Phó Thủ tướng Lê Thành Long ký Quyết định số 157/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch đẩy mạnh công tác truyền thông thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.

Đẩy mạnh truyền thông để tạo đột phá phát triển giáo dục và đào tạo
Mục tiêu chung của Kế hoạch là đẩy mạnh truyền thông thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW nhằm nâng cao nhận thức, tạo sự thống nhất trong toàn hệ thống chính trị và xã hội về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo; khẳng định phát triển giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và toàn dân; đặt giáo dục và đào tạo trong tư duy quản trị quốc gia, gắn với định hướng, quy hoạch, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội; tạo đồng thuận, niềm tin và thúc đẩy đổi mới tư duy, đổi mới phương thức quản lý, phương thức hành động ở tất cả các cấp, các ngành và từng cơ sở giáo dục.
Công tác truyền thông phải chủ động, kịp thời, sáng tạo, hiệu quả, đúng trọng tâm, trọng điểm, phù hợp từng nhóm đối tượng; cung cấp đầy đủ thông tin về chủ trương, chính sách, kết quả và thành tựu phát triển giáo dục và đào tạo; tôn vinh các mô hình, tập thể, cá nhân tiêu biểu; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ hiện đại, đa dạng hóa phương thức truyền thông; phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành, địa phương và cơ quan báo chí về thông tin, truyền thông kết quả thực hiện Nghị quyết và công cuộc đổi mới, đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.
Kế hoạch phấn đấu giai đoạn 2026-2030, tất cả các bộ, cơ quan, địa phương triển khai công tác truyền thông thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW hoặc lồng ghép với các kế hoạch truyền thông phù hợp của bộ, cơ quan, đơn vị; thiết lập và duy trì chuyên mục truyền thông hoặc lồng ghép vào các chuyên mục phù hợp trên Cổng thông tin điện tử, báo, tạp chí hoặc nền tảng số của từng bộ, cơ quan, đơn vị, địa phương và cơ sở giáo dục.
100% cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập và cơ sở giáo dục được phổ biến, quán triệt đầy đủ nội dung Nghị quyết số 71-NQ/TW.
100% cơ quan báo chí chủ lực xây dựng chuyên trang, chuyên mục, tuyến nội dung và sản phẩm truyền thông đa nền tảng để tuyên truyền thực hiện Nghị quyết 71-NQ/TW; ưu tiên đầu tư nguồn lực cho các kênh, ấn phẩm hoặc nền tảng truyền thông dành cho giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục, học sinh, sinh viên, học viên.
Tối thiểu 70% cán bộ làm công tác truyền thông tại các cơ quan quản lý giáo dục và các cơ sở giáo dục được đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên, có năng lực truyền thông chuyên nghiệp và kỹ năng truyền thông trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo.
Duy trì, đổi mới và mở rộng các giải thưởng báo chí về giáo dục và đào tạo; tổ chức hoạt động tôn vinh, khen thưởng hằng năm nhằm lan tỏa mô hình hay, cách làm hiệu quả trong thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW.
Giai đoạn 2030-2035 phấn đấu 100% cán bộ làm công tác truyền thông tại các cơ quan quản lý giáo dục và các cơ sở giáo dục được đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên, có năng lực truyền thông chuyên nghiệp và kỹ năng truyền thông giáo dục và đào tạo.
Tất cả kết quả thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp trong Nghị quyết số 71-NQ/TW được thông tin đầy đủ, kịp thời, chính xác thông qua hệ thống thông tin cơ sở, báo chí, truyền thông xã hội, nền tảng số và các phương thức phù hợp khác.
Để đạt được các mục tiêu trên, Kế hoạch đưa ra 4 nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm sau:
1- Đẩy mạnh truyền thông, phổ biến, nâng cao nhận thức về phát triển giáo dục và đào tạo trên các phương tiện thông tin đại chúng, hệ thống thông tin cơ sở, báo chí đối ngoại, nền tảng số và các phương thức khác
Trong đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo xây dựng chương trình đào tạo, bồi dưỡng, tài liệu về kỹ năng truyền thông giáo dục; tổ chức tập huấn, cung cấp thông tin định kỳ cho cán bộ quản lý, phóng viên các cơ quan báo chí, cán bộ truyền thông các bộ, ngành, địa phương và cơ sở giáo dục; biên soạn, phát hành tài liệu truyền thông; sản xuất các sản phẩm truyền thông số trực quan, dễ tiếp cận; hướng dẫn sử dụng thống nhất trong toàn ngành Giáo dục; xây dựng nền tảng truyền thông số, kho dữ liệu truyền thông; ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số, trí tuệ nhân tạo trong cung cấp thông tin và tương tác với xã hội; xây dựng, ban hành Bộ tiêu chí đánh giá công tác truyền thông giáo dục...
Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ cung cấp thông tin và truyền thông đầy đủ, kịp thời trên các chuyên mục phù hợp tại Cổng thông tin điện tử, báo, tạp chí và các nền tảng số của bộ, cơ quan truyền thông về Nghị quyết số 71-NQ/TW; phối hợp Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức hội nghị, hội thảo, tọa đàm lan tỏa nội dung Nghị quyết số 71-NQ/TW và truyền thông các chính sách liên quan đến giáo dục và đào tạo; đầu tư, nâng cấp hạ tầng kỹ thuật phục vụ truyền thông; phát triển các sản phẩm truyền thông hiện đại, đa nền tảng về triển khai Nghị quyết số 71-NQ/TW.
Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ban hành và triển khai kế hoạch truyền thông về giáo dục và đào tạo; lồng ghép vào chương trình, kế hoạch phát triển giáo dục và đào tạo hằng năm; chỉ đạo báo chí địa phương, hệ thống thông tin cơ sở xây dựng chuyên mục truyền thông về thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW, đa dạng hóa hình thức truyền thông thông qua các kênh đa phương tiện trên các nền tảng số, hệ thống các kênh, trang mạng xã hội; tôn vinh mô hình, điển hình tiên tiến trong thực hiện Nghị quyết; tổ chức đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng truyền thông cho cán bộ làm công tác truyền thông tại cơ quan quản lý giáo dục, cơ sở giáo dục thuộc thẩm quyền quản lý...
2- Tăng cường truyền thông nâng cao nhận thức, trách nhiệm phát triển giáo dục và đào tạo trong ngành Giáo dục
Bộ Giáo dục và Đào tạo thiết lập, vận hành mạng lưới truyền thông nội bộ ngành Giáo dục; tổ chức tập huấn, bồi dưỡng kỹ năng truyền thông, đặc biệt là truyền thông số; cung cấp thông tin định kỳ cho cán bộ truyền thông tại các cơ quan quản lý giáo dục, cơ sở giáo dục; đổi mới hình thức tập huấn, cung cấp thông tin qua nền tảng số.
Tổ chức phổ biến nội dung cốt lõi và nhiệm vụ trọng tâm của Nghị quyết số 71-NQ/TW đến nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục và người học thông qua các hình thức đa dạng, hấp dẫn, hiệu quả như sinh hoạt chuyên đề, hội nghị, tập huấn; huy động chuyên gia, nhà khoa học, nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục, người học tham gia truyền thông chính sách về giáo dục và đào tạo.
Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chỉ đạo sở giáo dục và đào tạo thực hiện truyền thông trong ngành; phổ biến Nghị quyết số 71-NQ/TW đến các cơ quan quản lý giáo dục và cơ sở giáo dục...
3- Tăng cường truyền thông nâng cao nhận thức, trách nhiệm phát triển giáo dục và đào tạo trong toàn xã hội
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xây dựng, phát triển các chương trình, chuyên đề truyền thông nâng cao nhận thức của xã hội về vai trò của giáo dục, thành tựu của giáo dục, trách nhiệm của toàn xã hội đóng góp vào sự phát triển giáo dục và đào tạo; lan tỏa giá trị văn hóa hiếu học, truyền thống tôn sư trọng đạo.
Bộ Giáo dục và Đào tạo khai thác hiệu quả nền tảng số để người dân tiếp cận thông tin định hướng về giáo dục; vận hành các kênh truyền thông kết nối xã hội; cung cấp thông tin, đối thoại, phản hồi chính sách với người dân.
Bộ Ngoại giao phối hợp thông tin, tuyên truyền đối ngoại về các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về giáo dục và đào tạo, thành tựu giáo dục và đào tạo của Việt Nam; đẩy mạnh lan tỏa thông tin về thành tựu đổi mới trong giáo dục của Việt Nam; chỉ đạo các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài phối hợp lồng ghép tuyên truyền về chủ trương, chính sách và thành tựu giáo dục của Việt Nam tới bạn bè quốc tế, sở tại và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài; hỗ trợ thúc đẩy hợp tác quốc tế về giáo dục, đào tạo.
Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chủ động truyền thông về các nội dung giáo dục liên quan đến lĩnh vực, phạm vi quản lý; phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch lan tỏa mô hình, kết quả đổi mới giáo dục; phối hợp Bộ Ngoại giao tăng cường thông tin đối ngoại về giáo dục và đào tạo...
4- Tăng cường kiểm tra, giám sát, đánh giá và phối hợp thực hiện
Bộ Giáo dục và Đào tạo theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện kế hoạch của các bộ, ngành và địa phương; định kỳ báo cáo Thủ tướng Chính phủ; đánh giá hiệu quả truyền thông theo Bộ tiêu chí đã ban hành; tổ chức sơ kết hằng năm và tổng kết giai đoạn.
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch kiểm tra, giám sát hoạt động truyền thông thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW trên các phương tiện thông tin đại chúng, hệ thống thông tin cơ sở, thông tin đối ngoại, truyền thông xã hội; xử lý thông tin sai lệch theo thẩm quyền.
Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chủ động phối hợp, chia sẻ dữ liệu và kinh nghiệm truyền thông; bảo đảm đồng bộ, thống nhất trên toàn quốc...
Phó Thủ tướng Chính phủ Bùi Thanh Sơn ký Quyết định số 155/QĐ-TTg ngày 20/01/2026 phê duyệt Chương trình hành động thực hiện Kế hoạch chiến lược Cộng đồng Văn hoá - Xã hội ASEAN tại Việt Nam giai đoạn 2026-2035 (Chương trình hành động).

Xây dựng Cộng đồng ASEAN hội nhập, tự cường, bền vững, lấy người dân làm trung tâm.
Mục tiêu chung của Chương trình hành động nhằm triển khai thành công Kế hoạch chiến lược Cộng đồng Văn hóa - Xã hội (VHXH) ASEAN tại Việt Nam trong giai đoạn 2026-2035, góp phần xây dựng một Cộng đồng ASEAN hội nhập, tự lực, tự cường, bền vững và lấy người dân làm trung tâm vào năm 2045.
Đến năm 2035, hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược của Kế hoạch chiến lược Cộng đồng VHXH ASEAN, đồng thời lồng ghép các lợi ích và mục tiêu phát triển quốc gia để tạo ra giá trị gia tăng cho khu vực và đất nước.
Đảm bảo trên 90% cán bộ, công chức, viên chức có hiểu biết cơ bản về Cộng đồng VHXH ASEAN và các lợi ích mang lại, thúc đẩy mạnh mẽ ý thức về Bản sắc ASEAN trong thế hệ trẻ và cộng đồng.
Tăng cường năng lực cho các cán bộ chủ chốt ở cấp Trung ương và địa phương, đặc biệt về chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo, quản lý tri thức trong các lĩnh vực văn hoá - xã hội, đáp ứng yêu cầu hội nhập sâu rộng hơn trong bối cảnh mới.
Tăng cường huy động nguồn lực và điều phối, hợp tác liên ngành, liên trụ cột và vai trò chủ động và dẫn dắt của Việt Nam trong các cơ chế hợp tác chuyên ngành, liên ngành văn hóa - xã hội của ASEAN.
Căn cứ vào Kế hoạch chiến lược Cộng đồng VHXH ASEAN, Chương trình hành động xác định việc triển khai thực hiện 12 mục tiêu chiến lược, như sau:
1. Xây dựng một Cộng đồng lấy người dân làm trung tâm, hướng tới người dân và có sự kết nối chặt chẽ, với sự di chuyển thông suốt của người dân, hàng hóa và dịch vụ, cùng chia sẻ quyền sở hữu và bản sắc ASEAN.
2. Đảm bảo phát huy đầy đủ tiềm năng và cải thiện chất lượng cuộc sống cho người dân, khuyến khích sự tham gia tích cực, bao trùm, bền vững, và thúc đẩy sự gắn kết xã hội, qua đó đảm bảo sự thịnh vượng chung, đặc biệt đối với các nhóm dễ bị tổn thương, và không để ai bị bỏ lại phía sau.
3. Tối ưu hóa lợi thế dân số để giúp ASEAN trở thành trung tâm tăng trưởng và đổi mới thông qua thúc đẩy giáo dục bao trùm, toàn diện và chuyển đổi trong môi trường học tập thuận lợi, nhằm phát triển một lực lượng lao động có tay nghề cao và cạnh tranh, đồng thời tạo ra các việc làm thỏa đáng và chất lượng cao.
4. Xây dựng Cộng đồng ASEAN khỏe mạnh với tuổi thọ cao hơn, đảm bảo phúc lợi cho mọi lứa tuổi, tránh các bệnh truyền nhiễm và không truyền nhiễm, hướng tới bảo hiểm y tế toàn dân và khả năng tiếp cận hệ thống y tế bền vững và linh hoạt.
5. Tạo môi trường thuận lợi để người dân đóng vai trò tích cực trong mọi khía cạnh của cuộc sống thông qua việc thúc đẩy an ninh con người, tăng cường khả năng chống chịu của người dân thông qua phát triển mối quan hệ đối tác công-tư phù hợp với chương trình nghị sự về phát triển bền vững của ASEAN.
6. Tạo dựng một Cộng đồng có bản sắc chung của ASEAN có khả năng thích ứng và đáp ứng các nhu cầu ngày càng tăng của quốc gia cũng như các vấn đề khu vực và toàn cầu có liên quan.
7. Tăng cường quyền năng của phụ nữ để tham gia đầy đủ và hiệu quả vào tiến trình xây dựng Cộng đồng ASEAN và phát huy hết tiềm năng của phụ nữ trong quá trình ra quyết định.
8. Thúc đẩy sự đóng góp có ý nghĩa của thanh niên vào việc củng cố một Cộng đồng ASEAN năng động, sáng tạo và kiên cường, cũng như giải quyết các thách thức đang nổi lên, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội bền vững, và củng cố nhận thức, giá trị và bản sắc ASEAN.
9. Nuôi dưỡng niềm tự hào về bản sắc Cộng đồng và nâng cao trách nhiệm bảo tồn, gìn giữ và phát huy giá trị di sản văn hóa, nghệ thuật và truyền thống, đồng thời thúc đẩy các ngành công nghiệp văn hóa.
10. Phát triển thể thao, góp phần xây dựng ASEAN thành một trung tâm thể thao xuất sắc nhằm thúc đẩy hòa bình, hòa nhập, y tế, giáo dục và phát triển kinh tế xã hội.
11. Tăng cường quyền năng, sự linh hoạt và tự cường để ứng phó với các cuộc khủng hoảng trong tương lai và những thách thức dài hạn; tiếp tục thu hẹp khoảng cách phát triển thông qua các sáng kiến phù hợp và thúc đẩy sự tiếp cận công bằng, bao trùm và khả năng tham gia vào các cơ hội kinh tế.
12. Xây dựng một ASEAN xanh trên cơ sở thúc đẩy tăng trưởng bền vững trên đất liền và trên biển thông qua đẩy mạnh nền kinh tế xanh, kinh tế biển trong khu vực, đồng thời củng cố vị thế của ASEAN trong việc thúc đẩy sự bền vững và ứng phó với biến đổi khí hậu.
Để đạt được các mục tiêu nêu trên, Chương trình hành động đưa ra 05 giải pháp cụ thể như sau: Rà soát, lồng ghép và tổ chức thực hiện các nội dung của Kế hoạch chiến lược Cộng đồng VHXH ASEAN trong kế hoạch, chính sách, chương trình của bộ, ngành và tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; tuyên truyền, vận động nâng cao nhận thức về Cộng đồng VHXH ASEAN và Chương trình hành động; tăng cường hệ thống thông tin, báo cáo, đánh giá tình hình và kết quả thực hiện các mục tiêu; thúc đẩy vận động, thu hút nguồn lực; hoàn thiện hệ thống tổ chức và nâng cao năng lực cán bộ phù hợp với chức năng nhiệm vụ để thực hiện Chương trình hành động.
Các bộ, ngành là các cơ quan trực tiếp tham gia hợp tác ASEAN thuộc trụ cột Cộng đồng VHXH ASEAN tại Việt Nam bao gồm: Bộ Nội vụ; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Bộ Giáo dục và Đào tạo; Bộ Nông nghiệp và Môi trường; Bộ Y tế; Đại học Quốc gia Hà Nội; và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xây dựng và triển khai Kế hoạch hành động thực hiện Chương trình hành động theo lĩnh vực phụ trách, hoàn thành vào tháng 6/2026; định kỳ báo cáo kết quả thực hiện về Bộ Nội vụ trước ngày 01/12 hàng năm để tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ.
Đồng thời, chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính bố trí kinh phí thực hiện Chương trình hành động trong dự toán ngân sách hàng năm và thực hiện theo quy định của Luật Ngân sách Nhà nước năm 2025 và các quy định pháp luật có liên quan.
Phối hợp thực hiện các nhiệm vụ có liên quan thuộc các chương trình, kế hoạch của Chương trình hành động đã được phê duyệt trong giai đoạn 2026 - 2030 và 2031 - 2035; đánh giá giữa kỳ việc thực hiện Chương trình hành động vào năm 2030 và đánh giá cuối kỳ việc thực hiện Chương trình hành động vào năm 2035.
Tạo điều kiện, khuyến khích các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội nghề nghiệp và các đối tác khác tham gia vào quá trình xây dựng, triển khai thực hiện, giám sát, đánh giá việc thực hiện Chương trình hành động trên cơ sở phù hợp chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn theo quy định.

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính ký Quyết định số 158/QĐ-TTg ngày 21/1/2026 ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật Tình trạng khẩn cấp. Luật Tình trạng khẩn cấp số 104/2025/QH15 được Quốc hội khóa XV thông qua ngày 03/12/2025 tại Kỳ họp thứ 10, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026. Để triển khai thi hành Luật Tình trạng khẩn cấp kịp thời, thống nhất, đồng bộ, hiệu quả, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật này.
Mục tiêu của Kế hoạch nhằm xác định cụ thể nội dung công việc, tiến độ hoàn thành và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức có liên quan trong triển khai thi hành Luật Tình trạng khẩn cấp, bảo đảm kịp thời, đồng bộ, thống nhất, hiệu lực, hiệu quả.
Xác định trách nhiệm, cơ chế phối hợp giữa các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các địa phương trong việc triển khai thi hành Luật Tình trạng khẩn cấp trên phạm vi cả nước; đồng thời, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp, các ngành và cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan về quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm trong thi hành Luật Tình trạng khẩn cấp.
1- Rà soát các văn bản dưới luật liên quan đến tình trạng khẩn cấp để đề xuất sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ, ban hành mới văn bản phù hợp với Luật Tình trạng khẩn cấp.
Các bộ, cơ quan ngang bộ tổ chức rà soát văn bản quy phạm pháp luật do mình ban hành hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành.
Ủy ban nhân dân các cấp rà soát hệ thống văn bản do mình ban hành; ban hành các văn bản theo thẩm quyền hoặc đề xuất Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ sửa đổi, bổ sung, ban hành các văn bản thuộc thẩm quyền của Chính phủ.
Thời gian hoàn thành là tháng 07/2026.
2- Xây dựng các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật.
Bộ Quốc phòng chủ trì xây dựng Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Tình trạng khẩn cấp; Quyết định của Thủ tướng Chính phủ quy định việc tiếp nhận, điều phối nguồn lực cứu trợ, hỗ trợ từ nước ngoài và việc đưa lực lượng, phương tiện của Việt Nam ra nước ngoài tham gia hoạt động ứng phó, khắc phục hậu quả, hỗ trợ nhân đạo, cứu trợ thảm họa; Quyết định của Thủ tướng Chính phủ ban hành danh mục trang thiết bị bảo đảm cho huấn luyện, diễn tập, ứng phó, khắc phục hậu quả trong tình trạng khẩn cấp...
3- Biên soạn tài liệu, tổ chức quán triệt, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục, tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ về nội dung Luật.
Các bộ, ngành liên quan và các địa phương biên soạn tài liệu phục vụ công tác quán triệt, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục, tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ; tổ chức hội nghị, tọa đàm trực tiếp hoặc trực tuyến đối với các cơ quan trung ương và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố; tổ chức hội nghị, tọa đàm trực tiếp hoặc trực tuyến tại các địa phương; tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng...
4- Tiếp nhận và xử lý đề nghị, kiến nghị đối với văn bản quy phạm pháp luật về tình trạng khẩn cấp.
5- Tổ chức kiểm tra việc thi hành và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật Tình trạng khẩn cấp.
Bộ Quốc phòng có trách nhiệm tổng hợp, theo dõi, hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và địa phương triển khai thực hiện nhiệm vụ trên.
Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính vừa ký Công văn số 84/TTg-TCCV ngày 21/1/2026 yêu cầu các bộ, ngành, địa phương tiếp tục hoàn thiện, nâng cao hiệu lực, hiệu quả vận hành mô hình chính quyền địa phương 02 cấp.

Tiếp tục hoàn thiện, nâng cao hiệu quả vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp
Công văn nêu: Thực hiện Kết luận số 228-KL/TW ngày 31/12/2025 của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về tình hình, kết quả hoạt động của bộ máy hệ thống chính trị và chính quyền địa phương 02 cấp; xét đề nghị của Bộ Nội vụ tại Báo cáo số 153/BC-BNV ngày 9/1/2026, để tiếp tục hoàn thiện, nâng cao hiệu lực, hiệu quả vận hành mô hình chính quyền địa phương 02 cấp, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành và địa phương tập trung thực hiện nghiêm túc các nhiệm vụ sau:
1- Đối với các bộ, ngành trung ương
Tiếp tục quán triệt và triển khai các Kết luận của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư; khẩn trương rà soát toàn bộ hệ thống văn bản quy phạm pháp luật theo ngành, lĩnh vực quản lý, kịp thời sửa đổi, bổ sung, ban hành mới hoặc bãi bỏ các quy định không còn phù hợp với mô hình chính quyền địa phương 02 cấp, tập trung vào các lĩnh vực tài chính – ngân sách, đất đai, quy hoạch, tổ chức bộ máy, cán bộ, cải cách hành chính, chuyển đổi số, khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo. Thực hiện nghiêm phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.
Trong đó, tập trung thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm sau:
- Bộ Nội vụ khẩn trương rà soát, đề xuất sửa đổi, bổ sung các quy định liên quan đến lao động, việc làm bảo đảm phù hợp với quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương, giúp địa phương có cơ sở thực hiện việc ủy quyền cho Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện tốt công tác quản lý, phù hợp với mô hình chính quyền địa phương 2 cấp; khẩn trương tham mưu, trình cấp có thẩm quyền sửa đổi Nghị định số 126/2024/NĐ-CP ngày 08 tháng 10 năm 2024 của Chính phủ quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội và sửa đổi Quyết định số 30/2011/QĐ-TTg ngày 01 tháng 6 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ về chế độ thù lao đối với người đã nghỉ hưu giữ chức danh lãnh đạo chuyên trách tại các hội sau khi có chủ trương của Bộ Chính trị.
- Bộ Tài chính tiếp tục tăng cường kiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn các địa phương thực hiện bố trí, sắp xếp, xử lý trụ sở, tài sản công sau khi sắp xếp tổ chức bộ máy, sắp xếp đơn vị hành chính, bảo đảm theo đúng chỉ đạo của các cấp có thẩm quyền và quy định pháp luật; công khai thông tin tiến độ sắp xếp, xử lý trụ sở, tài sản công của từng địa phương trên Cổng Thông tin điện tử của Bộ Tài chính và các phương tiện thông tin đại chúng. Bám sát chủ trương, chỉ đạo của Bộ Chính trị tại Kết luận số 202-KL/TW ngày 31 tháng 10 năm 2025, tiếp tục hướng dẫn việc thực hiện điều chuyển, chuyển đổi công năng các cơ sở nhà, đất để sử dụng làm trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp, cơ sở y tế, giáo dục, văn hóa, thể thao, các mục đích công cộng, quốc phòng, an ninh và các mục đính khác phù hợp với quy hoạch sử dụng đất của địa phương và quy hoạch có liên quan (thông qua giao đất, cho thuê đất,... theo quy định của pháp luật về đất đai).
- Bộ Nông nghiệp và Môi trường thường xuyên rà soát, khắc phục các lỗi của Hệ thống thông tin do bộ quản lý (công bố thông tin thức ăn chăn nuôi,...), bảo đảm phù hợp với mô hình chính quyền địa phương 02 cấp. Hướng dẫn, đơn giản hóa quy trình, hồ sơ, biểu mẫu thủ tục đất đai tại cấp xã; chỉ đạo triển khai cơ sở dữ liệu ngành nông nghiệp và danh mục dữ liệu mở đến cấp xã.
- Bộ Công an, Bộ Khoa học và Công nghệ phối hợp với các bộ, ngành liên quan triển khai đồng bộ hạ tầng số, cơ sở dữ liệu dùng chung, bảo đảm liên thông, phục vụ hiệu quả người dân và doanh nghiệp.
- Bộ Tư pháp tham mưu giúp Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ để đôn đốc hoàn thành các mục tiêu cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính điều kiện kinh doanh; cung cấp dịch vụ công trực tuyến và thực hiện thủ tục hành chính không phụ thuộc vào địa giới hành chính trong phạm vi cấp tỉnh.
2- Đối với Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
- Tổ chức quán triệt và triển khai nghiêm Kết luận số 228-KL/TW và các chỉ đạo của Trung ương, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về vận hành mô hình chính quyền địa phương 02 cấp.
- Khẩn trương đưa các tổ chức, đơn vị chuyên môn như khuyến nông, văn phòng đăng ký đất đai, ban quản lý vào hoạt động hiệu lực, hiệu quả, bảo đảm cung ứng đầy đủ dịch vụ công thiết yếu cho người dân và doanh nghiệp.
- Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng, bố trí cán bộ, công chức cấp xã đúng chuyên môn, nhất là trong các lĩnh vực tài chính, đất đai, quy hoạch, công nghệ thông tin; đơn giản hóa quy trình nội bộ, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số.
- Hoàn thiện hạ tầng số, nền tảng số và cơ sở dữ liệu; chuẩn hóa quy trình công việc; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, bảo đảm giải quyết công việc nhanh, công khai, minh bạch; tiếp tục số hóa hồ sơ, tài liệu phục vụ vận hành mô hình chính quyền địa phương 02 cấp.
Thủ tướng yêu cầu Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ về kết quả triển khai thực hiện.
Bộ Nội vụ chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan theo dõi, đôn đốc, tổng hợp tình hình thực hiện và kịp thời báo cáo Thủ tướng Chính phủ.
Phó Thủ tướng Chính phủ Bùi Thanh Sơn ký Quyết định số 03/2026/QĐ-TTg ngày 20/01/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế xây dựng, quản lý, thực hiện Chương trình Thương hiệu quốc gia Việt Nam ban hành kèm theo Quyết định số 30/2019/QĐ-TTg ngày 08/10/2019 của Thủ tướng Chính phủ.

Một số quy định mới về xét chọn sản phẩm đạt Thương hiệu quốc gia Việt Nam.
Quyết định số 03/2026/QĐ-TTg sửa đổi, bổ sung một số khoản tại Điều 8 về xét chọn sản phẩm đạt Thương hiệu quốc gia Việt Nam của Quy chế xây dựng, quản lý, thực hiện Chương trình Thương hiệu quốc gia Việt Nam ban hành kèm theo Quyết định số 30/2019/QĐ-TTg ngày 08/10/2019 của Thủ tướng Chính phủ, như sau:
- Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 8 về quy trình nộp hồ sơ đăng ký xét chọn sản phẩm đạt Thương hiệu quốc gia Việt Nam theo hướng đơn giản hóa hồ sơ (giảm yêu cầu nộp từ 03 bộ hồ sơ xuống 01 bộ hồ sơ) và mở rộng kênh nộp trực tuyến qua Cổng Dịch vụ công quốc gia, phù hợp với cải cách thủ tục hành chính. Cụ thể:
"2. Doanh nghiệp nộp 01 bộ hồ sơ đăng ký xét chọn sản phẩm đạt Thương hiệu quốc gia Việt Nam trước ngày 31/3 của năm xét chọn đến Bộ Công Thương theo một trong các cách thức sau:
a) Qua dịch vụ bưu chính;
b) Trực tiếp tại trụ sở Bộ Công Thương;
c) Cổng Dịch vụ công quốc gia hoặc Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính của Bộ Công Thương.".
- Sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 8 hồ sơ đăng ký xét chọn sản phẩm đạt Thương hiệu quốc gia Việt Nam theo hướng đơn giản hóa thủ tục hồ sơ (từ 11 loại giấy tờ xuống còn 6 loại giấy tờ), không yêu cầu các giấy tờ về thuế, bảo hiểm xã hội, lao động, môi trường; đồng thời chỉ tập trung vào các giấy tờ liên quan đến chất lượng, uy tín thương hiệu và quyền sở hữu trí tuệ… nhằm đánh giá đúng bản chất của thương hiệu. Cụ thể:
"3. Hồ sơ đăng ký xét chọn sản phẩm đạt Thương hiệu quốc gia Việt Nam gồm các giấy tờ, tài liệu sau:
a) Đăng ký tham gia xét chọn sản phẩm đạt Thương hiệu quốc gia Việt Nam theo Mẫu số 01 Phụ lục ban hành kèm theo Quyết định này;
b) Bản sao báo cáo tài chính đã được kiểm toán của doanh nghiệp trong 2 năm liên tiếp trước năm xét chọn;
c) Bản sao giấy tờ về chất lượng của sản phẩm đăng ký xét chọn còn hiệu lực theo quy định của pháp luật;
d) Bản sao tài liệu chứng minh căn cứ phát sinh, xác lập quyền sở hữu trí tuệ như sau:
Văn bằng bảo hộ các đối tượng sở hữu công nghiệp hoặc bằng bảo hộ giống cây trồng của sản phẩm đăng ký xét chọn còn hiệu lực do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp;
Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả hoặc Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan còn hiệu lực do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc tài liệu chứng minh liên quan đến quyền tác giả, quyền liên quan của sản phẩm đăng ký xét chọn (nếu có);
đ) Bản sao giấy chứng nhận hệ thống quản lý, công cụ cải tiến năng suất, chất lượng cơ bản và đặc thù theo ngành, lĩnh vực còn hiệu lực (ISO 9001, ISO 14001, ISO 22000, ISO/IEC 17025, SA 8000, ISO 45001, HACCP, GMP, VietGAP, GlobalG.A.P và các hệ thống quản lý khác);
e) Bản sao giấy chứng nhận các giải thưởng về chất lượng, thương hiệu (nếu có).
- Sửa đổi, bổ sung khoản 5 Điều 8 về thời điểm thông báo kết quả xét chọn sản phẩm đạt Thương hiệu quốc gia Việt Nam tới các doanh nghiệp trước ngày 30/8 của năm xét chọn (so với quy định cũ là 30/9 của năm xét chọn). Cụ thể:
"5. Trước ngày 30 tháng 8 của năm xét chọn, cơ quan quản lý Chương trình có trách nhiệm thông báo kết quả xét chọn sản phẩm đạt Thương hiệu quốc gia Việt Nam tới các doanh nghiệp theo Mẫu số 03 Phụ lục ban hành kèm theo Quyết định này".
Ngoài ra, Quyết định số 03/2026/QĐ-TTg thay thế Mẫu số 01, Mẫu số 02, Mẫu số 03, Mẫu số 04, Mẫu số 05 và Mẫu số 06 tại Phụ lục ban hành kèm theo Quyết định số 30/2019/QĐ-TTg ngày 08/10/2019 của Thủ tướng Chính phủ.
Các hồ sơ hợp lệ đã nộp trước ngày Quyết định này có hiệu lực thi hành thì tiếp tục thực hiện theo quy định tại Quy chế ban hành kèm theo Quyết định số 30/2019/QĐ-TTg ngày 08/10/2019 của Thủ tướng Chính phủ. Đối với các hồ sơ thực hiện thủ tục hành chính nộp kể từ ngày Quyết định này có hiệu lực thi hành thì thực hiện theo trình tự, thủ tục quy định tại Quyết định này./.