In bài viết

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 20/8/2026 (2)

(Chinhphu.vn) - Văn phòng Chính phủ vừa có Thông cáo báo chí chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 20/8/2026 (2).

20/08/2026 19:53

Quy định về lực lượng bảo vệ an ninh mạng

Chính phủ ban hành Nghị định số 329/2026/NĐ-CP ngày 19/8/2026 quy định về lực lượng bảo vệ an ninh mạng. Trong đó, đáng chú ý là các quy định về chính sách đãi ngộ, thu hút nhân tài đối với lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 20/8/2026 (2)- Ảnh 1.

Chính sách đãi ngộ, thu hút nhân tài trong lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng.

Nghị định số 329/2026/NĐ-CP gồm 4 chương, 21 điều quy định về lực lượng bảo vệ an ninh mạng bao gồm tổ chức, hoạt động, phối hợp, huy động tham gia bảo vệ an ninh mạng; chính sách đãi ngộ, thu hút nhân tài đối với lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng và trách nhiệm tổ chức thực hiện.

Lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng là lực lượng nòng cốt, được bố trí tại Bộ Công an, Bộ Quốc phòng theo quy định của Luật An ninh mạng và pháp luật có liên quan.

Lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng có nhiệm vụ:

a) Tham mưu chính sách, pháp luật về an ninh mạng, an ninh dữ liệu, bảo vệ dữ liệu cá nhân, dự án công nghệ chiến lược theo quy định của pháp luật;

b) Quản lý nhà nước về an ninh mạng, an ninh dữ liệu, bảo vệ dữ liệu cá nhân theo quy định của pháp luật;

c) Thực hiện biện pháp bảo vệ an ninh mạng, an ninh dữ liệu, bảo vệ dữ liệu cá nhân theo quy định của pháp luật;

d) Phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, xử lý hoạt động xâm phạm an ninh mạng, an ninh dữ liệu, dữ liệu cá nhân theo thẩm quyền;

đ) Điều phối, kiểm tra, hướng dẫn, huấn luyện, diễn tập, ứng cứu sự cố an ninh mạng, an ninh dữ liệu, bảo vệ dữ liệu cá nhân theo quy định của pháp luật;

e) Hợp tác quốc tế về an ninh mạng, an ninh dữ liệu, bảo vệ dữ liệu cá nhân theo quy định của pháp luật;

g) Nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật.

Về chính sách đãi ngộ, thu hút nhân tài đối với lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng, Chương III của Nghị định quy định như sau:

Nguyên tắc áp dụng chính sách đãi ngộ, thu hút nhân tài trong lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng

Chính sách đãi ngộ, thu hút nhân tài trong lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng được áp dụng đối với các đối tượng quy định tại Nghị định này, bao gồm:

a) Người đang thuộc lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng;

b) Người chưa thuộc lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng nhưng được xem xét tuyển dụng, tiếp nhận, bố trí, sử dụng hoặc ký hợp đồng để tham gia thực hiện nhiệm vụ trong lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng.

Việc áp dụng tiền lương, tiền công, thù lao, hỗ trợ tăng thêm, thu nhập và chính sách khác đối với từng đối tượng được thực hiện theo hình thức tuyển dụng, tiếp nhận, bố trí, sử dụng hoặc ký kết hợp đồng, bảo đảm không trùng lặp chế độ, chính sách và phù hợp với nguồn kinh phí hợp pháp.

Việc áp dụng chính sách phải bảo đảm các nguyên tắc sau đây:

a) Đúng đối tượng, đúng tiêu chí, tiêu chuẩn, điều kiện, đúng thẩm quyền và đúng quy định của pháp luật;

b) Phù hợp với vị trí việc làm, chức danh, chức vụ, tính chất nhiệm vụ, mức độ cống hiến, kết quả thực hiện nhiệm vụ và yêu cầu xây dựng, phát triển lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng;

c) Công khai, minh bạch, khách quan, công bằng, hiệu quả;

d) Gắn với yêu cầu bảo vệ bí mật nhà nước, bảo đảm an ninh mạng, an ninh dữ liệu, an ninh thông tin mạng và yêu cầu bảo vệ chính trị nội bộ.

Việc tiếp tục áp dụng, điều chỉnh, gia hạn, tạm dừng hoặc chấm dứt áp dụng chính sách được thực hiện trên cơ sở kết quả rà soát, đánh giá định kỳ hoặc khi có thay đổi về vị trí việc làm, nhiệm vụ được giao, tổ chức bộ máy, biên chế hoặc điều kiện áp dụng chính sách.

Không áp dụng hoặc chấm dứt áp dụng chính sách quy định tại Chương III đối với trường hợp không còn đáp ứng tiêu chí, tiêu chuẩn, điều kiện; vi phạm pháp luật; vi phạm quy định về bảo vệ bí mật nhà nước, bảo đảm an ninh mạng, an ninh dữ liệu, an ninh thông tin mạng; hoặc đang bị xem xét xử lý kỷ luật, đang chấp hành hình thức kỷ luật, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Chính sách tiền lương, tiền công, thù lao và hỗ trợ tăng thêm hằng tháng

Điều 16 của Nghị định nêu rõ: Người được tuyển chọn, tiếp nhận, bố trí, sử dụng, giao nhiệm vụ hoặc ký kết hợp đồng để thực hiện nhiệm vụ trong lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng được hưởng tiền lương, tiền công, thù lao, phụ cấp, hỗ trợ và chế độ khác theo quy định của pháp luật, phù hợp với hình thức sử dụng, vị trí việc làm, chức danh, chức vụ, tính chất nhiệm vụ và kết quả thực hiện nhiệm vụ.

Người thuộc biên chế lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng hoặc thuộc diện đãi ngộ, thu hút nhân tài, ngoài chế độ tiền lương, phụ cấp và chế độ khác theo quy định của pháp luật, được xem xét hưởng hỗ trợ tăng thêm hằng tháng theo một trong các mức sau đây (*):

a) Mức 1, tối đa bằng 100% mức lương theo hệ số lương hiện hưởng đối với trường hợp thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, nghiệp vụ trong lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng, có yêu cầu về trình độ, chuyên môn và kết quả công việc không thuộc diện quy định tại điểm b và điểm c khoản này;

b) Mức 2, tối đa bằng 200% mức lương theo hệ số lương hiện hưởng đối với người trực tiếp thực hiện những nhiệm vụ trong lĩnh vực tham mưu chiến lược về bảo vệ an ninh mạng hoặc dự án công nghệ chiến lược; trực tiếp thực hiện nhiệm vụ yêu cầu trình độ chuyên môn, nghiệp vụ chuyên sâu, tổ chức công tác huấn luyện, đào tạo bảo vệ an ninh mạng; trực tiếp đấu tranh phòng, chống hoạt động sử dụng không gian mạng xâm phạm an ninh quốc gia, phòng chống gián điệp mạng, khủng bố mạng, chiến tranh mạng, tội phạm mạng; xây dựng, triển khai quy trình nghiệp vụ quan trọng có yêu cầu bảo mật, kỹ thuật cao; nghiên cứu, phát triển, vận hành, bảo vệ hệ thống, nền tảng, công cụ, giải pháp công nghệ chiến lược phục vụ bảo vệ an ninh mạng, giám sát, phân tích, đánh giá, cảnh báo sớm các nguy cơ đe dọa an ninh mạng quốc gia; thực hiện nhiệm vụ có cường độ cao, trực sẵn sàng, xử lý khẩn cấp phục vụ bảo vệ an ninh mạng; tổ chức thực hiện nhiệm vụ bảo vệ hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia, bảo đảm an ninh dữ liệu, an ninh thông tin mạng; hoặc có sản phẩm đầu ra phục vụ trực tiếp công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành, tác chiến, bảo vệ an ninh mạng;

c) Mức 3, tối đa bằng 300% mức lương theo hệ số lương hiện hưởng đối với người trực tiếp nghiên cứu, phát triển, làm chủ ứng dụng công nghệ chiến lược, sản phẩm công nghệ chiến lược hoặc công nghệ mới có tác động trực tiếp đến an ninh quốc gia; trực tiếp nghiên cứu, phát triển sản phẩm, giải pháp công nghệ, mô hình, đề án, dự án chiến lược có giá trị đột phá đối với bảo vệ an ninh mạng; thực hiện nhiệm vụ có yêu cầu bảo mật đặc biệt, cường độ đặc biệt cao, tự chủ ứng dụng, xử lý tình huống khẩn cấp 24/7 hoặc nhiệm vụ có ảnh hưởng lớn đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội.

Trường hợp người được hưởng hỗ trợ tăng thêm hằng tháng không áp dụng chế độ tiền lương theo hệ số lương hoặc pháp luật về tiền lương thay đổi căn cứ tính lương, mức hỗ trợ được xác định theo căn cứ tương ứng phù hợp với quy định của pháp luật về tiền lương, ngân sách nhà nước.

Người không thuộc biên chế nhưng được bố trí, sử dụng, giao nhiệm vụ hoặc ký kết hợp đồng để thực hiện nhiệm vụ trong lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng được hưởng tiền công, thù lao, hỗ trợ chi phí trực tiếp, hợp lý, cần thiết và chế độ khác phù hợp với trình độ chuyên môn, tính chất nhiệm vụ, mức độ đóng góp, kết quả thực hiện nhiệm vụ, theo thỏa thuận, hợp đồng, quyết định giao nhiệm vụ hoặc quyết định của cơ quan có thẩm quyền.

Việc áp dụng chính sách quy định tại Điều này phải bảo đảm đúng đối tượng, đúng điều kiện, đúng thẩm quyền, phù hợp với vị trí việc làm, chức danh, chức vụ, tính chất nhiệm vụ, mức độ cống hiến và kết quả thực hiện nhiệm vụ; phù hợp với khả năng cân đối ngân sách nhà nước và nguồn kinh phí hợp pháp khác theo quy định của pháp luật.

Trường hợp một người đồng thời đáp ứng điều kiện hưởng nhiều mức hỗ trợ tăng thêm hằng tháng hoặc nhiều chính sách hỗ trợ, đãi ngộ có cùng tính chất, mục đích thì chỉ được hưởng một mức cao nhất, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Khoản hỗ trợ hằng tháng quy định tại (*) được trả cùng kỳ lương; không dùng làm căn cứ để tính đóng, hưởng chế độ bảo hiểm xã hội và được miễn thuế thu nhập cá nhân cùng các nghĩa vụ tài chính khác đối với Nhà nước.

Kinh phí thực hiện chính sách quy định tại Điều này được bảo đảm từ ngân sách nhà nước trong phạm vi dự toán được cấp có thẩm quyền giao và nguồn kinh phí hợp pháp khác theo quy định của pháp luật. Việc lập dự toán, phân bổ, quản lý, sử dụng, thanh toán, quyết toán kinh phí thực hiện theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước và pháp luật có liên quan.

Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính và cơ quan có liên quan quy định hoặc hướng dẫn tiêu chí xác định đối tượng, nhóm vị trí việc làm, mức hỗ trợ, thời gian hưởng, nguồn kinh phí, trình tự, thủ tục, thẩm quyền quyết định, cơ chế rà soát, kiểm tra, đánh giá, thanh toán và quyết toán việc thực hiện chính sách quy định tại Điều này.

Chính sách đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và phát triển

Nghị định quy định đối tượng thuộc diện đãi ngộ, thu hút nhân tài trong lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng được ưu tiên đào tạo, bồi dưỡng, cập nhật kiến thức, nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng nghiệp vụ, năng lực quản lý, chỉ huy, nghiên cứu, phát triển và hợp tác quốc tế phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ.

Căn cứ phẩm chất, năng lực, trình độ, kết quả thực hiện nhiệm vụ và yêu cầu xây dựng lực lượng, đối tượng thuộc diện đãi ngộ, thu hút nhân tài được xem xét bố trí, sử dụng vào vị trí việc làm phù hợp; được quy hoạch, bổ nhiệm, giao nhiệm vụ, giao đề án, giao nhiệm vụ trọng điểm, biệt phái, luân chuyển hoặc tạo điều kiện phát triển nghề nghiệp theo quy định của pháp luật.

Đối tượng có thành tích đặc biệt xuất sắc, năng lực nổi trội, có sản phẩm, công trình hoặc kết quả công tác có giá trị cao được ưu tiên xem xét đưa vào diện trọng dụng, giao nhiệm vụ quan trọng, chiến lược hoặc xem xét tiếp tục áp dụng cơ chế, chính sách phù hợp theo quy định của pháp luật.

Việc đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và phát triển phải bảo đảm đúng mục tiêu, đúng đối tượng, hiệu quả, thiết thực, gắn với yêu cầu nhiệm vụ, vị trí việc làm và định hướng xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao trong lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng.

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 19/8/2026.

Thông báo kết luận của Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc tại cuộc họp về thúc đẩy xuất khẩu, kiểm soát nhập siêu

Văn phòng Chính phủ có Thông báo số 443/TB-VPCP ngày 20/8/2026 kết luận của Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc tại cuộc họp về thúc đẩy xuất khẩu, kiểm soát nhập siêu.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 20/8/2026 (2)- Ảnh 2.

Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc chủ trì hội nghị rà soát các biện pháp thúc đẩy xuất khẩu, kiểm soát nhập siêu - Ảnh: chinhphu.vn/Phương Nguyên

Thông báo kết luận nêu rõ: Năm 2026, tình hình thế giới và khu vực tiếp tục diễn biến nhanh, phức tạp, khó lường; cạnh tranh chiến lược, xung đột địa chính trị, chính sách thương mại, thuế quan của Hoa Kỳ và một số nền kinh tế lớn có nhiều điều chỉnh; giá năng lượng và chi phí logistics tiếp tục tác động trực tiếp đến tăng trưởng và thương mại toàn cầu.

Trong bối cảnh đó, hoạt động xuất khẩu của nước ta tiếp tục đạt kết quả tích cực. Tính đến hết tháng 7 năm 2026, kim ngạch xuất khẩu đạt 319,7 tỷ USD, tăng 21,7% so với cùng kỳ, cao hơn mục tiêu cả năm 15-16% và thuộc nhóm tăng trưởng tốt trong nhiều năm trở lại đây. Tuy nhiên, cán cân thương mại hàng hóa ghi nhận nhập siêu khoảng 20,3 tỷ USD.

Theo đánh giá của các Bộ, ngành, địa phương, Hiệp hội, nhập siêu chủ yếu tập trung ở nhóm máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện; nhóm năng lượng như xăng dầu, than; hóa chất, chất dẻo nguyên liệu và kim loại thường khác. Trong đó, phần lớn nhập khẩu máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện là nguyên liệu, linh kiện trung gian phục vụ sản xuất, kinh doanh và mở rộng đầu tư.

Đối với nhóm năng lượng, sản lượng khai thác dầu khí, than trong nước có xu hướng giảm trong khi nhu cầu tiêu thụ tiếp tục tăng, dẫn đến việc phải nhập khẩu một số loại nhiên liệu, nguyên liệu năng lượng để bảo đảm cân đối cung - cầu, duy trì sản xuất và bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia. Diễn biến xung đột tại Trung Đông, đứt gãy nguồn cung cũng làm gia tăng áp lực nhập khẩu.

Đối với nhóm hóa chất, chất dẻo nguyên liệu, kim loại thường và một số nguyên liệu khác, nhập siêu cho thấy những hạn chế mang tính cơ cấu, nhất là tỷ lệ nội địa hóa còn thấp, công nghiệp hỗ trợ chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu nguyên liệu phục vụ sản xuất và tiêu dùng trong nước.

Phát triển hệ sinh thái hỗ trợ doanh nghiệp vươn ra thị trường quốc tế; đẩy nhanh tiến độ đàm phán các Hiệp định Thương mại

Để triển khai kịp thời, đồng bộ, hiệu quả các giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu, đồng thời kiểm soát nhập siêu trong thời gian tới nhằm mục tiêu phát triển thương mại cân bằng, bền vững, đóng góp vào tăng trưởng "hai con số" của cả nước, bên cạnh các nhiệm vụ, giải pháp đã giao tại Hội nghị về thúc đẩy xuất khẩu đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số vào tháng 6/2026, Phó Thủ tướng Thường trực đề nghị các Bộ, ngành, địa phương, Hiệp hội ngành hàng tập trung triển khai ngay một số nhiệm vụ sau:

Bộ Công Thương phát triển hệ sinh thái hỗ trợ doanh nghiệp vươn ra thị trường quốc tế, tiếp cận trực tiếp các hệ thống phân phối hiện đại, chuỗi bán lẻ quốc tế: triển khai hiệu quả Chương trình vươn ra thị trường quốc tế giai đoạn 2026-2030.

Khởi động và đẩy nhanh tiến độ đàm phán các Hiệp định Thương mại ưu đãi, Hiệp định Thương mại tự do với các đối tác mới để mở cửa thị trường mới cho hàng hoá Việt Nam, trước mắt trong Quý III là khởi động đàm phán với Khối thị trường chung Nam Mỹ (MERCOSUR).

Đồng thời, tăng tốc xúc tiến thương mại, tận dụng ngay các đơn hàng xuất khẩu, đặc biệt với các mặt hàng đang có nhu cầu cao như điện tử, máy móc, nông thủy sản; triển khai các chương trình xúc tiến vào thị trường xuất khẩu mới, nhất là thị trường Halal, Mỹ La-tinh, Châu Phi....

Làm việc với các Công ty có chênh lệch lớn về kim ngạch nhập khẩu – xuất khẩu trong ngành hàng máy vi tính, linh kiện điện tử, làm rõ về lý do nhập khẩu, tiến độ và thúc đẩy sớm sản xuất, xuất khẩu sản phẩm.

Bộ Công thương chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan rà soát, xác định cụ thể một số hàng hóa công nghiệp đã có năng lực sản xuất trong nước để đề nghị Bộ Tài chính xem xét điều chỉnh tăng mức thuế nhập khẩu ưu đãi.

Bên cạnh đó, rà soát, sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp lý phù hợp với chủ trương, chính sách của Nhà nước về phòng chống gian lận xuất xứ, chuyển tải bất hợp pháp; phối hợp chặt chẽ, hỗ trợ kịp thời cho Sở Công Thương các địa phương trong việc cấp Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa.

Ngoài ra, phối hợp với Hiệp hội doanh nghiệp điện tử Việt Nam để sớm tổ chức cuộc làm việc của Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ với Hiệp hội và các doanh nghiệp xuất nhập khẩu lớn ngành điện tử bán dẫn có kim ngạch xuất nhập khẩu lớn tại Việt Nam.

Rà soát quy trình hoàn thuế giá trị gia tăng; đẩy nhanh tiến độ xử lý hồ sơ mã số vùng trồng

Bộ Tài chính rà soát quy trình hoàn thuế giá trị gia tăng đối với hàng hóa xuất khẩu theo hướng tăng cường phân loại rủi ro, đẩy nhanh xử lý hồ sơ của doanh nghiệp chấp hành tốt pháp luật; hướng dẫn, phổ biến các nhóm vướng mắc về hoàn thuế để doanh nghiệp biết và thực hiện, giảm chi phí về thời gian.

Đồng thời, chủ trì triển khai các biện pháp kiểm tra, kiểm soát trị giá và giao dịch liên kết của doanh nghiệp điện tử nhập khẩu phần lớn linh kiện từ công ty mẹ hoặc công ty cùng tập đoàn, tránh hiện tượng chuyển giá.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì đàm phán, ký kết các Nghị định thư mở cửa thêm các loại nông sản, trái cây của Việt Nam xuất khẩu sang các nước; triển khai đồng bộ nhiệm vụ chống khai thác thuỷ sản bất hợp pháp, không báo cáo, không theo quy định (IUU), đàm phán gỡ bỏ thẻ vàng IUU.

Đẩy nhanh tiến độ xử lý hồ sơ mã số vùng trồng, vùng nuôi, cơ sở đóng gói, cơ sở chế biến phục vụ xuất khẩu.

Bên cạnh đó, phối hợp với Bộ Công Thương rà soát, xác định cụ thể một số hàng hóa đã có năng lực sản xuất trong nước để đề nghị Bộ Tài chính xem xét điều chỉnh tăng mức thuế nhập khẩu ưu đãi.

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có giải pháp để đảm bảo doanh nghiệp xuất khẩu có thể tiếp cận tín dụng cho hoạt động xuất khẩu, ưu tiên tập trung đủ vốn tín dụng phục vụ hoạt động thu mua, tiêu thụ, xuất khẩu nông sản những tháng cuối năm.

Bộ Ngoại giao chỉ đạo các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài tăng cường ngoại giao kinh tế để thúc đẩy xuất khẩu; huy động mạng lưới cơ quan đại diện, cộng đồng người Việt Nam và doanh nhân Việt Nam ở nước ngoài hỗ trợ kết nối doanh nghiệp xuất khẩu trong nước với nhà nhập khẩu, hệ thống phân phối, chuỗi bán lẻ, nhà đầu tư và đối tác sở tại.

Đơn giản hóa thủ tục, hạn chế tình trạng chồng chéo trong thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp

Bộ Xây dựng chủ trì, phối hợp với địa phương, doanh nghiệp cảng, hãng vận tải và cơ quan hải quan tổ chức điều tiết giao thông, bố trí luồng ưu tiên trong các giai đoạn cao điểm xuất khẩu tại các cảng và cửa ngõ logistics lớn, thúc đẩy phát triển công nghiệp vận tải Việt Nam.

Các Bộ, ngành nghiên cứu áp dụng phương thức quản lý rủi ro; tiếp tục rà soát, đơn giản hóa các thủ tục và hạn chế tình trạng chồng chéo trong thanh tra, kiểm tra đối với doanh nghiệp; tăng cường liên thông dữ liệu giữa các cơ quan quản lý nhà nước; đẩy mạnh cung cấp dịch vụ công trực tuyến; xử lý kịp thời mọi khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện thủ tục hành chính.

Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố có các dự án, nhà máy được tăng vốn đầu tư trong các lĩnh vực công nghệ cao và gia tăng nhập khẩu mặt hàng máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện, tiến hành làm việc với các nhà máy để thúc đẩy tiến độ sản xuất, xuất khẩu sau khi đã tăng nhập khẩu nguyên vật liệu, linh kiện.

Đồng thời, theo dõi thường xuyên tình hình sản xuất, đơn hàng và xuất khẩu của các doanh nghiệp chủ lực trên địa bàn; đôn đốc tiến độ đưa các dự án, nhà máy, các nguyên liệu đã nhập khẩu vào sản xuất, xuất khẩu; kịp thời phát hiện khó khăn về thị trường, lao động, logistics, quy định của thị trường nhập khẩu,… để xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cấp có thẩm quyền giải quyết.

Bên cạnh đó, tổ chức rà soát theo từng ngành hàng các yêu cầu mà doanh nghiệp trên địa bàn còn chưa đáp ứng theo yêu cầu của thị trường nhập khẩu; tập trung hỗ trợ vào các lĩnh vực như kiểm nghiệm, chứng nhận, truy xuất nguồn gốc, quản lý chất lượng và hồ sơ kỹ thuật.

Cập nhật thường xuyên, cung cấp cho doanh nghiệp trên địa bàn thông tin biến động thị trường toàn cầu, các hàng rào kỹ thuật và cơ hội tận dụng các FTA.

Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam tiếp tục phát huy vai trò đầu mối tổng hợp, nắm bắt các phản ánh kiến nghị, khó khăn, vướng mắc của các hiệp hội, các doanh nghiệp; định kỳ hằng tháng hoặc đột xuất tổng hợp, gửi các Bộ, ngành, địa phương liên quan các vấn đề còn vướng mắc để xem xét, xử lý kịp thời.

Về các kiến nghị của các Hiệp hội ngành hàng, Phó Thủ tướng Thường trực yêu cầu các Bộ, ngành, địa phương theo chức năng, nhiệm vụ được giao khẩn trương giải quyết dứt điểm các vấn đề thuộc thẩm quyền; bảo đảm việc trả lời kiến nghị phải rõ ràng, thực chất, xử lý dứt điểm các khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp và có văn bản trả lời các Hiệp hội trong tháng 8/2026; trường hợp có vấn đề vướng mắc, vượt thẩm quyền báo cáo cấp có thẩm quyền theo quy định./.