In bài viết

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 22/10/2026

(Chinhphu.vn) - Văn phòng Chính phủ vừa có Thông cáo báo chí chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 22/10/2026.

22/10/2026 17:25
Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 22/10/2026- Ảnh 1.

Khu Liên hợp thể thao quốc gia

Chuyển giao Khu Liên hợp thể thao quốc gia

Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà vừa ký Quyết định số 2029/QĐ-TTg ngày 22/10/2026 của Thủ tướng Chính phủ về việc chuyển giao Khu Liên hợp thể thao quốc gia.

Quyết định nêu rõ, chuyển giao Khu Liên hợp thể thao quốc gia thuộc Cục Thể dục thể thao Việt Nam, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; trong đó, chuyển giao thẩm quyền quản lý và chuyển giao nguyên trạng Khu Liên hợp thể thao quốc gia về Bộ Quốc phòng quản lý và một phần diện tích đất nằm trong quy hoạch Khu Liên hợp thể thao quốc gia về UBND thành phố Hà Nội quản lý theo Nghị quyết số 264/NQ-CP ngày 07 tháng 9 năm 2026 của Chính phủ và quy định pháp luật.

Việc quản lý, tổ chức hoạt động thể dục, thể thao, đất đai, tài sản, tài chính, nhân sự tại Khu Liên hợp thể thao quốc gia thực hiện theo quy định của pháp luật về thể dục, thể thao, đất đai, đầu tư, tài chính, tài sản công và pháp luật khác có liên quan; bảo đảm hiệu quả, không để xảy ra thất thoát, lãng phí, tiêu cực.

Bảo đảm hoàn thành thủ tục bàn giao theo quy định

Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch chịu trách nhiệm về nội dung báo cáo và đề xuất, kiến nghị; chủ trì, phối hợp với Bộ Quốc phòng, UBND thành phố Hà Nội và các cơ quan có liên quan bảo đảm hoàn thành thủ tục bàn giao theo quy định, trong đó bàn giao đất đai theo phương án đã được phê duyệt; bàn giao nguyên trạng tổ chức bộ máy, nhân sự hiện có, tài sản, tài chính, tài liệu, các quyền, nghĩa vụ có liên quan, các hoạt động, nhiệm vụ, công việc và các dự án đầu tư công đã và đang thực hiện tại Khu Liên hợp thể thao quốc gia về Bộ Quốc phòng quản lý theo đúng quy định của pháp luật và Nghị quyết số 264/NQ-CP ngày 07 tháng 9 năm 2026 của Chính phủ.

Khu Liên hợp thể thao quốc gia tiếp tục thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và sử dụng con dấu hiện nay cho tới khi Bộ Quốc phòng bảo đảm hoàn thành việc tiếp nhận và ban hành quyết định quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức theo mô hình quản lý mới; tiếp tục sử dụng kinh phí và triển khai nhiệm vụ theo kế hoạch ngân sách nhà nước đã được phê duyệt (nếu có), trừ trường hợp có quyết định khác của cơ quan có thẩm quyền.

Bộ Quốc phòng phối hợp với Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch, UBND thành phố Hà Nội bảo đảm hoàn thành tiếp nhận và quản lý Khu Liên hợp thể thao quốc gia theo Nghị quyết số 264/NQ-CP ngày 07 tháng 9 năm 2026 của Chính phủ và theo quy định của pháp luật.

Ban hành quyết định quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Khu Liên hợp thể thao quốc gia theo mô hình quản lý mới; bố trí ngân sách để bảo đảm kinh phí hoạt động của Khu Liên hợp thể thao quốc gia không bị gián đoạn từ thời điểm hoàn thành tiếp nhận bàn giao.

Chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan thực hiện các nghĩa vụ và xử lý các vấn đề có liên quan đến trách nhiệm pháp lý của Khu Liên hợp thể thao quốc gia trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và theo quy định pháp luật; kịp thời báo cáo cấp có thẩm quyền đối với những vấn đề vượt thẩm quyền.

Xây dựng phương án quản lý, sử dụng bảo đảm đúng mục đích

UBND thành phố Hà Nội bảo đảm hoàn thành tiếp nhận phần diện tích đất đai nằm trong quy hoạch Khu Liên hợp thể thao quốc gia theo phương án đã được phê duyệt; xây dựng phương án quản lý, sử dụng đối với phần đất tiếp nhận, bảo đảm đúng mục đích, tiết kiệm, hiệu quả, phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

UBND thành phố Hà Nội phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Quốc phòng trong quá trình hoàn thành việc bàn giao, tiếp nhận Khu Liên hợp thể thao quốc gia; chỉ đạo các cơ quan chuyên môn thuộc thành phố cung cấp, đối chiếu và hoàn thiện hồ sơ, tài liệu có liên quan theo thẩm quyền.

Đồng thời, chủ trì, phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Quốc phòng rà soát hiện trạng quản lý, sử dụng đất; xác định ranh giới, diện tích, mốc giới và hồ sơ địa chính của các cơ sở đất thuộc Khu Liên hợp thể thao quốc gia; thực hiện hoặc hướng dẫn thực hiện các thủ tục về đất đai, đăng ký biến động đất đai và các thủ tục có liên quan thuộc thẩm quyền theo quy định của pháp luật.

Rà soát, cung cấp thông tin về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng, hạ tầng kỹ thuật và các nội dung quản lý nhà nước khác của địa phương có liên quan; phối hợp xử lý các tồn tại, vướng mắc về đất đai, trật tự xây dựng và nghĩa vụ tài chính về đất đai (nếu có) theo thẩm quyền, bảo đảm việc quản lý, khai thác Khu Liên hợp thể thao quốc gia được liên tục, đúng quy định của pháp luật.

Các bộ, cơ quan liên quan theo chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, thực hiện hướng dẫn, phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Quốc phòng và UBND thành phố Hà Nội trong quá trình hoàn thành việc bàn giao, tiếp nhận và xử lý các vấn đề vướng mắc, vượt thẩm quyền của cơ quan chuyển giao, tiếp nhận (nếu có).

Quyết định trên có hiệu lực từ ngày 22/10/2026.

Điều chỉnh Quy hoạch lâm nghiệp thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050

Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng vừa ký Quyết định số 2018/QĐ-TTg ngày 21/10/2026 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch lâm nghiệp thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050.

Mục tiêu tổng quát của điều chỉnh Quy hoạch nhằm cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng; bảo đảm phù hợp với Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, Quy hoạch tổng thể quốc gia, Quy hoạch sử dụng đất quốc gia và các quy hoạch có liên quan; xác định mục tiêu, định hướng phát triển lâm nghiệp giai đoạn 2026 - 2030 và tầm nhìn đến năm 2050.

Xây dựng ngành lâm nghiệp hiện đại, hiệu quả, đa giá trị, phát triển bền vững; phát huy các tiềm năng, vai trò và tác dụng của rừng, nâng cao chất lượng và khả năng hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng, góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng "2 con số", bảo vệ môi trường, giảm nhẹ thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu, bảo tồn đa dạng sinh học, cung cấp các dịch vụ hệ sinh thái rừng, góp phần xóa đói giảm nghèo, cải thiện sinh kế cho người dân nông thôn miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, giữ vững quốc phòng, an ninh và thực hiện các cam kết quốc tế.

Phấn đấu tốc độ tăng giá trị sản xuất lâm nghiệp bình quân giai đoạn 2026 - 2030 đạt 5,5%/năm

Mục tiêu tốc độ tăng giá trị sản xuất lâm nghiệp bình quân giai đoạn 2026 - 2030 là 5,0% - 5,5%/năm; giá trị xuất khẩu lâm sản đạt trên 20 tỷ USD vào năm 2030; giá trị tiêu thụ lâm sản thị trường trong nước đạt 6 đến 7 tỷ USD vào năm 2030.

Đến năm 2030, nâng cao thu nhập, mức sống cho người lao động tham gia sản xuất lâm nghiệp, đặc biệt là người dân tộc thiểu số; tỷ lệ lao động trong sản xuất lâm nghiệp được đào tạo nghề làm việc trong lâm nghiệp từ 20% lên 30%; bảo đảm bình đẳng giới.

Đến năm 2030, bảo đảm tỷ lệ che phủ rừng toàn quốc ổn định ở mức 42%, đóng góp hiệu quả vào việc thực hiện các cam kết quốc tế mà Việt Nam tham gia.

Đến năm 2050, xây dựng ngành lâm nghiệp trở thành ngành kinh tế, kỹ thuật hiện đại

Đến năm 2050, xây dựng ngành lâm nghiệp trở thành ngành kinh tế, kỹ thuật hiện đại trên cơ sở phát huy hiệu quả tiềm năng, lợi thế của tài nguyên rừng nhiệt đới; làm chủ công nghệ tiên tiến, thân thiện môi trường; tạo ra sản phẩm, dịch vụ có giá trị gia tăng cao, chủ động tham gia chuỗi cung ứng giá trị toàn cầu; đóng góp ngày càng tăng vào phát triển kinh tế - xã hội bền vững của đất nước.

Ngành lâm nghiệp góp phần xây dựng đất nước xanh, an toàn, thịnh vượng, đặc biệt là mô hình nông thôn mới giàu, đẹp và văn minh ở vùng miền núi trên cơ sở cải thiện sinh kế, phát triển kinh tế xanh gắn với tài nguyên rừng, giữ gìn bản sắc văn hóa truyền thống và không gian sinh tồn của đồng bào các dân tộc thiểu số; bảo đảm giữ vững quốc phòng, an ninh...

Đến năm 2030 hoàn thành việc giao rừng đối với diện tích rừng đang tạm giao UBND cấp xã quản lý

Theo định hướng, quy hoạch diện tích đất lâm nghiệp đến năm 2030 là 15.550,53 nghìn ha; diện tích đất lâm nghiệp có rừng là 14.074,89 nghìn ha.

Giai đoạn 2026 - 2030, trồng rừng 1.250 - 1.500 nghìn ha; phát triển cây trồng phân tán từ 300- 330 triệu cây.

Đến năm 2030, hoàn thành việc giao rừng gắn với giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp cho tổ chức, cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng dân cư đối với diện tích rừng và đất lâm nghiệp đang tạm giao UBND cấp xã trực tiếp quản lý.

Ứng dụng công nghệ cao để quản lý, bảo vệ rừng

Ứng dụng công nghệ cao trong quản lý, theo dõi, giám sát, bảo vệ rừng, đặc biệt là rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, rừng sản xuất là rừng tự nhiên; quản lý chặt chẽ các khu rừng đặc dụng theo nguyên tắc ưu tiên bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học, bảo đảm ổn định diện tích, ranh giới và chức năng bảo tồn của hệ sinh thái; không làm suy giảm giá trị của rừng.

Đồng thời, tăng cường các biện pháp bảo vệ, phát triển và khai thác hợp lý các loài lâm sản ngoài gỗ có giá trị, các loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ; hình thành các vùng nguyên liệu lâm sản ngoài gỗ, tạo ra những sản phẩm đặc trưng cho từng vùng.

Về khai thác rừng, đến năm 2030, sản lượng gỗ khai thác từ rừng trồng tập trung đạt trên 30 triệu m3/năm và sản lượng gỗ khai thác từ cây trồng phân tán, cây vườn nhà, cây cao su đạt 10 triệu m3/năm; thiết lập và vận hành hệ thống truy xuất nguồn gốc gỗ nguyên liệu hợp pháp; ứng dụng công nghệ, thiết bị trong khai thác, vận chuyển gỗ, lâm sản.

Đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số trong chế biến gỗ, lâm sản

Về phát triển chế biến, thương mại gỗ và lâm sản, ưu tiên ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số trong chế biến gỗ, lâm sản; đầu tư đổi mới công nghệ, trang thiết bị hiện đại nhằm nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, sử dụng tiết kiệm nguyên liệu, tạo ra các sản phẩm chế biến sâu có giá trị gia tăng cao. Phát triển hệ thống truy xuất nguồn gốc và kiểm soát chuỗi cung ứng gỗ, đáp ứng các yêu cầu của thị trường và các cam kết quốc tế. Tăng cường xúc tiến thương mại, xây dựng thương hiệu gỗ Việt Nam, đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, phát triển thị trường trong nước, nâng cao năng lực cạnh tranh và hội nhập quốc tế của ngành chế biến gỗ và lâm sản.

Phát triển du lịch gắn với bảo vệ và phát triển rừng

Định hướng phát triển du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí và dịch vụ môi trường rừng như sau:

Phát triển du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí gắn với bảo vệ và phát triển rừng bền vững: Rà soát, nghiên cứu hoàn thiện cơ chế, chính sách hiện hành, tạo điều kiện để phát triển du lịch gắn với bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa truyền thống của cộng đồng địa phương; huy động nguồn lực xã hội trong phát triển du lịch gắn với bảo vệ và phát triển rừng.

Phát triển dịch vụ môi trường rừng: Tiếp tục thực hiện hiệu quả chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (trong đó có dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng), phát triển thị trường tín chỉ carbon rừng, tạo nguồn tài chính ổn định, bền vững cho công tác quản lý, bảo vệ, phát triển và nâng cao chất lượng rừng. Thu dịch vụ môi trường rừng đạt bình quân 4.000 tỷ đồng/năm giai đoạn 2026 - 2030. Nghiên cứu mở rộng các loại hình và đối tượng chi trả dịch vụ môi trường rừng...

Kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng tại buổi làm việc với Lãnh đạo thành phố Quảng Ninh

Văn phòng Chính phủ có văn bản số 543/TB-VPCP ngày 22/10/2026 thông báo kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng tại buổi làm việc với Lãnh đạo thành phố Quảng Ninh.

Tại buổi làm việc, Phó Thủ tướng chúc mừng Quảng Ninh chính thức trở thành thành phố trực thuộc Trung ương từ ngày 01/9/2026, đây là dấu mốc có ý nghĩa đặc biệt trên hành trình phát triển của vùng mỏ giàu truyền thống "Kỷ luật và Đồng tâm".

Phó Thủ tướng ghi nhận, đánh giá cao và biểu dương sự nỗ lực, quyết tâm cao của Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân thành phố Quảng Ninh trong triển khai thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp đề ra trên các lĩnh vực, nhất là thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội tăng trưởng hai con số và đạt được những kết quả tích cực, toàn diện, thuộc nhóm địa phương dẫn đầu cả nước trên nhiều lĩnh vực.

Bên cạnh những kết quả đạt được, Phó Thủ tướng lưu ý thành phố Quảng Ninh vẫn còn một số tồn tại, hạn chế; trong đó thu từ hoạt động xuất nhập khẩu chưa bảo đảm tiến độ đề ra; công tác chuẩn bị đầu tư các dự án thuộc nhiệm vụ chi ngân sách thành phố còn chậm; giải ngân vốn kéo dài từ năm 2025 sang năm 2026 đạt thấp (40%); hạ tầng kỹ thuật đô thị, thoát nước, chống ngập còn bất cập, chưa được xử lý triệt để.

Tập trung đổi mới mô hình tăng trưởng

Về các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm trong thời gian tới, Phó Thủ tướng đề nghị Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân thành phố Quảng Ninh tiếp tục quán triệt, triển khai đồng bộ, quyết liệt Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, Kết luận số 18-KL/TW, Nghị quyết số 19-NQ/TW về đổi mới mô hình phát triển; các Nghị quyết chiến lược của Bộ Chính trị; Nghị quyết số 312/NQ-CP ngày 05/10/2026 của Chính phủ về Hội nghị trực tuyến Chính phủ với các địa phương; Kết luận của đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm tại Thông báo số 14-TB/VPTW ngày 13/02/2026; cụ thể hóa các nội dung chỉ đạo thành nhiệm vụ cụ thể, xác định rõ cơ quan chủ trì, phối hợp, tiến độ thực hiện, thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, đánh giá và điều chỉnh phù hợp, kịp thời, bảo đảm đạt được các mục tiêu yêu cầu đề ra trên các lĩnh vực trong năm 2026 và thời gian tới.

Trong những tháng cuối năm 2026, Phó Thủ tướng đề nghị thành phố Quảng Ninh tiếp tục phát huy kết quả đạt được, tận dụng tối đa thời cơ, phấn đấu hoàn thành đạt mức cao nhất các mục tiêu, nhiệm vụ năm 2026, đặc biệt là mục tiêu tăng trưởng, tạo đà bứt phá cho năm 2027 và đóng góp cho kết quả chung của cả nước.

Trong đó, tiếp tục duy trì đà tăng trưởng kinh tế ở mức cao, đánh giá các nguyên nhân khách quan, chủ quan, nhận diện đầy đủ, xác định rõ các động lực và dư địa tăng trưởng mới để rà soát, hoàn thành xây dựng các nhiệm vụ, giải pháp đột phá, khả thi, dồn lực cho các tháng còn lại để bảo đảm hoàn thành toàn diện tất cả các mục tiêu tăng trưởng cả năm 2026.

Tập trung khơi thông các nguồn lực hiện có, phát huy tinh thần tự lực, tự cường, tháo gỡ các điểm nghẽn, đẩy mạnh tái cấu trúc không gian phát triển, thu hút đầu tư, phát triển hạ tầng đồng bộ, hiện đại, nâng cao chất lượng đô thị, dịch vụ; đồng thời thúc đẩy các ngành kinh tế mũi nhọn như du lịch, dịch vụ, công nghiệp, logistics và kinh tế biển, lan tỏa niềm tin tới thị trường, doanh nghiệp và nhà đầu tư.

Tập trung đổi mới mô hình tăng trưởng, làm mới các động lực truyền thống và tạo các động lực tăng trưởng mới, định hướng chuyển dịch từ tăng trưởng dựa nhiều vào khai thác tài nguyên sang phát triển theo chiều sâu, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh làm động lực.

Rà soát, cắt giảm thủ tục hành chính, cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư

Đồng thời, tiếp tục rà soát, cắt giảm thủ tục hành chính, cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư, kinh doanh; nâng cao năng lực cạnh tranh, phát triển mạnh mẽ hơn nữa kinh tế tư nhân, khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo; đẩy mạnh chuyển đổi số, xây dựng cơ sở dữ liệu "đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung" liên thông.

Chủ động hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, nhất là khu vực tư nhân, đẩy mạnh xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường và triển khai các dự án lớn trên địa bàn. Chú trọng phát triển thị trường, kích cầu tiêu dùng, khai thác hiệu quả nhu cầu mua sắm, du lịch cuối năm gắn với kiểm soát, bình ổn giá; tận dụng các FTA, xúc tiến thương mại biên giới và đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, phát triển thương mại cân bằng, bền vững.

Tổ chức thực hiện hiệu quả Quy hoạch Thành phố, phát triển đô thị, nhà ở và bảo vệ môi trường. Đẩy nhanh các dự án nhà ở xã hội, nhà ở cho công nhân gắn với khu, cụm công nghiệp, xây dựng lộ trình, đầu tư hệ thống xử lý nước thải tập trung cho các cụm công nghiệp còn thiếu. Rà soát, cập nhật số liệu các dự án nguồn, lưới điện theo Quy hoạch điện VIII, gửi Bộ Công Thương trong tháng 10/2026.

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp, tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính. Tiếp tục hoàn thiện hạ tầng số, nền tảng số, dữ liệu số bảo đảm kết nối thông suốt giữa các cấp chính quyền từ Trung ương đến cấp xã.

Triển khai đánh giá, chấm điểm KPI đối với các sở, ngành, địa phương gắn với đánh giá, sử dụng cán bộ; nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ cấp xã; kiên quyết xử lý tình trạng né tránh, đùn đẩy trách nhiệm; tăng cường kỷ luật phát ngôn. Thực hiện nghiêm các kết luận thanh tra, kiểm toán; đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.

Xử lý dứt điểm các dự án tồn đọng

Bên cạnh đó, xử lý dứt điểm các dự án tồn đọng, tài sản công dôi dư, tăng cường quản lý đất đai, tài nguyên. Tập trung cao độ số hóa, làm sạch dữ liệu đất đai, đồng bộ với hệ thống dữ liệu quốc gia; đồng chí Bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND Thành phố chịu trách nhiệm về nhiệm vụ này theo Nghị quyết số 312/NQ-CP ngày 05/10/2026; chú trọng xử lý hồ sơ tồn đọng, đẩy nhanh cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người dân, doanh nghiệp.

Thực hiện tốt các nhiệm vụ bảo đảm an sinh xã hội, y tế, giáo dục, văn hóa. Tập trung hoàn thành khám sức khỏe định kỳ, khám sàng lọc miễn phí cho toàn dân trong năm 2026 gắn với Sổ sức khỏe điện tử, nhất là tại các xã, phường đạt tỷ lệ thấp. Bảo đảm an toàn thực phẩm, bữa ăn học đường, thuốc, vật tư y tế tại các cơ sở khám, chữa bệnh công lập.

Hoàn thành sắp xếp các đơn vị sự nghiệp y tế, giáo dục nghề nghiệp trong tháng 10/2026 theo Nghị quyết số 221/NQ-CP ngày 09/8/2026 của Chính phủ. Chú trọng bảo tồn và phát huy giá trị di sản gắn với phát triển du lịch, công nghiệp văn hóa; tổ chức tốt Ngày Văn hóa Việt Nam (24/11) gắn với Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc... Đẩy nhanh phân bổ, giải ngân Chương trình mục tiêu quốc gia, không làm gián đoạn chính sách hỗ trợ người dân.

Tiếp tục củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo đảm trật tự an toàn xã hội và chủ động phòng, chống thiên tai. Nâng cao hiệu quả tiếp công dân, đối thoại, giải quyết dứt điểm khiếu nại, tố cáo ngay từ cơ sở, không để hình thành "điểm nóng", tập trung đông người, nhất là trong thời gian diễn ra Kỳ họp thứ 2 Quốc hội Khóa XVI.

Thành lập Hội đồng thẩm định Quy hoạch khoáng sản nhóm I thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050

Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng ký Quyết định số 2019/QĐ-TTg ngày 21/10/2026 thành lập Hội đồng thẩm định Quy hoạch khoáng sản nhóm I thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 (Hội đồng).

Theo Quyết định, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc làm Chủ tịch Hội đồng.

Phó Chủ tịch Hội đồng là Bộ trưởng Bộ Công Thương Lê Mạnh Hùng.

Các Ủy viên Hội đồng gồm đại diện các bộ, cơ quan liên quan và các chuyên gia, nhà khoa học là Ủy viên phản biện theo quy định.

Bộ Công Thương là cơ quan thường trực của Hội đồng, có trách nhiệm và quyền hạn theo quy định tại Điều 38 Nghị định số 70/2026/NĐ-CP ngày 09 tháng 3 năm 2026 của Chính phủ.

Nhiệm vụ của Hội đồng

Quyết định nêu rõ, Hội đồng có nhiệm vụ thẩm định Quy hoạch khoáng sản nhóm I thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 theo quy định của pháp luật về quy hoạch.

Bên cạnh đó, Hội đồng thẩm định có trách nhiệm thẩm định, đánh giá, báo cáo rõ về việc thực hiện đầy đủ quy trình, thủ tục lập quy hoạch theo đúng quy định.

Hội đồng làm việc theo chế độ kiêm nhiệm và tự giải thể sau khi Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch khoáng sản nhóm I thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050.

Kinh phí hoạt động của Hội đồng được bố trí theo quy định của pháp luật về quy hoạch, pháp luật về ngân sách nhà nước và pháp luật về đầu tư công.

Kiện toàn thành viên Ủy ban Quốc gia về người cao tuổi Việt Nam

Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà vừa ký Quyết định số 2030/QĐ-TTg ngày 22/10/2026 kiện toàn thành viên Ủy ban Quốc gia về người cao tuổi Việt Nam.

Theo Quyết định, ông Nguyễn Hoài Anh, Thứ trưởng Thường trực Bộ Dân tộc và Tôn giáo làm Ủy viên Ủy ban Quốc gia về người cao tuổi Việt Nam thay ông Y Vinh Tơr, Thứ trưởng Bộ Dân tộc và Tôn giáo.

Bổ sung ông Trần Trung Tính, Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ và bà Phan Thị Thắng, Thứ trưởng Bộ Công Thương làm Ủy viên Ủy ban Quốc gia về người cao tuổi Việt Nam./.