In bài viết

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 20/5/2026 (2)

(Chinhphu.vn) - Văn phòng Chính phủ vừa có Thông cáo báo chí chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 20/5/2026 (2).

20/05/2026 20:30

11 Nghị quyết của Chính phủ: Cắt giảm chi phí tuân thủ 23 nghìn tỷ đồng mỗi năm

Chỉ trong vòng chưa đầy 1 tháng, Chính phủ đã ban hành 11 Nghị quyết bãi bỏ 56 ngành, nghề; sửa đổi 14 ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện. 11 Nghị quyết này cùng với Thông tư của các Bộ đã phân cấp 321 thủ tục hành chính (TTHC) từ Trung ương về địa phương, cắt giảm 697 TTHC và 1.754 điều kiện kinh doanh, đơn giản hóa 704 TTHC; cắt giảm 54,6% chi phí tuân thủ TTHC.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 20/5/2026 (2)- Ảnh 1.

Chính phủ vừa ban hành 03 Nghị quyết (số 66.17/2026/NQ-CP, số 66.18/2026/NQ-CP, số 66.19/2026/NQ-CP) về cắt giảm, sửa đổi ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện và phân quyền, đơn giản hóa thủ tục hành chính (TTHC), điều kiện kinh doanh (ĐKKD) theo cơ chế đặc biệt xử lý khó khăn, vướng mắc do quy định của pháp luật tại Nghị quyết số 206/2025/QH15 của Quốc hội.

Chỉ trong vòng chưa đầy 01 tháng (kể từ ngày 29/4/2026), Chính phủ đã ban hành 11 Nghị quyết (trong đó bao gồm chùm 08 Nghị quyết ban hành ngày 29 tháng 4 năm 2026); đồng thời, các bộ đã ban hành các văn bản theo thẩm quyền để đồng bộ với các Nghị quyết. Tính đến thời điểm này đã thực hiện bãi bỏ 56 ngành, nghề; sửa đổi 14 ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện so với quy định của Luật Đầu tư năm 2025. 11 Nghị quyết của Chính phủ và Thông tư của các Bộ đã phân cấp 321 TTHC (gồm: 171 TTHC tại 11 Nghị quyết; 150 TTHC tại các Thông tư của các bộ và các văn bản quy phạm pháp luật khác ngoài 11 Nghị quyết) từ Trung ương về địa phương; cắt giảm 697 TTHC (gồm: 587 TTHC tại 11 Nghị quyết; 110 TTHC tại các Thông tư của các bộ và các văn bản quy phạm pháp luật khác ngoài 11 Nghị quyết) và 1.754 ĐKKD (gồm: 1667 ĐKKD tại 11 Nghị quyết; 87 ĐKKD tại các Thông tư của các bộ và các văn bản quy phạm pháp luật khác ngoài 11 Nghị quyết); đơn giản hóa 704 TTHC (gồm: 490 TTHC tại 11 Nghị quyết; 214 TTHC tại các Thông tư của các bộ và các văn bản quy phạm pháp luật khác ngoài 11 Nghị quyết).

Như vậy, đã bảo đảm cơ bản hoàn thành các chỉ tiêu cốt lõi theo Kết luận số 18-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng:

(1) Đã cắt giảm hơn 28% ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện so với Luật Đầu tư năm 2025 (bãi bỏ 56/198 ngành, nghề) và sửa đổi 14 ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện so với Luật Đầu tư năm 2025; so với Luật Đầu tư năm 2020 thì tổng số ngành nghề kinh doanh có điều kiện đã được cắt giảm đạt 40% (bãi bỏ 95/237 ngành, nghề).

(2) Đã cắt giảm 53% thời gian thực hiện TTHC (51.247/96.675 ngày);

(3) Đã cắt giảm 54,6% chi phí tuân thủ TTHC so với năm 2024, trong đó riêng 11 Nghị quyết vừa ban hành sẽ cắt giảm chi phí tuân thủ khoảng 23 nghìn tỷ đồng mỗi năm.

Bên cạnh đó, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ tiếp tục quyết liệt chỉ đạo các Bộ, cơ quan ngang Bộ, sẽ tiếp tục phân cấp, cắt giảm, đơn giản hóa TTHC, ĐKKD thông qua sửa đổi các Nghị định, Thông tư và con số về phân cấp, cắt giảm, đơn giản hóa TTHC, ĐKKD thời gian tới sẽ tiếp tục tăng lên.

Vận hành thông suốt các TTHC ngay khi có hiệu lực; nghiêm cấm quy định thêm TTHC hoặc ban hành các biện pháp quản lý khác

Để bảo đảm hiệu quả triển khai các Nghị quyết, không gián đoạn việc cung cấp và thực hiện các dịch vụ hành chính sau phân cấp, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo:

(1) Các bộ, cơ quan ngang bộ khẩn trương hướng dẫn địa phương bố trí nguồn lực nhằm tiếp nhận, vận hành thông suốt các TTHC ngay khi quy định có hiệu lực và yêu cầu các tỉnh, thành phố (i) khẩn trương tiếp nhận, tổ chức triển khai, chỉ đạo, hướng dẫn Ủy ban nhân dân xã, phường, đặc khu trên địa bàn thực hiện ngay các TTHC đã được phân cấp theo hướng dẫn của trung ương; (ii) tiếp nhận, xử lý, tháo gỡ ngay theo thẩm quyền các khó khăn, vướng mắc do người dân, doanh nghiệp phản ánh, kiến nghị; kịp thời báo cáo, tham mưu cấp có thẩm quyền xử lý đối với những nội dung vượt thẩm quyền.

(2) Thủ tướng Chính phủ cũng nghiêm cấm các bộ, ngành, địa phương quy định thêm TTHC, ĐKKD hoặc ban hành các biện pháp quản lý khác làm tăng chi phí tuân thủ cho người dân, doanh nghiệp sau khi đã bãi bỏ, đơn giản hóa.

(3) Ngoài ra, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các Bộ, cơ quan khẩn trương rà soát, ban hành mới, sửa đổi bổ sung tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, hoặc biện pháp quản lý thay thế phù hợp với thông lệ quốc tế và điều kiện thực tiễn Việt Nam, đúng yêu cầu thay đổi phương thức quản lý nhà nước từ "tiền kiểm" sang "hậu kiểm", giảm tối đa chi phí tuân thủ cho người dân, doanh nghiệp, đồng thời phải đáp ứng yêu cầu về an toàn, an ninh cho người dân, tuyệt đối không để xảy ra khoảng trống pháp lý, lỗ hổng trong quản lý nhà nước.

(4) Bộ Tư pháp được giao nhiệm vụ, khẩn trương hoàn thiện, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Đề án thí điểm đánh giá, chấm điểm công tác cải cách TTHC trong tháng 6 năm 2026 để áp dụng từ tháng 7 năm 2026 nhằm đánh giá thực chất công tác cắt giảm, tăng cường kiểm soát không để phát sinh thêm thủ tục mới.

Quy định chi tiết chi phí thực hiện và kinh phí bảo đảm công tác dẫn độ, công tác chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù, công tác tương trợ tư pháp về hình sự 

Chính phủ ban hành Nghị định số 172/2026/NĐ-CP quy định chi tiết chi phí thực hiện và kinh phí bảo đảm công tác dẫn độ, công tác chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù, công tác tương trợ tư pháp về hình sự.

Nghị định này quy định chi tiết Điều 11 của Luật Dẫn độ số 100/2025/QH15 (Luật Dẫn độ); Điều 10, Điều 11 của Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù số 101/2025/QH15 (Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù) và Điều 15 của Luật Tương trợ tư pháp về hình sự số 103/2025/QH15 (Luật Tương trợ tư pháp về hình sự).

Nguyên tắc quản lý và sử dụng kinh phí

Trong đó, Nghị định quy định rõ về nguyên tắc quản lý và sử dụng kinh phí bảo đảm cho công tác dẫn độ, công tác chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù, công tác tương trợ tư pháp về hình sự.

Theo quy định, kinh phí bảo đảm cho công tác dẫn độ, công tác chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù, công tác tương trợ tư pháp về hình sự được bố trí trong dự toán chi ngân sách hàng năm của các cơ quan thực hiện yêu cầu dẫn độ, chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù, tương trợ tư pháp về hình sự theo quy định.

Việc tiếp nhận, quản lý và sử dụng kinh phí tự nguyện đóng góp, hỗ trợ không điều kiện, không ảnh hưởng quyền lợi tố tụng, thi hành án cho người đang chấp hành án phạt tù bảo đảm đúng mục đích, đúng đối tượng, đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức, công khai, minh bạch, công bằng.

Kinh phí Nhà nước bảo đảm cho công tác dẫn độ, chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù, tương trợ tư pháp về hình sự

Nghị định quy định kinh phí cho công tác dẫn độ, công tác chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù, công tác tương trợ tư pháp về hình sự được bảo đảm từ nguồn ngân sách nhà nước và các nguồn kinh phí khác theo quy định của pháp luật.

Việc lập dự toán, quản lý, sử dụng và thanh quyết toán kinh phí bảo đảm cho công tác dẫn độ, công tác chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù, công tác tương trợ tư pháp về hình sự theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước, pháp luật về đầu tư công, pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Đối với các nội dung chi đã có mức chi thì thực hiện theo các văn bản quy phạm pháp luật tương ứng hiện hành, các nội dung chi đặc thù, nội dung chi mới chưa có định mức chi sẽ thực hiện theo hướng dẫn của Bộ Tài chính.

Nội dung chi áp dụng chung đối với công tác dẫn độ, chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù, tương trợ tư pháp về hình sự

Nghị định quy định nội dung chi áp dụng chung đối với công tác dẫn độ, công tác chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù, công tác tương trợ tư pháp về hình sự gồm:

1- Chi việc xử lý, lập, quản lý hồ sơ yêu cầu dẫn độ, chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù, tương trợ tư pháp về hình sự;

2- Chi lấy ý kiến chuyên gia tư vấn trong nước và chuyên gia tư vấn của nước ngoài trong trường hợp yêu cầu dẫn độ, chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù, tương trợ tư pháp về hình sự liên quan đến vấn đề phức tạp;

3- Chi dịch các tài liệu, công chứng, chứng thực hồ sơ yêu cầu dẫn độ, chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù, tương trợ tư pháp về hình sự của Việt Nam và nước ngoài; chi dịch công thư, công hàm, văn bản hoặc tài liệu khác trao đổi giữa các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài và các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền của nước ngoài (nếu có);

4- Chi phí cấp giấy tờ cần thiết cho người bị dẫn độ, người được chuyển giao;

5- Chi giám định, phiên dịch trong những trường hợp cụ thể (nếu có);

6- Chi chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký người dịch;

7- Chi chuyển phát hồ sơ, tài liệu yêu cầu dẫn độ, chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù, tương trợ tư pháp về hình sự ở trong nước và từ Việt Nam ra nước ngoài; chi phí chuyển phát hồ sơ, tài liệu yêu cầu dẫn độ, chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù, tương trợ tư pháp về hình sự từ cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài về Việt Nam; chi phí gửi hồ sơ, tài liệu yêu cầu dẫn độ, chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù, tương trợ tư pháp về hình sự từ các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài cho cơ quan, tổ chức có thẩm quyền của nước ngoài.

8- Chi tổ chức hội nghị, hội thảo, tọa đàm, tập huấn, họp, làm việc, nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực dẫn độ, chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù, tương trợ tư pháp về hình sự; chi bồi dưỡng chuyên môn trong nước và ở nước ngoài đối với các công tác này;

9- Chi tổ chức các đoàn khảo sát liên ngành, đoàn kiểm tra liên ngành hàng năm hoặc đột xuất theo yêu cầu của cấp có thẩm quyền đánh giá tình hình triển khai thực hiện công tác dẫn độ, công tác chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù, công tác tương trợ tư pháp về hình sự trong nước; chi tổ chức các đoàn khảo sát, đánh giá kinh nghiệm và nhu cầu hợp tác của nước ngoài phục vụ hoạt động của các công tác này;

10- Chi mua sắm đồ dùng, phương tiện, công cụ hỗ trợ và các điều kiện khác phục vụ công tác dẫn độ, công tác chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù, công tác tương trợ tư pháp về hình sự; quản lý người nước ngoài trong thời gian làm thủ tục liên quan đến công tác này;

11- Chi xây dựng và quản lý cơ sở dữ liệu về dẫn độ, chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù, tương trợ tư pháp về hình sự (bao gồm chi mua sắm phần cứng, phần mềm, nâng cấp, cải tạo cơ sở vật chất, dịch vụ khác); duy trì, bảo dưỡng và nâng cao hiệu suất của hệ thống thông tin; chi ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin vào công việc chuyên môn (bao gồm số hóa cơ sở dữ liệu);

12- Chi tiếp đoàn công tác của nước ngoài khi bàn giao người bị dẫn độ, chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù, thực hiện tương trợ tư pháp về hình sự trong từng vụ việc cụ thể;

13- Chi hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật đối với công tác dẫn độ, công tác chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù, công tác tương trợ tư pháp về hình sự;

14- Chi làm đêm, làm thêm giờ, làm ngày nghỉ, ngày lễ; chi thông tin liên lạc; chi văn phòng phẩm; chi in ấn hồ sơ, tài liệu, phát hành biểu mẫu, giấy tờ;

15- Các khoản chi cần thiết khác phục vụ trực tiếp công tác dẫn độ, công tác chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù, công tác tương trợ tư pháp về hình sự.

Nghị định này có hiệu lực từ ngày 1/7/2026.

Phê duyệt Đề án bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức làm công tác đối ngoại, hội nhập quốc tế đủ năng lực làm việc trong môi trường quốc tế trong kỷ nguyên mới giai đoạn 2026 – 2031

Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà vừa ký Quyết định số 892/QĐ-TTg phê duyệt Đề án bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức làm công tác đối ngoại, hội nhập quốc tế đủ năng lực làm việc trong môi trường quốc tế trong kỷ nguyên mới giai đoạn 2026 - 2031 (Đề án).

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 20/5/2026 (2)- Ảnh 2.

Xây dựng đội ngũ làm công tác đối ngoại, hội nhập quốc tế đủ năng lực làm việc trong môi trường quốc tế

Tạo chuyển biến căn bản về chất lượng nhân lực, năng lực hội nhập quốc tế của đội ngũ cán bộ đối ngoại

Mục tiêu chung của Đề án nhằm góp phần thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước, đặc biệt là chủ trương, đường lối về xây dựng đội ngũ cán bộ của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV, các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm của Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 24/01/2024 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế trong tình hình mới và các mục tiêu đề ra của Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19/5/2018 của Trung ương khóa XII về xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý, có khả năng làm việc trong môi trường quốc tế.

Xây dựng đội ngũ làm công tác đối ngoại, hội nhập quốc tế có bản lĩnh chính trị vững vàng, tư cách đạo đức tốt, chuyên môn phù hợp, thành thạo kỹ năng nghề nghiệp, có cơ cấu hợp lý, tạo chuyển biến căn bản về chất lượng nhân lực và năng lực hội nhập quốc tế của đội ngũ cán bộ các cấp, ngang tầm với trình độ khu vực.

Giai đoạn 1 (2026 - 2028), phấn đấu 30% - 40% cán bộ và công chức, viên chức làm công tác đối ngoại, hội nhập quốc tế trực tiếp, thường xuyên của các cơ quan Trung ương, các địa phương được bồi dưỡng các năng lực cần thiết để làm việc trong môi trường quốc tế.

Phấn đấu 30% - 40% cán bộ và công chức, viên chức làm công tác đối ngoại, hội nhập quốc tế không thường xuyên của các cơ quan Trung ương, các địa phương được bồi dưỡng các năng lực cần thiết để làm việc trong môi trường quốc tế.

Giai đoạn 2 (2029 - 2031), phấn đấu 70% - 80% cán bộ và công chức, viên chức làm công tác đối ngoại, hội nhập quốc tế trực tiếp, thường xuyên của các cơ quan Trung ương, các địa phương được bồi dưỡng các năng lực cần thiết để làm việc trong môi trường quốc tế.

Phấn đấu 50% - 60% cán bộ và công chức, viên chức làm công tác đối ngoại, hội nhập quốc tế không thường xuyên của các cơ quan Trung ương, các địa phương được bồi dưỡng các năng lực cần thiết để làm việc trong môi trường quốc tế.

Thực hiện 5 nhóm nhiệm vụ, giải pháp

Để đạt được các mục tiêu trên, Đề án đặt ra 5 nhóm nhiệm vụ, giải pháp sau:

1- Nhóm giải pháp về tuyên truyền, nâng cao nhận thức.

2- Nhóm giải pháp về cơ chế, chính sách.

3- Nhóm giải pháp về xác định các yêu cầu năng lực cần có để làm việc trong môi trường quốc tế.

4- Nhóm giải pháp về tổ chức, triển khai bồi dưỡng năng lực làm việc trong môi trường quốc tế cho cán bộ, công chức, viên chức làm công tác đối ngoại, hội nhập quốc tế.

5- Nhóm giải pháp về nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác bồi dưỡng.

Chú trọng, bồi dưỡng, phát triển đội ngũ chuyên gia chuyên sâu

Trong đó, đối với nhóm giải pháp về cơ chế, chính sách, Đề án tích cực lồng ghép công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức làm công tác đối ngoại, hội nhập quốc tế có năng lực làm việc trong môi trường quốc tế với chiến lược đào tạo, bồi dưỡng, nhu cầu sử dụng cán bộ, công chức, viên chức làm công tác đối ngoại, hội nhập quốc tế của từng cơ quan, tổ chức để đảm bảo tính hiệu quả.

Tạo điều kiện cử cán bộ, công chức, viên chức trực tiếp làm công tác đối ngoại, hội nhập quốc tế tham gia Kế hoạch bồi dưỡng các năng lực cơ bản cần thiết để làm việc trong môi trường quốc tế của Đề án.

Chú trọng, bồi dưỡng, phát triển đội ngũ chuyên gia chuyên sâu trên các lĩnh vực theo yêu cầu đặc thù của từng bộ, ngành, địa phương. Khuyến khích các bộ, ngành, địa phương căn cứ Khung năng lực chung của Đề án chủ động xây dựng các kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức làm công tác đối ngoại, hội nhập quốc tế.

Có cơ chế chính sách để phát huy, sử dụng đội ngũ chuyên gia, chuyên sâu về đối ngoại

Đối với nhóm giải pháp về nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác bồi dưỡng, Đề án thực hiện đổi mới cách thức xây dựng, tổ chức, triển khai chương trình, tài liệu bồi dưỡng, bám sát các yêu cầu công việc thực tế của cán bộ gắn với các tiêu chuẩn chức danh và vị trí việc làm. Đảm bảo hiệu quả và tính bổ trợ cho các chương trình, đào tạo bồi dưỡng công chức, viên chức làm công tác đối ngoại, hội nhập quốc tế đang được triển khai.

Tăng cường áp dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo trong công tác bồi dưỡng, đẩy mạnh số hóa các nội dung kiến thức cơ bản trên nền tảng số để tăng mức độ tiếp cận đối với các cán bộ tại các địa phương.

Kết hợp nhuần nhuyễn giữa bồi dưỡng thông qua việc cung cấp kiến thức, kỹ năng cho học viên, với rèn luyện, trải nghiệm qua thực tế công việc và nỗ lực trau dồi của mỗi cá nhân.

Chuyển dần từ bồi dưỡng theo hình thức đại trà, đến khu biệt hóa, cá nhân hóa bồi dưỡng theo các chức danh, vị trí việc làm đáp ứng yêu cầu bổ sung kiến thức, kỹ năng mà cán bộ, công chức, viên chức làm công tác đối ngoại, hội nhập quốc tế còn thiếu hụt.

Phát triển, nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên, trong đó có cơ chế chính sách để phát huy, sử dụng đội ngũ chuyên gia, chuyên sâu về đối ngoại, làm việc trong môi trường quốc tế, nhất là các cá nhân có uy tín, đã giữ những trọng trách, vị trí quan trọng trong và ngoài nước, đã xây dựng được mạng lưới quan hệ phối hợp rộng rãi trong và ngoài nước. Thường xuyên cập nhật, nâng cao năng lực, trình độ và phương pháp sư phạm cho giảng viên các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng...

Phê duyệt Đề án "Đào tạo, bồi dưỡng và phát triển nguồn nhân lực quản lý nhà nước, nghiên cứu - phát triển, ứng dụng và hỗ trợ kỹ thuật trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử"

Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng vừa ký Quyết định số 893/QĐ-TTg phê duyệt Đề án "Đào tạo, bồi dưỡng và phát triển nguồn nhân lực quản lý nhà nước, nghiên cứu - phát triển, ứng dụng và hỗ trợ kỹ thuật trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử" (Đề án).

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 20/5/2026 (2)- Ảnh 3.

Đào tạo, bồi dưỡng và phát triển nguồn nhân lực nghiên cứu - phát triển, ứng dụng và hỗ trợ kỹ thuật trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử

Đề án đặt mục tiêu tổng quát là đào tạo, bồi dưỡng và phát triển nhân lực quản lý nhà nước, nghiên cứu - phát triển, hỗ trợ kỹ thuật và ứng dụng năng lượng nguyên tử bảo đảm đủ số lượng, cơ cấu hợp lý và chất lượng, đáp ứng yêu cầu phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử, bảo đảm an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân và an ninh hạt nhân.

Đến 2030, phấn đấu 100% nhân lực đủ năng lực thực thi các nhiệm vụ ứng dụng năng lượng nguyên tử

Mục tiêu cụ thể đến năm 2030, phấn đấu 100% nhân lực quản lý nhà nước trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử ở trung ương và địa phương được đào tạo, bồi dưỡng, đủ năng lực thực thi các nhiệm vụ quản lý nhà nước về an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân và an ninh hạt nhân, ứng dụng năng lượng nguyên tử.

Hình thành đội ngũ nhân lực nghiên cứu - phát triển nòng cốt có trình độ cao, đủ năng lực tiếp thu, làm chủ, chuyển giao và phát triển công nghệ trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử, phục vụ triển khai điện hạt nhân và mở rộng ứng dụng bức xạ, đồng vị phóng xạ trong các ngành kinh tế - xã hội. Xây dựng đội ngũ nhân lực vận hành an toàn, hiệu quả lò phản ứng hạt nhân nghiên cứu, phục vụ nghiên cứu khoa học, đào tạo và sản xuất đồng vị phóng xạ.

Phấn đấu 100% nhân lực hỗ trợ kỹ thuật của cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử được bồi dưỡng, đủ năng lực hỗ trợ kỹ thuật cho công tác thẩm định, thanh tra, kiểm tra, quan trắc phóng xạ môi trường và ứng phó sự cố; phấn đấu 100% nhân lực hỗ trợ kỹ thuật về an ninh hạt nhân, quan trắc phóng xạ và ứng phó sự cố của các bộ, ngành được bồi dưỡng, đủ năng lực thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ bảo đảm an ninh và ứng phó sự cố.

100% nhân viên bức xạ được cơ sở tiến hành công việc bức xạ tổ chức đào tạo an toàn bức xạ theo quy định của pháp luật. Hình thành đội ngũ nhân lực có khả năng vận hành, khai thác hiệu quả nguồn bức xạ trong y tế, công nghiệp, nông nghiệp - môi trường và các ngành kinh tế - kỹ thuật khác; tuân thủ đầy đủ yêu cầu về bảo đảm an toàn, an ninh.

Đến năm 2035, 100% nhân lực quản lý nhà nước trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử ở trung ương và địa phương được đào tạo, đào tạo lại và bồi dưỡng bảo đảm đủ năng lực thực thi các nhiệm vụ quản lý nhà nước về an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân và an ninh hạt nhân, ứng dụng năng lượng nguyên tử.

Nhân lực của cơ quan an toàn bức xạ và hạt nhân quốc gia được đào tạo, bồi dưỡng bảo đảm tự chủ được 70% năng lực thẩm định, đánh giá, thanh tra, kiểm tra, giám sát an toàn và an ninh các dự án điện hạt nhân và 100% đối với dự án lò phản ứng hạt nhân nghiên cứu.

Phát triển đội ngũ nhân lực có trình độ chuyên sâu, đủ năng lực thực hiện độc lập các hoạt động phân tích, đánh giá an toàn, thẩm định kỹ thuật và tư vấn phục vụ cơ quan quản lý nhà nước trong toàn bộ vòng đời dự án điện hạt nhân.

100% nhân viên bức xạ được cơ sở tiến hành công việc bức xạ tổ chức đào tạo an toàn bức xạ theo quy định của pháp luật. Hình thành đội ngũ nhân lực có khả năng làm chủ công nghệ ứng dụng bức xạ và đồng vị phóng xạ trong y tế, công nghiệp, nông nghiệp - môi trường và các ngành kinh tế - kỹ thuật khác.

Tầm nhìn đến năm 2050, nhân lực quản lý nhà nước tại trung ương và địa phương được đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên, đủ năng lực thực thi nhiệm vụ, bảo đảm hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước và góp phần đóng góp cho phát triển kinh tế - xã hội.

Nhân lực cơ quan an toàn bức xạ và hạt nhân quốc gia có đủ năng lực thẩm định, cấp phép, thanh tra, giám sát và ứng phó sự cố đối với các loại hình lò phản ứng hạt nhân, bao gồm lò phản ứng hạt nhân công suất lớn và lò phản ứng hạt nhân mô-đun nhỏ; bảo đảm năng lực điều phối chiến lược quốc gia về an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân và an ninh hạt nhân...

Đối tượng được đào tạo, bồi dưỡng

Theo Đề án, đối tượng được đào tạo, bồi dưỡng bao gồm:

Nhân lực quản lý nhà nước: Nhân lực tại cơ quan an toàn bức xạ và hạt nhân quốc gia; nhân lực tại bộ, cơ quan trung ương thực hiện công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử; nhân lực tại địa phương thực hiện công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử.

Nhân lực nghiên cứu - phát triển và hỗ trợ kỹ thuật: Nhân lực thuộc các tổ chức khoa học và công nghệ công lập, đơn vị sự nghiệp công lập hoạt động trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử; nhân lực thuộc tổ chức khoa học và công nghệ ngoài công lập, doanh nghiệp, cơ sở ứng dụng và các tổ chức khác có hoạt động nghiên cứu - phát triển, hỗ trợ kỹ thuật trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử, có khả năng tham gia thực hiện các chương trình, nhiệm vụ, dự án của nhà nước hoặc cung cấp dịch vụ kỹ thuật phục vụ quản lý nhà nước.

Nhân lực ứng dụng năng lượng nguyên tử: Nhân viên bức xạ tại các cơ sở tiến hành công việc bức xạ, trừ nhân lực phục vụ dự án nhà máy điện hạt nhân được đào tạo, bồi dưỡng theo Đề án khác hoặc do chủ đầu tư dự án thực hiện.

Nội dung đào tạo, bồi dưỡng phải được thiết kế phù hợp với từng nhóm đối tượng được đào tạo, bồi dưỡng, bảo đảm đáp ứng yêu cầu về năng lực chuyên môn, nghiệp vụ theo từng lĩnh vực, bao gồm: điện hạt nhân; lò phản ứng hạt nhân nghiên cứu; nghiên cứu và phát triển, ứng dụng bức xạ và đồng vị phóng xạ trong các ngành kinh tế - kỹ thuật.

Hình thức đào tạo, bồi dưỡng được thực hiện theo quy định pháp luật, phù hợp với đối tượng, nội dung đào tạo, bồi dưỡng, gồm một hoặc các hình thức đào tạo sau đây: Bồi dưỡng ngắn hạn, cơ bản, nâng cao; đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu; đào tạo, bồi dưỡng cho giảng viên; đào tạo tại chỗ; đào tạo sau đại học; đào tạo an toàn bức xạ.

Đề án đã đặt ra các nhiệm vụ và giải pháp về cơ chế, chính sách đào tạo, bồi dưỡng và phát triển nguồn nhân lực; phát triển, chuẩn hóa và hiện đại hóa chương trình đào tạo, bồi dưỡng; xây dựng kế hoạch và tổ chức đào tạo, bồi dưỡng; đầu tư và phát triển hạ tầng, cơ sở vật chất cho hoạt động đào tạo, bồi dưỡng; tăng cường hợp tác quốc tế và liên kết đào tạo, bồi dưỡng; triển khai chuyển đổi số trong công tác đào tạo, bồi dưỡng và quản lý nhân lực./.