quan và không vụ lợi trong quá trình thực hiện nhiệm vụ nhưng vẫn xảy ra thiệt hại.

Nghị quyết này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 đến hết ngày 28/02/2027

Các quy định tại phần B, E tiểu mục 2.1 Phụ lục I.2; khoản III, IV mục 2 Phụ lục I.5; phần A, B, C tiểu mục 2.1, phần A, B, C tiểu mục 2.2 Mục 2 Phụ lục I.9; phần A, B mục 1, phần A, B mục 2 Phụ lục I.11 ban hành kèm theo Nghị quyết này có hiệu lực thi hành từ ngày 20/5/2026.

Đối với hồ sơ đề nghị giải quyết thủ tục hành chính được đơn giản hóa thuộc các lĩnh vực quy định tại Điều 3 và Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị quyết này đã được cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận hoặc đã được đóng dấu bưu chính trước ngày Nghị quyết này có hiệu lực thi hành thì thực hiện theo quy định của pháp luật đang có hiệu lực điều chỉnh trong lĩnh vực đó tại thời điểm hồ sơ được tiếp nhận.

Đối với hồ sơ đề nghị giải quyết thủ tục hành chính đã được cắt giảm thuộc các lĩnh vực được quy định tại Điều 3 và Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị quyết này đã được cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận hoặc đã được đóng dấu bưu chính trước ngày Nghị quyết này có hiệu lực thì dừng việc giải quyết thủ tục hành chính, hoàn trả hồ sơ cho cá nhân, tổ chức nếu có yêu cầu.

Văn bản, giấy tờ đã được cơ quan, người có thẩm quyền ban hành, cấp trước ngày Nghị quyết này có hiệu lực thi hành mà chưa hết hiệu lực hoặc chưa hết thời hạn sử dụng thì tiếp tục được áp dụng, sử dụng theo quy định của pháp luật cho đến khi hết thời hạn.

Nghị quyết 66.18/2026/NQ-CP cũng nêu rõ: Trong thời gian quy định của Nghị quyết này có hiệu lực, nếu quy định về thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh trong Nghị quyết này khác với các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan thì thực hiện theo Nghị quyết này.

Trường hợp luật, nghị quyết của Quốc hội; pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; nghị định, nghị quyết của Chính phủ; quyết định của Thủ tướng Chính phủ; thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ có quy định về thủ tục hành chính liên quan đến quy định tại Nghị quyết này được thông qua hoặc ban hành và thời điểm có hiệu lực trong khoảng thời gian từ ngày Nghị quyết này được ký ban hành đến hết ngày 28/02/2027 thì các quy định tương ứng trong Nghị quyết này hết hiệu lực kể từ thời điểm các văn bản quy phạm pháp luật đó có hiệu lực.

Từ 1/7/2026 chỉ còn 142 ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện 

Chính phủ ban hành Nghị quyết số 66.17/2026/NQ-CP về cắt giảm, sửa đổi ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện. Theo đó, từ ngày 01/7/2026, số ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiệm sẽ giảm từ 198 xuống còn 142.

Nghị quyết 66.17/2026/NQ-CP quy định việc cắt giảm, sửa đổi ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện quy định tại Phụ lục IV của Luật Đầu tư số 143/2025/QH15.

Cắt giảm, sửa đổi những ngành, nghề mà điều kiện đầu tư kinh doanh không rõ ràng, có tính chất tương tự nhau

Việc cắt giảm, sửa đổi ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện được thực hiện theo các nguyên tắc sau:

Cắt giảm những ngành, nghề không thật sự cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng theo quy định tại khoản 1 Điều 7 của Luật Đầu tư.

Cắt giảm những ngành, nghề mà điều kiện đầu tư kinh doanh có thể nghiên cứu quản lý thông qua tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật hoặc tiêu chuẩn nghề để quản lý theo phương thức hậu kiểm.

Cắt giảm, sửa đổi những ngành, nghề mà điều kiện đầu tư kinh doanh không rõ ràng hoặc có tính chất tương tự nhau, đã được kiểm soát thông qua hoạt động quản lý khác hoặc những ngành, nghề mà từ khi được quy định cho đến nay vẫn chưa ban hành được điều kiện đầu tư kinh doanh hoặc đã không còn quy định điều kiện đầu tư kinh doanh.

Ban hành tiêu chuẩn kỹ thuật đối với những ngành, nghề được cắt giảm; xây dựng quy trình, thủ tục để quản lý theo phương thức hậu kiểm trước ngày 01/7/2026

Nghị quyết 66.17/2026/NQ-CP ban hành Danh mục 142 ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện gồm: kinh doanh chứng khoán, bảo hiểm, vàng, xăng dầu, vận tải hàng không, bất động sản, dịch vụ viễn thông, dịch vụ khám chữa bệnh, hoạt động giáo dục đại học, phổ thông và mầm non; kinh doanh dịch vụ viễn thông và mạng xã hội; hành nghề luật sư, công chứng và giám định tư pháp…

Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ có trách nhiệm nghiên cứu, quy định giải pháp, phương án quản lý thay thế đối với các ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện được bãi bỏ, sửa đổi tại Nghị quyết này, đảm bảo hiệu lực, hiệu quả của công tác quản lý nhà nước.

Chính phủ giao Bộ Tài chính chịu trách nhiệm rà soát, đề xuất sửa đổi, bổ sung Phụ lục IV của Luật Đầu tư để bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ.

Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ ban hành tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật hoặc tiêu chuẩn nghề đối với những ngành, nghề được cắt giảm tại Nghị quyết này (trong trường hợp cần thiết), từ đó xây dựng quy trình, thủ tục để quản lý theo phương thức hậu kiểm trước ngày 01/7/2026. Bộ Khoa học và Công nghệ có trách nhiệm phối hợp với các bộ, ngành để ban hành các quy chuẩn kỹ thuật, đảm bảo có hiệu lực cùng thời điểm có hiệu lực của Nghị quyết này.

Việc xây dựng văn bản quy phạm pháp luật quy định tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật hoặc tiêu chuẩn nghề trong trường hợp này được thực hiện theo trình tự, thủ tục rút gọn.

Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị quyết này bảo đảm công khai, minh bạch, hiệu quả, khả thi; không để sơ hở, tham nhũng, tiêu cực, thất thoát, lãng phí.

Người đứng đầu các cơ quan, đơn vị, cán bộ, công chức, viên chức, người tham gia xây dựng, ban hành Nghị quyết này được xem xét loại trừ, miễn hoặc giảm trách nhiệm theo quy định tại khoản 7 Điều 6 Nghị quyết số 206/2025/QH15.

Đối với các ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện quy định tại Luật Đầu tư đã được cắt giảm theo quy định của Nghị quyết này, tổ chức, cá nhân được tiếp tục sử dụng các loại giấy phép, giấy chứng nhận, chứng chỉ, văn bản xác nhận hoặc hình thức văn bản cho phép đầu tư, kinh doanh khác do cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã cấp đến hết thời hạn của văn bản, giấy tờ đó.

Nghị quyết này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2026 đến hết ngày 28/02/2027

Trường hợp luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, nghị quyết của Chính phủ có quy định về ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện liên quan đến quy định tại Nghị quyết này được thông qua hoặc ban hành và thời điểm có hiệu lực trong khoảng thời gian từ ngày Nghị quyết này được ký ban hành đến hết ngày 28/02/2027 thì các quy định tương ứng trong Nghị quyết này hết hiệu lực kể từ thời điểm các văn bản quy phạm pháp luật đó có hiệu lực.

Trong thời gian quy định của Nghị quyết này có hiệu lực thi hành, nếu quy định về ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện tại Nghị quyết này khác với các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan thì thực hiện theo quy định của Nghị quyết này.

Quy định về giảng viên đồng cơ hữu trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, cơ sở giáo dục đại học công lập 

Chính phủ ban hành Nghị định số 159/2026/NĐ-CP quy định về giảng viên đồng cơ hữu trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, cơ sở giáo dục đại học công lập. Theo đó, mỗi viên chức chỉ được là giảng viên đồng cơ hữu của một cơ sở giáo dục tại cùng một thời điểm.

Nghị định này quy định về giảng viên đồng cơ hữu trong các trường cao đẳng và cơ sở giáo dục đại học công lập (cơ sở giáo dục) bao gồm: tiêu chuẩn, sử dụng, quản lý và chế độ, chính sách đối với giảng viên đồng cơ hữu.

Về nguyên tắc quản lý và sử dụng giảng viên đồng cơ hữu, Nghị định quy định giảng viên đồng cơ hữu được tính vào đội ngũ giảng viên với hệ số quy đổi tối đa bằng 0,50 giảng viên cơ hữu để xác định năng lực đào tạo của cơ sở giáo dục nơi viên chức thực hiện nhiệm vụ giảng viên đồng cơ hữu trong việc cấp phép hoạt động giáo dục nghề nghiệp, hoạt động giáo dục đại học, tổ chức thực hiện chương trình đào tạo và kiểm định chất lượng theo quy định của pháp luật về giáo dục. Việc xác định hệ số quy đổi của giảng viên đồng cơ hữu theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Mỗi viên chức chỉ được là giảng viên đồng cơ hữu của một cơ sở giáo dục tại cùng một thời điểm.

Viên chức là giảng viên đồng cơ hữu của cơ sở giáo dục không làm thay đổi quyền và nghĩa vụ giữa viên chức và đơn vị sự nghiệp công lập, tổ chức khoa học và công nghệ công lập trực tiếp quản lý viên chức (đơn vị nơi giảng viên đồng cơ hữu đang công tác); giảng viên đồng cơ hữu không tính vào số lượng vị trí việc làm chuyên môn, nghiệp vụ được cấp có thẩm quyền giao cho cơ sở giáo dục nơi viên chức thực hiện nhiệm vụ giảng viên đồng cơ hữu.

Giảng viên đồng cơ hữu phải bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ tại đơn vị nơi giảng viên đồng cơ hữu đang công tác; báo cáo và được sự đồng ý bằng văn bản của người đứng đầu đơn vị về việc tham gia giảng dạy, nghiên cứu khoa học và thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn tại cơ sở giáo dục.

Việc sử dụng, quản lý giảng viên đồng cơ hữu thực hiện theo quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước và phải có sự phối hợp bằng văn bản giữa cơ sở giáo dục và đơn vị nơi giảng viên đồng cơ hữu đang công tác; không làm gián đoạn, trùng lặp hoặc mâu thuẫn trong việc thực hiện chế độ, chính sách đối với viên chức làm giảng viên đồng cơ hữu.

Quyền và nghĩa vụ của giảng viên đồng cơ hữu

Nghị định quy định các quyền của giảng viên đồng cơ hữu gồm: thực hiện các quyền trong hợp đồng lao động đã ký kết với cơ sở giáo dục theo quy định của pháp luật; được giảng dạy, giáo dục phù hợp chuyên môn đào tạo; tham gia xây dựng, phát triển chương trình đào tạo; lựa chọn, sử dụng tài liệu, học liệu phục vụ hoạt động giảng dạy, giáo dục; hướng dẫn, nhận xét, đánh giá, tham gia khen thưởng, xử lý kỷ luật người học theo quy định của pháp luật, quy định của cơ sở giáo dục; được thực hiện hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, hưởng chính sách ưu đãi trong hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo theo quy định của pháp luật và quy định của cơ sở giáo dục.

Giảng viên đồng cơ hữu được đối xử bình đẳng trong hoạt động và phát triển nghề nghiệp; được bố trí thời gian giảng dạy, nghiên cứu khoa học tại cơ sở giáo dục phù hợp với thời gian làm việc tại đơn vị nơi giảng viên đồng cơ hữu đang công tác bảo đảm không chồng chéo về thời gian; được xem xét đưa vào quy hoạch chức danh lãnh đạo, bổ nhiệm quản lý chuyên môn tại cơ sở giáo dục theo quy định của pháp luật về giáo dục, pháp luật về viên chức và trên cơ sở có ý kiến thống nhất của đơn vị nơi giảng viên đồng cơ hữu đang công tác và được xem xét công nhận, bổ nhiệm chức danh giáo sư, phó giáo sư; xét, phong tặng danh hiệu Nhà giáo Nhân dân, Nhà giáo Ưu tú khi đáp ứng đủ tiêu chuẩn, điều kiện theo quy định của pháp luật.

Giảng viên đồng cơ hữu thực hiện các nghĩa vụ của nhà giáo theo quy định của Luật Nhà giáo, nghĩa vụ của viên chức theo quy định của pháp luật về viên chức, nghĩa vụ của người lao động theo quy định của pháp luật về lao động và quy định khác của pháp luật có liên quan; thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ giảng dạy, nghiên cứu khoa học và nhiệm vụ chuyên môn theo hợp đồng đã ký kết với cơ sở giáo dục; chịu sự quản lý trực tiếp của cơ sở giáo dục trong việc giảng dạy, nghiên cứu khoa học và thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn về giáo dục; thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ của viên chức tại đơn vị nơi giảng viên đồng cơ hữu đang công tác.

Giảng viên đồng cơ hữu trong cơ sở giáo dục đại học công lập phải có trình độ tiến sĩ

Về tiêu chuẩn đối với giảng viên đồng cơ hữu, Nghị định quy định giảng viên đồng cơ hữu trong cơ sở giáo dục đại học công lập phải có trình độ tiến sĩ.

Giảng viên đồng cơ hữu trong trường cao đẳng công lập phải đáp ứng một trong các tiêu chuẩn sau đây:

- Có bằng thạc sĩ trở lên, phù hợp với ngành, nghề giảng dạy và có ít nhất 03 năm (36 tháng) kinh nghiệm chuyên môn, đồng thời chủ trì hoặc tham gia công trình nghiên cứu khoa học, đề tài được cấp có thẩm quyền nghiệm thu theo quy định hoặc sáng kiến được cấp có thẩm quyền công nhận và áp dụng hiệu quả trong thực tiễn;

- Có bằng chuyên khoa cấp I trở lên, bằng bác sĩ nội trú, bằng bác sĩ chuyên khoa theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế và đang công tác tại cơ sở y tế dự phòng công lập hoặc cơ sở khám bệnh, chữa bệnh công lập được xếp cấp chuyên môn kỹ thuật là cấp cơ bản, cấp chuyên sâu đối với lĩnh vực sức khỏe;

- Có danh hiệu Thầy thuốc Nhân dân, Thầy thuốc Ưu tú, Nghệ sĩ Nhân dân, Nghệ sĩ Ưu tú, Nghệ nhân Nhân dân, Nghệ nhân Ưu tú, Huấn luyện viên cấp quốc gia hoặc đạt giải thưởng cấp quốc gia, quốc tế trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật, thể dục thể thao hoặc lĩnh vực đặc thù khác được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận;

- Đạt giải thưởng hoặc chứng nhận tại các kỳ thi, cuộc thi kỹ năng nghề quốc gia trở lên hoặc chứng nhận huấn luyện học sinh, sinh viên đạt giải thưởng quốc gia, quốc tế trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp do tổ chức có thẩm quyền cấp hoặc có chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia bậc 3 trở lên theo quy định của pháp luật về kỹ năng nghề;

- Có sản phẩm sáng tạo nghệ thuật, sáng kiến kỹ thuật, mô hình thực hành được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận và áp dụng hiệu quả trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp.

Chế độ làm việc của giảng viên đồng cơ hữu

Nghị định quy định thời gian làm việc của giảng viên đồng cơ hữu trong một năm học được thực hiện theo thỏa thuận tại hợp đồng lao động nhưng phải đảm bảo tối thiểu 25% thời gian làm việc và không quá 50% thời gian làm việc theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về chế độ làm việc của giảng viên cơ hữu.

Người đứng đầu cơ sở giáo dục căn cứ mục tiêu, chiến lược phát triển của đơn vị; đặc thù của ngành, nghề đào tạo, điều kiện cụ thể của đơn vị và điều kiện làm việc của giảng viên đồng cơ hữu để quyết định định mức giảng dạy trực tiếp trên lớp (hoặc giảng dạy trực tuyến) tương ứng với thời gian làm việc của giảng viên đồng cơ hữu trong một năm học; giao nhiệm vụ nghiên cứu khoa học cho giảng viên đồng cơ hữu bảo đảm phù hợp với chuyên môn, năng lực của giảng viên đồng cơ hữu và điều kiện thực hiện.

Giảng viên đồng cơ hữu dạy vượt định mức giảng dạy theo thỏa thuận trong hợp đồng thì được trả tiền lương dạy thêm giờ theo quy định về tiền lương làm thêm giờ của pháp luật về lao động.

Tôn vinh, khen thưởng giảng viên đồng cơ hữu

Giảng viên đồng cơ hữu đáp ứng tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật thì được Nhà nước phong tặng danh hiệu Nhà giáo Nhân dân, Nhà giáo Ưu tú.

Giảng viên đồng cơ hữu có thành tích trong công tác, hoạt động nghề nghiệp thì được khen thưởng theo quy định của pháp luật về thi đua, khen thưởng.

Ngoài hình thức tôn vinh, khen thưởng theo quy định ở trên, cơ sở giáo dục có các hình thức tôn vinh, khen thưởng khác đối với giảng viên đồng cơ hữu phù hợp với điều kiện của cơ sở giáo dục.

Tiền thưởng đối với giảng viên đồng cơ hữu được lấy từ quỹ tiền thưởng của cơ sở giáo dục theo quy chế chi tiêu nội bộ hoặc từ nguồn thu hợp pháp khác theo quy định của pháp luật.

Quy định về tổ chức, hoạt động của chương trình, dự án tài chính vi mô của tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức phi chính phủ 

Chính phủ ban hành Nghị định số 175/2026/NĐ-CP quy định về tổ chức, hoạt động của chương trình, dự án tài chính vi mô của tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức phi chính phủ.

Nghị định nêu rõ: Hoạt động tài chính vi mô bao gồm việc cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng tài chính vi mô, nhận tiền gửi của khách hàng tài chính vi mô dưới hình thức tiền gửi bắt buộc.

Khách hàng tài chính vi mô bao gồm các đối tượng sau: a) Hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có mức sống trung bình, cá nhân thuộc hộ nghèo, cá nhân thuộc hộ cận nghèo, cá nhân thuộc hộ có mức sống trung bình, người lao động có thu nhập thấp theo quy định của Chính phủ về chuẩn nghèo đa chiều hoặc quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về mức thu nhập của các đối tượng này, dựa trên cơ sở quy định có liên quan của pháp luật; b) Doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định của pháp luật.

Chương trình, dự án tài chính vi mô là chương trình, dự án của tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức phi chính phủ được thực hiện trong khoảng thời gian xác định trên địa bàn cụ thể đến đơn vị hành chính cấp xã tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương với mục đích chủ yếu để hoạt động tài chính vi mô nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng tài chính vi mô, góp phần tạo việc làm, thực hiện xóa đói, giảm nghèo và hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận. Hoạt động của chương trình, dự án tài chính vi mô không phải là hoạt động ngân hàng.

Tiêu chuẩn, điều kiện đối với người quản lý, điều hành chương trình, dự án tài chính vi mô

Theo quy định mới tại Nghị định số 175/2026/NĐ-CP, người quản lý, điều hành chương trình, dự án tài chính vi mô phải đáp ứng các tiêu chuẩn, điều kiện sau:

- Có trình độ từ đại học trở lên về một trong các ngành kinh tế, ngân hàng, tài chính, kế toán, quản trị kinh doanh; hoặc có ít nhất 02 năm làm việc trực tiếp trong lĩnh vực ngân hàng hoặc tài chính vi mô;

- Không thuộc đối tượng bị cấm đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã theo quy định của pháp luật.

Cơ cấu tổ chức chương trình, dự án tài chính vi mô

Tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức phi chính phủ phải đảm bảo chương trình, dự án tài chính vi mô có bộ phận quản lý tại địa bàn nơi triển khai thực hiện chương trình, dự án tài chính vi mô. Cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của bộ phận quản lý phải được quy định bằng văn bản.

Chương trình, dự án tài chính vi mô phải có bộ phận quản lý với cơ cấu tổ chức tối thiểu như sau:

Ban quản lý của chương trình, dự án tài chính vi mô: Ban quản lý có chức năng, nhiệm vụ quản lý, điều hành hoạt động của chương trình, dự án tài chính vi mô. Trưởng Ban quản lý hoặc Giám đốc chương trình, dự án tài chính vi mô chịu trách nhiệm về hoạt động của chương trình, dự án tài chính vi mô trên địa bàn; có trách nhiệm phân công cho các thành viên trong Ban quản lý trong việc quản lý, điều hành chương trình, dự án tài chính vi mô.

Bộ phận cho vay của chương trình, dự án tài chính vi mô: Bộ phận cho vay có chức năng thực hiện hoạt động cho vay gồm: Trưởng bộ phận cho vay hoặc chức danh tương đương và ít nhất 01 nhân viên. Số lượng nhân viên của bộ phận cho vay phải phù hợp với số lượng khách hàng tài chính vi mô, quy mô hoạt động tài chính vi mô.

Bộ phận kế toán tài chính của chương trình, dự án tài chính vi mô: Bộ phận kế toán tài chính phải có thủ quỹ và được trang bị tủ, két sắt hoặc phương tiện quản lý tiền, giấy tờ, chứng từ, hóa đơn an toàn.

Bộ phận kiểm soát, quản lý rủi ro của chương trình, dự án tài chính vi mô: Bộ phận kiểm soát, quản lý rủi ro có chức năng kiểm tra, kiểm soát, quản lý rủi ro toàn bộ hoạt động của chương trình, dự án tài chính vi mô gồm: Trưởng bộ phận kiểm soát, quản lý rủi ro hoặc chức danh tương đương và ít nhất 01 nhân viên.

Số lượng nhân viên của bộ phận kiểm soát, quản lý rủi ro phải phù hợp với số lượng khách hàng tài chính vi mô, quy mô hoạt động tài chính vi mô. Trưởng bộ phận kiểm soát, quản lý rủi ro là chuyên trách và không đảm nhiệm bất kỳ vị trí công tác nào khác.

Trưởng bộ phận hoặc chức danh tương đương của Bộ phận cho vay của chương trình, dự án tài chính vi mô; Bộ phận kế toán tài chính của chương trình, dự án tài chính vi mô; Bộ phận kiểm soát, quản lý rủi ro của chương trình, dự án tài chính vi mô phải có tối thiểu trình độ đại học về một trong các ngành kinh tế, ngân hàng, tài chính, kế toán, quản trị kinh doanh hoặc có ít nhất 01 năm kinh nghiệm về hoạt động ngân hàng hoặc hoạt động tài chính vi mô.

Thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, chấm dứt thực hiện và thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký

Nghị định nêu rõ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (Ngân hàng Nhà nước) là cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, chấm dứt thực hiện và thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký đối với:

- Chương trình, dự án tài chính vi mô có địa bàn hoạt động thuộc địa bàn quản lý của từ 02 Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tại Khu vực trở lên;

- Chương trình, dự án tài chính vi mô do các tổ chức phi chính phủ nước ngoài trực tiếp thực hiện.

Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tại các Khu vực (Ngân hàng Nhà nước Khu vực) là cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, chấm dứt thực hiện và thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký đối với chương trình, dự án tài chính vi mô trên địa bàn, trừ chương trình, dự án tài chính vi mô quy định ở trên.

Thời hạn, địa bàn hoạt động của chương trình, dự án tài chính vi mô

Thời hạn hoạt động của chương trình, dự án tài chính vi mô được xác định cụ thể tại Giấy chứng nhận đăng ký. Thời hạn hoạt động của chương trình, dự án tài chính vi mô không được vượt quá thời hạn hoạt động còn lại của tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức phi chính phủ. Chương trình, dự án tài chính vi mô được xem xét gia hạn thời hạn hoạt động.

Địa bàn hoạt động của chương trình, dự án tài chính vi mô được xác định cụ thể đến đơn vị hành chính cấp xã tại Giấy chứng nhận đăng ký. Tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức phi chính phủ chỉ được thực hiện chương trình, dự án tài chính vi mô trên địa bàn hoạt động của tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức phi chính phủ và không thuộc các khu vực có ảnh hưởng đến quốc phòng, an ninh.

Tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức phi chính phủ chỉ được gia hạn thời hạn hoạt động chương trình, dự án tài chính vi mô đang triển khai sau khi Ngân hàng Nhà nước, Ngân hàng Nhà nước Khu vực sửa đổi, bổ sung Giấy chứng nhận đăng ký đối với nội dung thời hạn hoạt động.

Ngân hàng Nhà nước, Ngân hàng Nhà nước Khu vực sửa đổi, bổ sung Giấy chứng nhận đăng ký đối với nội dung thời hạn hoạt động của chương trình, dự án tài chính vi mô trên cơ sở ý kiến chấp thuận của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi chương trình, dự án tài chính vi mô đang triển khai thực hiện.

Việc đề nghị gia hạn thời hạn hoạt động phải được tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức phi chính phủ thực hiện tối thiểu 06 tháng trước ngày hết thời hạn thực hiện chương trình, dự án tài chính vi mô tại Giấy chứng nhận đăng ký.

Thời hạn đề nghị gia hạn không được vượt quá thời hạn hoạt động còn lại của tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức phi chính phủ.

Các trường hợp chấm dứt thực hiện và thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký

Tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức phi chính phủ bị buộc chấm dứt thực hiện chương trình, dự án tài chính vi mô và thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký trong các trường hợp sau đây:

1- Hồ sơ đăng ký chương trình, dự án tài chính vi mô có thông tin gian lận để có đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận đăng ký.

2- Hết thời hạn thực hiện chương trình, dự án tài chính vi mô quy định tại Giấy chứng nhận đăng ký nhưng không được gia hạn thời hạn hoạt động. Không được chấp thuận tiếp tục thực hiện chương trình, dự án tài chính vi mô theo quy định tại khoản 8 Điều 23 Nghị định này.

3- Chương trình, dự án tài chính vi mô có hoạt động vi phạm nghiêm trọng quy định tại Nghị định này và quy định liên quan của pháp luật, gây mất an toàn trật tự an ninh - xã hội trên địa bàn.

4- Tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức phi chính phủ không nộp hồ sơ đề nghị sửa đổi, bổ sung Giấy chứng nhận đăng ký theo quy định tại khoản 1 Điều 11; điểm a khoản 3, điểm a khoản 5, điểm a khoản 7 Điều 23 Nghị định này.

5- Tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức phi chính phủ không hoàn thành việc điều chỉnh cơ cấu tổ chức chương trình, dự án tài chính vi mô theo quy định tại khoản 6 Điều 23 Nghị định này.

6- Chương trình, dự án tài chính vi mô không có hoạt động trong thời gian 12 tháng liên tục sau khi được cấp Giấy chứng nhận đăng ký.

7- Tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức phi chính phủ không được thực hiện chương trình, dự án tài chính vi mô theo văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

8- Tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức phi chính phủ tự nguyện chấm dứt hoạt động của chương trình, dự án tài chính vi mô.

9- Tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức phi chính phủ chấm dứt hoạt động.

Quy định chi tiết một số điều của Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù 

Chính phủ ban hành Nghị định số 171/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù.

Nghị định này áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam, cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài có liên quan đến chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù giữa Việt Nam với nước ngoài.

Trình tự, thủ tục quá cảnh người đang chấp hành án phạt tù

Trong đó, Nghị định quy định rõ trình tự, thủ tục quá cảnh người đang chấp hành án phạt tù.

Cụ thể, nước đề nghị quá cảnh người đang chấp hành án phạt tù qua lãnh thổ Việt Nam phải gửi văn bản đề nghị quá cảnh theo quy định đến Bộ Công an trước ít nhất 10 ngày so với ngày dự kiến quá cảnh.

Trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị, Bộ Công an xem xét, quyết định việc cho phép quá cảnh. Việc chuyển văn bản đề nghị quá cảnh và văn bản trả lời có thể được thực hiện trên môi trường điện tử (hộp thư điện tử).

Văn bản đề nghị quá cảnh phải có các nội dung sau đây: Ngày, tháng, năm và địa điểm lập văn bản; tên, địa chỉ của cơ quan có thẩm quyền của nước đề nghị quá cảnh; thông tin nhân thân người được chuyển giao, bao gồm họ, chữ đệm và tên, ngày tháng năm sinh, giới tính, quốc tịch, số hộ chiếu, nơi thường trú và tình trạng sức khỏe của người được chuyển giao; thông tin về hành vi phạm tội của người được chuyển giao, hình phạt áp dụng đối với người được chuyển giao, thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc thi hành án; các đề nghị hỗ trợ từ cơ quan quản lý xuất nhập cảnh và lực lượng chức năng tại cửa khẩu của Việt Nam (nếu có); thông tin về lịch trình di chuyển, thời gian dự kiến quá cảnh, phương tiện vận chuyển, thành phần Đoàn áp giải và các loại vũ khí, công cụ hỗ trợ mang theo (nếu có); các thông tin cần thiết khác (nếu có).

Bộ Công an từ chối quá cảnh trong các trường hợp sau đây: Người được chuyển giao là công dân Việt Nam; hành vi phạm tội của người đang chấp hành án phạt tù không cấu thành tội phạm theo quy định của Bộ luật Hình sự Việt Nam; việc quá cảnh gây phương hại đến chủ quyền, an ninh, trật tự, an toàn xã hội của Việt Nam.

Người đang chấp hành án phạt tù và nhân viên áp giải phải ở trong khu vực quá cảnh tại sân bay quốc tế hoặc tại cửa khẩu cảng biển trong thời gian chờ phương tiện để đi nước thứ ba, phù hợp với quy định của pháp luật về nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam.

Trong thời gian quá cảnh, nhân viên áp giải của nước đề nghị phải chịu trách nhiệm chính trong việc giám sát, quản lý người đang chấp hành án phạt tù. Cơ quan quản lý xuất nhập cảnh và lực lượng chức năng tại cửa khẩu của Việt Nam có trách nhiệm hỗ trợ bảo đảm an ninh, trật tự và giám sát chung. Mọi chi phí phát sinh trong thời gian quá cảnh do nước đề nghị quá cảnh chi trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Trường hợp vận chuyển bằng đường hàng không mà không có kế hoạch hạ cánh tại Việt Nam nhưng phải hạ cánh đột xuất do sự cố kỹ thuật, tình trạng sức khỏe của người đang chấp hành án phạt tù, nhân viên áp giải, điều kiện thời tiết hoặc lý do bất khả kháng khác thì Trưởng đoàn áp giải hoặc người chỉ huy tàu bay phải thông báo ngay cho cơ quan quản lý xuất nhập cảnh tại sân bay về sự có mặt của người đang chấp hành án phạt tù trên tàu bay. Để bảo đảm an ninh, trật tự, cơ quan quản lý xuất nhập cảnh phối hợp với nhân viên áp giải của nước đề nghị thực hiện ngay các biện pháp giám sát, quản lý người đang chấp hành án phạt tù.

Trong thời gian chờ chuyến bay tiếp theo, người đang chấp hành án phạt tù phải bị quản lý tại khu vực cách ly của sân bay theo quy định của pháp luật.

Các trường hợp đặc biệt trong chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù

Nghị định quy định, việc tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam hoặc chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam cho nước ngoài có thể được tiến hành ngay cả khi thời hạn chưa chấp hành án phạt tù của người được đề nghị chuyển giao ít hơn 1 năm trong các trường hợp sau đây:

a- Người đang chấp hành án phạt tù bị mắc bệnh hiểm nghèo, bệnh nặng cần được chăm sóc y tế đặc biệt hoặc điều trị dài ngày mà trại giam ở nước ngoài hoặc Việt Nam không đáp ứng được hoặc để người đó được ở gần gia đình trong thời gian điều trị; người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam hoặc nước mà người đó đang chấp hành án phạt tù xác nhận.

b- Người đang chấp hành án phạt tù là người chưa thành niên.

c- Người đang chấp hành án phạt tù là phụ nữ có thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi.

d- Người đang chấp hành án phạt tù là người đủ 70 tuổi trở lên.

đ- Để phục vụ yêu cầu chính trị, đối ngoại, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

Trong các trường hợp quy định trên, thời hạn chấp hành án phạt tù còn lại tính đến thời điểm nhận được yêu cầu chuyển giao phải bảo đảm đủ thời gian để thực hiện các thủ tục chuyển giao và tiếp tục thi hành một phần bản án, trừ trường hợp có thỏa thuận khác vì mục đích nhân đạo.

Trường hợp cần thiết, Bộ Công an lấy ý kiến của Bộ Quốc phòng, Bộ Ngoại giao, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Y tế và các cơ quan có liên quan về tính chất đặc biệt của từng hồ sơ cụ thể để quyết định việc tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam hoặc chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam cho nước ngoài. Trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản lấy ý kiến của Bộ Công an, cơ quan được lấy ý kiến có văn bản trả lời Bộ Công an.

Nghị định có hiệu lực thi hành từ 1/7/2026.

Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án hình sự

Chính phủ ban hành Nghị định số 170/2026/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án hình sự; trong đó, quy định rõ chế độ học văn hóa, học nghề của phạm nhân.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 20/5/2026 (1)- Ảnh 3.

Phạm nhân từ 30 tuổi trở xuống chưa có nghề nghiệp, phạm nhân có mức án dưới 5 năm và chuẩn bị chấp hành xong án phạt tù được ưu tiên bố trí học nghề, nâng cao tay nghề.

Nghị định này quy định chi tiết Điều 27, Điều 29, Điều 30, Điều 31, Điều 41, khoản 2 và khoản 3 Điều 44, Điều 45, Điều 46, Điều 47, Điều 48, Điều 50, Điều 52, Điều 53 và Điều 54 của Luật Thi hành án hình sự năm 2025; hướng dẫn thi hành các quy định của Luật về bảo đảm kinh phí cho việc quản lý và thực hiện các chế độ, chính sách đối với phạm nhân; chế độ đối với cán bộ tham gia giảng dạy, giáo dục phạm nhân; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức và gia đình trong giáo dục cải tạo phạm nhân.

Xóa mù chữ cho phạm nhân chưa biết chữ

Nghị định quy định cụ thể chế độ dạy văn hóa cho phạm nhân. Theo đó, các cơ sở giam giữ phạm nhân tổ chức dạy chương trình xóa mù chữ cho phạm nhân chưa biết chữ hoặc tái mù chữ. Khuyến khích phạm nhân tự học văn hóa, phạm nhân là người nước ngoài, người dân tộc thiểu số chưa biết tiếng Việt tự nghiên cứu, học tập tiếng Việt. Phạm nhân đang học văn hóa mà hết thời hạn chấp hành án phạt tù thì được bảo lưu kết quả học tập để có thể tiếp tục học tại các cơ sở giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân.

Tùy theo chương trình mà sử dụng sách giáo khoa, tài liệu dạy và học phù hợp theo quy định, hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Thời gian học văn hóa của phạm nhân tối thiểu 2 buổi/tuần, mỗi buổi 4 giờ do Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam quyết định, trừ các ngày Chủ nhật, lễ, Tết. Cơ sở giam giữ phạm nhân tổ chức các lớp học văn hóa cho phạm nhân và dạy nói tiếng Việt cho phạm nhân không nói được tiếng Việt (tiếng phổ thông); Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam căn cứ vào tình hình thực tế và khả năng nhận thức của phạm nhân quyết định hình thức, thời gian, phương pháp dạy cho phù hợp.

Giáo viên dạy văn hóa cho phạm nhân là cán bộ, chiến sĩ, lao động hợp đồng của các cơ sở giam giữ phạm nhân hoặc của các cơ sở giáo dục địa phương, có trình độ từ đại học trở lên và có chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm. Những phạm nhân đã cải tạo tiến bộ, có trình độ học vấn, khả năng sư phạm, nhân thân tốt, không phải là đối tượng chủ mưu, chỉ huy, cầm đầu, lưu manh chuyên nghiệp, côn đồ, hung hãn, mắc bệnh truyền nhiễm, có tiền sử nghiện ma túy hoặc không phải là phạm nhân phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia thì có thể bố trí hỗ trợ cán bộ, chiến sĩ dạy văn hóa cho phạm nhân. Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam xác nhận hoàn thành kỳ học (nếu phạm nhân chưa hoàn thành Chương trình xóa mù chữ), hoàn thành Chương trình xóa mù chữ giai đoạn 1, giai đoạn 2 theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo cho phạm nhân.

Sở Giáo dục và Đào tạo, Phòng Văn hóa - Xã hội nơi có cơ sở giam giữ phạm nhân chỉ đạo các cơ sở giáo dục cử giáo viên đến dạy văn hóa cho phạm nhân; quản lý, chỉ đạo thực hiện việc kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo cho phạm nhân; tổ chức bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm cho cán bộ, chiến sĩ, lao động hợp đồng dạy văn hóa cho phạm nhân. Cơ sở giam giữ phạm nhân bố trí hội trường hoặc phòng học bảo đảm điều kiện dạy và học cho phạm nhân.

Chế độ đối với cán bộ tham gia giảng dạy

Theo Nghị định, giáo viên, cán bộ, chiến sĩ, lao động hợp đồng dạy văn hóa, giáo dục công dân, tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho phạm nhân được bồi dưỡng trong môi trường đặc biệt. Mức chi bồi dưỡng một buổi (4 giờ) bằng 0,25 mức lương cơ sở.

Cán bộ quản lý, trực tiếp làm công tác giáo dục, dạy văn hóa, giáo dục pháp luật, giáo dục công dân của các cơ sở giam giữ phạm nhân có thành tích tốt được xem xét biểu dương, khen thưởng theo quy định của pháp luật về thi đua, khen thưởng.

Phạm nhân được học và cấp chứng chỉ đào tạo nghề

Nghị định quy định cụ thể chế độ học nghề của phậm nhân. Theo đó, căn cứ vào khả năng, trình độ văn hóa, sức khỏe, giới tính của phạm nhân, thị trường lao động và điều kiện cụ thể, trại giam, trại tạm giam hợp tác với các cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp để tổ chức đào tạo trình độ sơ cấp, đào tạo thường xuyên hoặc tổ chức bồi dưỡng nâng cao tay nghề cho phạm nhân theo quy định của pháp luật về giáo dục nghề nghiệp; trại giam, trại tạm giam hợp tác với các cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp có tư cách pháp nhân theo quy định của pháp luật để tổ chức dạy nghề, nâng cao tay nghề, truyền nghề cho phạm nhân.

Phạm nhân từ 30 tuổi trở xuống chưa có nghề nghiệp, phạm nhân có mức án dưới 5 năm và chuẩn bị chấp hành xong án phạt tù được ưu tiên bố trí học nghề, nâng cao tay nghề. Phạm nhân được học và cấp chứng chỉ đào tạo nghề theo quy định của pháp luật về giáo dục nghề nghiệp.

Kế hoạch dạy nghề, chương trình dạy nghề cho phạm nhân

Căn cứ vào chỉ tiêu nguồn vốn, kế hoạch năm, cơ sở giam giữ phạm nhân xây dựng kế hoạch dạy nghề cho phạm nhân. Căn cứ vào kế hoạch dạy nghề, cơ sở giam giữ phạm nhân lập dự toán dạy nghề gửi về cơ quan cấp trên quản lý trực tiếp để phê duyệt. Nội dung, dự toán dạy nghề bao gồm căn cứ pháp lý, ngành nghề đào tạo, số lớp, số lượng học viên là phạm nhân học nghề, địa điểm tổ chức, hình thức đào tạo, trình độ đào tạo và dự kiến thời gian đào tạo, dự toán kinh phí dạy nghề, nguồn vốn.

Chương trình dạy nghề trình độ sơ cấp cho phạm nhân: Chương trình đào tạo tối thiểu là 300 giờ với 3 đơn vị học tập bao gồm kiến thức nghề, kỹ năng thực hành, thái độ với nghề được học, thời gian thực hiện từ 3 tháng đến dưới 1 năm. Nội dung, cấu trúc của chương trình đào tạo trình độ sơ cấp phải bảo đảm tính khoa học, hệ thống, thực tiễn, sử dụng từ ngữ nhất quán, dễ hiểu và tương đương mục tiêu đào tạo trình độ sơ cấp theo quy định tại Luật Giáo dục nghề nghiệp, phù hợp với khung trình độ, tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia.

Chương trình đào tạo nghề thường xuyên cho phạm nhân: bồi dưỡng, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng nghề; bồi dưỡng hoàn thiện kỹ năng nghề nghiệp; kèm cặp nghề, truyền nghề, tập nghề; chuyển giao công nghệ và chương trình đào tạo khác, có thời gian đào tạo dưới 3 tháng. Chương trình đào tạo thường xuyên bảo đảm giúp người học có năng lực thực hiện được các công việc của nghề, tăng năng suất lao động, phạm nhân học xong tự thực hiện được công việc đơn giản, một hoặc một số phần công việc của một nghề, có hiểu biết về an toàn, vệ sinh lao động.

Chương trình, nội dung đào tạo nghề được Hội đồng thẩm định chương trình đào tạo thẩm định và người đứng đầu cơ sở đào tạo phê duyệt và ban hành đối với các nghề hợp tác với cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp để đào tạo.

Cơ quan cấp trên quản lý trực tiếp trại giam, trại tạm giam căn cứ điều kiện thực tế và thị trường lao động quy định các ngành, nghề đào tạo cho phạm nhân.

Nghị định có hiệu lực thi hành từ 1/7/2026.

Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Phòng bệnh

Chính phủ ban hành Nghị định số 165/2026/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Phòng bệnh. Trong đó, đáng chú ý là các quy định về kiểm dịch y tế đối với người nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh.

Người nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh phải khai báo y tế

Nghị định nêu rõ, người nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh phải khai báo y tế theo quy định. Bộ trưởng Bộ Y tế hướng dẫn về đối tượng, thời gian áp dụng khai báo y tế tại cửa khẩu đối với từng bệnh truyền nhiễm căn cứ tình hình dịch bệnh truyền nhiễm trên thế giới và nguy cơ xâm nhập vào Việt Nam theo từng thời điểm cụ thể.

Hình thức khai báo bằng phương thức điện tử hoặc bằng giấy. Nội dung khai báo y tế theo Mẫu số 01 Phụ lục V ban hành kèm theo Nghị định này.

Cung cấp các bằng chứng về tiêm chủng, các biện pháp dự phòng đã áp dụng khi có yêu cầu của Bộ Y tế.

Ngôn ngữ trong khai báo y tế được sử dụng dưới dạng song ngữ tiếng Việt và tiếng Anh, tùy theo tình hình dịch bệnh trên thế giới, cửa khẩu có thể sử dụng thêm các ngôn ngữ khác.

Việc khai báo y tế phải được thực hiện trong vòng 7 ngày trước khi nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh tại cửa khẩu Việt Nam.

Quan sát, kiểm tra y tế đối với người nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh

Kiểm dịch viên y tế thực hiện việc quan sát trực tiếp, gián tiếp và theo dõi tình trạng sức khỏe, thân nhiệt bằng thiết bị giám sát y tế đối với người nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh để phát hiện các trường hợp nghi ngờ mắc bệnh truyền nhiễm.

Trường hợp phát hiện các trường hợp nghi ngờ mắc bệnh truyền nhiễm, kiểm dịch viên y tế thực hiện kiểm tra thực tế.

Kiểm tra giấy tờ: Trường hợp phát hiện người thuộc diện phải kiểm tra thực tế theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 20 Luật Phòng bệnh, kiểm dịch viên y tế thực hiện kiểm tra thực tế.

Kiểm tra thực tế: Các trường hợp quy định tại điểm d khoản 2 Điều 20 Luật Phòng bệnh được xác định thông qua việc thu thập thông tin, quan sát y tế, kiểm tra giấy tờ phải được kiểm tra thực tế.

Kiểm dịch viên y tế thực hiện phỏng vấn, khai thác thông tin dịch tễ, các biện pháp dự phòng bệnh truyền nhiễm đã áp dụng; phát hiện các dấu hiệu, triệu chứng bệnh truyền nhiễm.

Trường hợp phát hiện người phải xử lý y tế theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 20 Luật Phòng bệnh, kiểm dịch viên y tế thực hiện xử lý y tế.

Thời gian hoàn thành việc kiểm tra thực tế đối với một người không quá 2 giờ.

Nghị định có hiệu lực thi hành từ 1/7/2026./.