Chính phủ ban hành Nghị quyết số 66.15/2026/NQ-CP về một số cơ chế xử lý khó khăn, vướng mắc do quy định của pháp luật về phát triển nhà ở xã hội.

Chính phủ ban hành cơ chế xử lý khó khăn, vướng mắc trong phát triển nhà ở xã hội
Theo Nghị quyết, việc xử lý khó khăn, vướng mắc về quy hoạch đối với dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội, nhà ở cho lực lượng vũ trang nhân dân được thực hiện như sau:
- Quy định xử lý khó khăn, vướng mắc về việc lập mới, điều chỉnh và phê duyệt quy hoạch phân khu đối với khu vực hình thành đô thị khi thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính các cấp và tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp được thực hiện theo quy định của pháp luật về quy hoạch đô thị và nông thôn.
- Quy hoạch chi tiết được lập mới, điều chỉnh đồng thời với quá trình lập, điều chỉnh quy hoạch phân khu hoặc quy hoạch chung trong trường hợp không yêu cầu lập quy hoạch phân khu và được phê duyệt sau khi quy hoạch chung, quy hoạch phân khu được phê duyệt;
- Việc chấp thuận chủ trương đầu tư đồng thời giao chủ đầu tư đối với trường hợp vị trí khu đất chưa có hoặc chưa phù hợp với quy hoạch đô thị và nông thôn được thực hiện theo quy định của pháp luật về thí điểm về một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển nhà ở xã hội.
Nghị quyết cũng nêu rõ: Tại các thành phố trực thuộc trung ương và các khu vực nằm trong địa giới hành chính phường thuộc tỉnh, nhà ở xã hội, nhà ở cho lực lượng vũ trang nhân dân là nhà chung cư. Đối với các khu vực còn lại, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh chịu trách nhiệm quyết định về loại hình nhà ở xã hội, nhà ở cho lực lượng vũ trang nhân dân bảo đảm phù hợp với quy định của pháp luật và đáp ứng thực trạng của địa phương.
Hộ gia đình, cá nhân thuộc trường hợp Nhà nước thu hồi đất, nhà ở vì mục đích quốc phòng, an ninh, để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng theo quy định của pháp luật mà chưa được Nhà nước bồi thường bằng nhà ở, đất ở thì được mua, thuê mua nhà ở xã hội không phải bốc thăm và không phải đáp ứng điều kiện về nhà ở, điều kiện về thu nhập theo quy định.
Đối tượng lao động hợp đồng không xác định thời hạn hưởng lương từ ngân sách nhà nước làm việc tại các đơn vị công an được mua, thuê mua, thuê nhà ở cho lực lượng vũ trang nhân dân. Điều kiện về nhà ở và điều kiện về thu nhập để được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở của đối tượng này được áp dụng như đối với đối tượng quy định tại khoản 5 Điều 76 của Luật Nhà ở.
Nghị quyết này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 13/2/2026 và được thực hiện đến hết ngày 28/2/2027.
Trường hợp luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội được sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới có hiệu lực thi hành sau ngày Nghị quyết này được thông qua và trước ngày 28/2/2027 thì các quy định tương ứng được ban hành trong Nghị quyết này chấm dứt hiệu lực.
Nghị định số 61/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định rõ quy trình thu thập, sử dụng dữ liệu thu được từ phương tiện, thiết bị kỹ thuật do cá nhân, tổ chức cung cấp để phát hiện vi phạm hành chính.

Quy trình thu thập, sử dụng dữ liệu thu được từ thiết bị kỹ thuật do cá nhân, tổ chức cung cấp để phát hiện vi phạm hành chính
Các hình thức cung cấp dữ liệu
Nghị định số 61/2026/NĐ-CP quy định: Dữ liệu do cá nhân, tổ chức thu được từ phương tiện, thiết bị kỹ thuật cung cấp cho cơ quan, đơn vị, người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính thông qua một trong các hình thức sau:
- Trực tiếp đến trụ sở cơ quan, đơn vị của người có thẩm quyền hoặc hiện trường xảy ra vụ việc để cung cấp hoặc địa điểm khác do người có thẩm quyền quyết định;
- Thư điện tử, cổng thông tin điện tử, trang thông tin điện tử, Ứng dụng định danh quốc gia (VNeID) và ứng dụng khác trên thiết bị di động, số điện thoại đường dây nóng được công bố chính thức;
- Dịch vụ bưu chính;
- Kết nối, chia sẻ dữ liệu qua nền tảng số hoặc hệ thống tích hợp, chia sẻ dữ liệu theo quy định của pháp luật.
Nghị định nêu rõ cá nhân, tổ chức cung cấp dữ liệu có quyền:
- Cung cấp dữ liệu thu được từ phương tiện, thiết bị kỹ thuật cho cơ quan, đơn vị, người có thẩm quyền thuộc các lực lượng theo quy định;
- Được bảo đảm bí mật họ tên, địa chỉ, bút tích và thông tin cá nhân khác theo quy định của pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân;
- Yêu cầu cơ quan, đơn vị, người có thẩm quyền thông báo kết quả xác minh, xử lý dữ liệu đã cung cấp bằng văn bản hoặc qua ứng dụng trên môi trường điện tử.
Cá nhân, tổ chức cung cấp dữ liệu có trách nhiệm:
- Cung cấp đầy đủ thông tin về họ tên, địa chỉ, phương thức liên lạc trong trường hợp cơ quan, đơn vị tiếp nhận, thu thập dữ liệu cần liên hệ;
- Chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính xác thực, toàn vẹn của dữ liệu đã cung cấp;
- Phối hợp, hỗ trợ cơ quan, đơn vị, người có thẩm quyền trong quá trình giải quyết vụ việc khi được yêu cầu.
Yêu cầu và giá trị sử dụng của dữ liệu thu được từ phương tiện, thiết bị kỹ thuật
Theo quy định, dữ liệu thu được từ phương tiện, thiết bị kỹ thuật được sử dụng làm căn cứ xác minh, phát hiện hành vi vi phạm hành chính phải đáp ứng đầy đủ các yêu cầu sau:
a) Thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước theo quy định tại khoản 1 Điều 64 Luật Xử lý vi phạm hành chính;
b) Việc thu thập, lưu trữ, sử dụng dữ liệu không xâm phạm quyền tự do, danh dự, nhân phẩm, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân và tổ chức theo quy định của pháp luật;
c) Phản ánh khách quan, chính xác, trung thực về hành vi vi phạm, thời gian, địa điểm xảy ra vi phạm;
d) Đáp ứng yêu cầu về thời hạn sử dụng theo quy định tại Nghị định này.
Dữ liệu thu được từ phương tiện, thiết bị kỹ thuật do cá nhân, tổ chức cung cấp, nếu đáp ứng được yêu cầu trên thì được sử dụng làm căn cứ xác minh, phát hiện vi phạm và xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.
Cơ quan, đơn vị tiếp nhận, thu thập dữ liệu
Cơ quan, đơn vị tiếp nhận, thu thập dữ liệu phản ánh vi phạm hành chính về trật tự, an toàn giao thông đường bộ, đường sắt: Cảnh sát giao thông, Cảnh sát cơ động, Cảnh sát trật tự, Cảnh sát phản ứng nhanh, Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Thanh tra Công an nhân dân, Công an cấp xã, Ủy ban nhân dân các cấp.
Cơ quan, đơn vị tiếp nhận, thu thập dữ liệu phản ánh vi phạm hành chính về trật tự, an toàn giao thông đường thủy nội địa: Cảnh sát giao thông, Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự, xã hội, Thanh tra Công an nhân dân, Công an cấp xã; Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển Việt Nam; Cảng vụ đường thuỷ nội địa; Thanh tra hàng hải Việt Nam, Cảng vụ hàng hải; Ủy ban nhân dân các cấp.
Cơ quan, đơn vị tiếp nhận, thu thập dữ liệu phản ánh vi phạm hành chính về trật tự, an toàn giao thông hàng hải: Thanh tra Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam; Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển Việt Nam; Kiểm ngư; Cảnh sát giao thông, Công an cấp xã; Ủy ban nhân dân các cấp.
Cơ quan, đơn vị thực hiện tiếp nhận, thu thập dữ liệu phản ánh vi phạm hành chính về trật tự, an toàn giao thông hàng không dân dụng: Cục Hàng không Việt Nam, Thanh tra hàng không Việt Nam; Cảng vụ hàng không; Quản lý xuất nhập cảnh, Thanh tra Công an nhân dân, Công an cấp xã, Đồn Công an; Ủy ban nhân dân các cấp.
Cơ quan, đơn vị thực hiện tiếp nhận, thu thập dữ liệu phản ánh vi phạm hành chính về bảo vệ môi trường: Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường, Cảnh sát giao thông, Quản lý xuất nhập cảnh, Thanh tra Công an nhân dân, Công an cấp xã; Thanh tra Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam; Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển Việt Nam; Hải quan; Quản lý thị trường; Kiểm lâm; Ủy ban nhân dân các cấp.
Cơ quan, đơn vị thực hiện tiếp nhận, thu thập dữ liệu phản ánh vi phạm hành chính về phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ: Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ, Cảnh sát giao thông, Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Cảnh sát trật tự, Cảnh sát cơ động, Cảnh sát phản ứng nhanh, Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội, Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường, Thanh tra Công an nhân dân, Công an cấp xã; Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển Việt Nam; Hải quan; Kiểm lâm; Kiểm ngư; Ủy ban nhân dân các cấp.
Cơ quan, đơn vị thực hiện tiếp nhận, thu thập dữ liệu phản ánh vi phạm hành chính về phòng, chống ma túy: Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy, Cảnh sát giao thông, Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội, Cảnh sát cơ động, Cảnh sát trật tự, Cảnh sát phản ứng nhanh, Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Thanh tra Công an nhân dân, Công an cấp xã; Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển Việt Nam; Hải quan; Ủy ban nhân dân các cấp.
Cơ quan, đơn vị thực hiện tiếp nhận, thu thập dữ liệu phản ánh vi phạm hành chính về phòng, chống tác hại của rượu, bia: Cảnh sát giao thông, Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Cảnh sát cơ động, Cảnh sát trật tự, Cảnh sát phản ứng nhanh, Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội, Cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng, kinh tế, buôn lậu, Công an cấp xã; Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển Việt Nam; Quản lý thị trường; Hải quan; Ủy ban nhân dân các cấp.
Cơ quan, đơn vị thực hiện tiếp nhận, thu thập dữ liệu phản ánh vi phạm hành chính về thủy sản: Kiểm ngư; Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển Việt Nam; Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường; Cảnh sát giao thông; Công an cấp xã; Ủy ban nhân dân các cấp.
Cơ quan, đơn vị thực hiện tiếp nhận, thu thập dữ liệu phản ánh vi phạm hành chính về tần số vô tuyến điện: Ủy ban nhân dân các cấp; Công an nhân dân; Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển Việt Nam; Quản lý thị trường; Hải quan; Cục Tần số vô tuyến điện, Trung tâm Tần số vô tuyến điện khu vực.
Trình tự tiếp nhận, thu thập dữ liệu
Trình tự tiếp nhận, thu thập dữ liệu được thực hiện như sau:
- Hướng dẫn cá nhân, tổ chức thực hiện cung cấp dữ liệu theo quy định tại Nghị định này.
- Thực hiện việc tiếp nhận, thu thập dữ liệu từ các nguồn theo quy định.
Trường hợp dữ liệu thu được từ phương tiện, thiết bị kỹ thuật được cung cấp không có tên, địa chỉ rõ ràng, cụ thể của cá nhân, tổ chức cung cấp dữ liệu nhưng có tài liệu, chứng cứ cụ thể về hành vi vi phạm và có cơ sở để kiểm tra, xác minh thì cơ quan, đơn vị, người có thẩm quyền tiếp nhận, thu thập dữ liệu, tiến hành việc kiểm tra, xác minh, xử lý theo quy định.
- Phân loại, đánh giá ban đầu giá trị dữ liệu, vào sổ hoặc phần mềm theo dõi dữ liệu tiếp nhận, thu thập được và báo cáo ngay người có thẩm quyền để giải quyết, xử lý theo quy định.
Xử lý dữ liệu tiếp nhận, thu thập
Cơ quan, đơn vị của người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính xử lý dữ liệu tiếp nhận, thu thập được như sau:
- Dữ liệu thuộc thẩm quyền xử lý thì tiến hành thủ tục xác minh theo quy định.
- Dữ liệu không thuộc thẩm quyền xử lý thì chuyển đến cơ quan, đơn vị có thẩm quyền để tiếp tục thực hiện việc xác minh, xử lý theo quy định.
- Kết quả thu được từ phương tiện, thiết bị kỹ thuật do các tổ chức được giao quản lý, khai thác, bảo trì kết cấu hạ tầng giao thông, cảng hàng không, sân bay, điều hành bay, kinh doanh vận tải cung cấp làm căn cứ để xác định vi phạm hành chính và xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự, an toàn giao thông thì không phải thực hiện việc xác minh; việc xử lý thực hiện theo quy định tại Điều 15 Nghị định này.
Xác minh dữ liệu và kết luận vụ việc
Nghị định quy định thời hạn xác minh không quá 30 ngày, kể từ ngày thụ lý xác minh. Đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn xác minh được kéo dài nhưng không quá 60 ngày, kể từ ngày thụ lý xác minh.
Thời hạn sử dụng dữ liệu để xác minh được áp dụng theo quy định tại khoản 3 Điều 14 Nghị định này.
Căn cứ dữ liệu tiếp nhận, thu thập được, kết quả xác minh, người có thẩm quyền phải kết luận nội dung vụ việc, thực hiện như sau:
- Trường hợp phát hiện có vi phạm hành chính thì người có thẩm quyền tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính, tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính (nếu có) và ra quyết định xử phạt đối với hành vi vi phạm hành chính thuộc thẩm quyền hoặc chuyển hồ sơ cho người có thẩm quyền xử phạt theo quy định của pháp luật.
- Trường hợp xác định không có vi phạm hành chính hoặc không đủ căn cứ để chứng minh vi phạm hành chính hoặc vi phạm hành chính thuộc trường hợp quy định tại Điều 65 Luật Xử lý vi phạm hành chính thì không xử phạt vi phạm hành chính.
- Trường hợp trong và sau quá trình xác minh, nếu xét thấy hành vi vi phạm có dấu hiệu tội phạm hoặc dữ liệu do cá nhân, tổ chức cung cấp có dấu hiệu làm giả, làm sai lệch thì người có thẩm quyền phải chuyển hồ sơ vụ việc cho cơ quan tiến hành tố tụng hình sự có thẩm quyền để xử lý theo quy định của pháp luật.
Nghị định này có hiệu lực từ ngày 1/4/2026.
Chính phủ ban hành Nghị định số 58/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định liên quan đến quy định điều kiện về an ninh, trật tự đối với một số ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện; quản lý và sử dụng con dấu; quản lý, sử dụng pháo; quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Cư trú, Luật Căn cước.
Quy định mới về đăng ký cư trú cho người chưa thành niên
Trong đó, Nghị định số 58/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Điều 7 Nghị định số 154/2024/NĐ-CP về đăng ký cư trú cho người chưa thành niên như sau:
Trường hợp người chưa thành niên đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú tại nơi thường trú, nơi tạm trú của cha, mẹ hoặc cha hoặc mẹ hoặc người giám hộ thì cha hoặc mẹ hoặc người giám hộ thực hiện kê khai, xác nhận ý kiến vào Tờ khai thay đổi thông tin cư trú.
Trường hợp người chưa thành niên đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú tại nơi thường trú, nơi tạm trú không phải là nơi thường trú, nơi tạm trú của cha, mẹ hoặc người giám hộ thì cha hoặc mẹ hoặc người giám hộ thực hiện kê khai, xác nhận ý kiến vào Tờ khai thay đổi thông tin cư trú. Trường hợp người chưa thành niên được Tòa án quyết định giao cho cha hoặc mẹ chăm sóc, nuôi dưỡng thì người được giao chăm sóc, nuôi dưỡng kê khai, xác nhận ý kiến vào Tờ khai thay đổi thông tin cư trú.
Trong thời hạn tối đa 60 ngày, kể từ ngày người chưa thành niên được đăng ký khai sinh thì cha hoặc mẹ hoặc chủ hộ hoặc người giám hộ có trách nhiệm thực hiện thủ tục đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú, khai báo thông tin về cư trú cho người chưa thành niên. Trường hợp cha, mẹ, người giám hộ của người dưới 6 tuổi có nơi thường trú nhưng không phải nơi đang thực tế sinh sống thì người dưới 6 tuổi được đăng ký thường trú tại nơi thường trú của cha, mẹ hoặc người giám hộ.
Trường hợp cha, mẹ của người chưa thành niên không có cả nơi thường trú, nơi tạm trú thì thực hiện khai báo thông tin về cư trú cho người chưa thành niên theo quy định tại Điều 4 Nghị định này.
Trường hợp đăng ký thường trú hoặc đăng ký tạm trú cho người dưới 6 tuổi tại nơi thường trú, nơi tạm trú của cha, mẹ, người giám hộ theo quy định thì cơ quan đăng ký cư trú không phải thực hiện kiểm tra, xác minh điều kiện đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú.
Quy định mới về hồ sơ, thủ tục xóa đăng ký thường trú
Đồng thời, Nghị định số 58/2026/NĐ-CP cũng sửa đổi, bổ sung Điều 9 Nghị định số 154/2024/NĐ-CP về hồ sơ, thủ tục xóa đăng ký thường trú.
Theo quy định mới, trong thời hạn 01 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hủy bỏ đăng ký thường trú của thủ trưởng cấp trên trực tiếp hoặc ngay sau khi ra quyết định hủy bỏ đăng ký thường trú đối với công dân, cơ quan đăng ký cư trú thực hiện việc xóa đăng ký thường trú đối với công dân và cập nhật việc xóa đăng ký thường trú vào Cơ sở dữ liệu về cư trú, Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.
Trong thời hạn 01 ngày làm việc, kể từ ngày Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, cơ quan đăng ký cư trú tiếp nhận thông tin phản ánh về người thuộc trường hợp bị xóa đăng ký thường trú quy định tại điểm a, đ khoản 1 Điều 24 Luật Cư trú, cơ quan đăng ký cư trú có trách nhiệm kiểm tra, xác minh, thực hiện xóa đăng ký thường trú đối với công dân và cập nhật việc xóa đăng ký thường trú vào Cơ sở dữ liệu về cư trú, Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.
Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày hộ gia đình có người thuộc diện xóa đăng ký thường trú theo quy định tại điểm b, d, e, g, h, i khoản 1 Điều 24 Luật Cư trú thì người thuộc diện xóa đăng ký thường trú hoặc đại diện hộ gia đình hoặc người đại diện theo pháp luật có trách nhiệm thực hiện thủ tục xóa đăng ký thường trú.
- Hồ sơ xóa đăng ký thường trú gồm: Tờ khai thay đổi thông tin cư trú và giấy tờ, tài liệu chứng minh thuộc một trong các trường hợp xóa đăng ký thường trú;
- Người thực hiện thủ tục nộp 01 hồ sơ trực tuyến qua Cổng dịch vụ công quốc gia hoặc Ứng dụng định danh quốc gia (VNeID) đến cơ quan đăng ký cư trú.
Nghị định số 58/2026/NĐ-CP nêu rõ, trường hợp người bị đề nghị xóa đăng ký thường trú chưa có thông tin trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư hoặc thông tin về người đó trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư không đầy đủ, chính xác thì cơ quan đăng ký cư trú có trách nhiệm thu thập, cập nhật vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ thì cơ quan đăng ký cư trú thực hiện xóa đăng ký thường trú đối với công dân và cập nhật việc xóa đăng ký thường trú vào Cơ sở dữ liệu về cư trú, Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.
rường hợp người thuộc diện xóa đăng ký thường trú theo quy định tại điểm b, d, e, g, h, i khoản 1 Điều 24 Luật Cư trú mà hộ gia đình chỉ có 01 người hoặc đại diện hộ gia đình hoặc người đại diện theo pháp luật không thực hiện thủ tục xóa đăng ký thường trú thì cơ quan đăng ký cư trú có trách nhiệm kiểm tra, xác minh, lập biên bản về việc công dân, đại diện hộ gia đình không thực hiện thủ tục xóa đăng ký thường trú và thực hiện xóa đăng ký thường trú đối với công dân.
Cơ quan, đơn vị quản lý người học tập, công tác, làm việc trong lực lượng vũ trang nhân dân có văn bản đề nghị cơ quan đăng ký cư trú trên địa bàn đóng quân xóa đăng ký thường trú đối với người thuộc đơn vị mình quản lý. Văn bản đề nghị cần nêu rõ họ, chữ đệm và tên khai sinh; ngày, tháng, năm sinh; số định danh cá nhân của người thuộc trường hợp xóa đăng ký thường trú; lý do đề nghị xóa đăng ký thường trú.
Sau khi thực hiện việc xóa đăng ký thường trú, cơ quan đăng ký cư trú thông báo bằng văn bản giấy hoặc bản điện tử hoặc hình thức điện tử khác cho người bị xóa đăng ký thường trú hoặc đại diện hộ gia đình.
Quy định mới về hồ sơ, thủ tục xóa đăng ký tạm trú
Bên cạnh đó, Nghị định số 58/2026/NĐ-CP cũng sửa đổi, bổ sung Điều 10 Nghị định số 154/2024/NĐ-CP về hồ sơ, thủ tục xóa đăng ký tạm trú.
Theo đó, trong thời hạn 01 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hủy bỏ đăng ký tạm trú của thủ trưởng cấp trên trực tiếp hoặc ngay sau khi ra quyết định hủy bỏ đăng ký tạm trú đối với công dân, cơ quan đăng ký cư trú thực hiện việc xóa đăng ký tạm trú đối với công dân và cập nhật việc xóa đăng ký tạm trú vào Cơ sở dữ liệu về cư trú, Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.
Trong thời hạn 01 ngày làm việc, kể từ ngày hệ thống Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, cơ quan đăng ký cư trú tiếp nhận thông tin quy định tại điểm a, d, đ khoản 1 Điều 29 Luật Cư trú thông qua kết nối, chia sẻ, đồng bộ dữ liệu từ cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành, cơ sở dữ liệu khác do cơ quan, tổ chức quản lý, cơ quan đăng ký cư trú có trách nhiệm kiểm tra, xác minh, thực hiện xóa đăng ký tạm trú đối với công dân và cập nhật việc xóa đăng ký tạm trú vào Cơ sở dữ liệu về cư trú, Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.
rong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày hộ gia đình có người thuộc diện xóa đăng ký tạm trú theo quy định tại điểm c, e, g, h khoản 1 Điều 29 Luật Cư trú thì người thuộc diện xóa đăng ký tạm trú hoặc đại diện hộ gia đình hoặc người đại diện hợp pháp có trách nhiệm thực hiện thủ tục xóa đăng ký tạm trú.
- Hồ sơ xóa đăng ký tạm trú gồm: Tờ khai thay đổi thông tin cư trú và giấy tờ, tài liệu chứng minh thuộc một trong các trường hợp xóa đăng ký tạm trú.
- Người thực hiện thủ tục nộp 01 hồ sơ trực tuyến qua Cổng dịch vụ công quốc gia hoặc Ứng dụng định danh quốc gia (VNeID) đến cơ quan đăng ký cư trú.
Trường hợp người bị đề nghị xóa đăng ký tạm trú có thông tin trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư nhưng không đầy đủ, chính xác thì cơ quan đăng ký cư trú có trách nhiệm cập nhật, điều chỉnh thông tin vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ thì cơ quan đăng ký cư trú phải xóa đăng ký tạm trú đối với công dân và cập nhật việc xóa đăng ký tạm trú vào Cơ sở dữ liệu về cư trú, Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.
Trường hợp thuộc diện xóa đăng ký tạm trú theo quy định tại điểm c, e, g, h khoản 1 Điều 29 Luật Cư trú mà hộ gia đình chỉ có 01 người hoặc người thuộc diện xóa đăng ký tạm trú hoặc đại diện hộ gia đình hoặc người đại diện hợp pháp không thực hiện thủ tục xóa đăng ký tạm trú thì cơ quan đăng ký cư trú có trách nhiệm kiểm tra, xác minh, lập biên bản về việc công dân, đại diện hộ gia đình không thực hiện thủ tục xóa đăng ký tạm trú và thực hiện xóa đăng ký tạm trú đối với công dân.
Cơ quan, đơn vị quản lý người học tập, công tác, làm việc trong lực lượng vũ trang nhân dân có văn bản đề nghị cơ quan đăng ký cư trú trên địa bàn đóng quân xóa đăng ký tạm trú đối với người thuộc đơn vị mình quản lý. Văn bản đề nghị cần nêu rõ họ, chữ đệm và tên khai sinh; ngày, tháng, năm sinh; số định danh cá nhân của người cần xóa đăng ký tạm trú; lý do đề nghị xóa đăng ký tạm trú.
Sau khi thực hiện việc xóa đăng ký tạm trú, cơ quan đăng ký cư trú thông báo bằng văn bản giấy hoặc bản điện tử hoặc hình thức điện tử khác cho người bị xóa đăng ký tạm trú hoặc đại diện hộ gia đình.
Chính phủ ban hành Nghị định số 62/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 06/2005/NĐ-CP ngày 19/01/2005 của Chính phủ về việc lập và hoạt động của Văn phòng đại diện của các tổ chức hợp tác, nghiên cứu của nước ngoài tại Việt Nam (Văn phòng đại diện).
Rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục cấp phép lập Văn phòng đại diện

Rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục cấp phép lập Văn phòng đại diện
Nghị định số 62/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Điều 7 Nghị định số 06/2005/NĐ-CP theo hướng bổ sung hình thức nộp hồ sơ trực tuyến xin lập Văn phòng đại diện tại Việt Nam và rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục cấp phép lập Văn phòng đại diện.
Cụ thể, tổ chức nước ngoài đề nghị lập Văn phòng đại diện nộp 01 bộ hồ sơ trực tiếp hoặc qua dịch vụ bưu chính hoặc trực tuyến trên Cổng Dịch vụ công quốc gia cho Bộ Ngoại giao. Trong vòng 01 ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ, cơ quan tiếp nhận có trách nhiệm kiểm tra tính đầy đủ, hợp lệ của hồ sơ và yêu cầu tổ chức sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện trong trường hợp hồ sơ chưa hợp lệ. Cơ quan tiếp nhận hồ sơ phải có sổ theo dõi và trao giấy tiếp nhận hồ sơ và hẹn trả kết quả khi nhận đầy đủ hồ sơ hợp lệ.
Trong thời hạn không quá 14 ngày làm việc (quy định trước là 30 ngày) kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ hợp lệ, Bộ Ngoại giao xem xét cấp hoặc từ chối cấp Giấy phép lập Văn phòng đại diện cho tổ chức nước ngoài (sau đây gọi là Giấy phép). Trong trường hợp từ chối cấp Giấy phép, Bộ Ngoại giao thông báo bằng văn bản cho tổ chức nước ngoài và nêu rõ lý do.
Chi tiết nội dung Giấy phép lập Văn phòng đại diện của tổ chức nước ngoài tại Việt Nam thực hiện theo Mẫu số 03 quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này.
Sửa đổi, bổ sung quy định về trình tự cấp Giấy phép
Bên cạnh đó, Nghị định số 62/2026/NĐ-CP cũng sửa đổi, bổ sung khoản 1, 2 Điều 8 Nghị định số 06/2005/NĐ-CP về trình tự cấp Giấy phép. Cụ thể:
1. Bộ Ngoại giao gửi hồ sơ đề nghị lập Văn phòng đại diện của tổ chức nước ngoài cho Cơ quan chủ quản phía Việt Nam, các bộ, cơ quan liên quan, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi tổ chức nước ngoài dự kiến đặt Văn phòng đại diện:
a) Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cho ý kiến về tình hình hoạt động của tổ chức nước ngoài tại địa phương nơi tổ chức nước ngoài dự kiến đặt trụ sở Văn phòng đại diện;
b) Bộ, cơ quan liên quan cho ý kiến về tình hình hoạt động của tổ chức nước ngoài có các chương trình, dự án thuộc phạm vi theo dõi của bộ, cơ quan;
c) Cơ quan chủ quản phía Việt Nam cho ý kiến về đề nghị lập Văn phòng đại diện của tổ chức nước ngoài;
d) Bộ Công an cho ý kiến đối với người dự kiến làm Trưởng Văn phòng đại diện tại Việt Nam.
2. Sau khi nhận được văn bản của Bộ Ngoại giao, các cơ quan gửi ý kiến trong thời hạn 10 ngày làm việc (Nghị định 06/2005/NĐ-CP quy định 15 ngày). Trường hợp Cơ quan chủ quản phía Việt Nam và các cơ quan liên quan có ý kiến khác nhau, Bộ Ngoại giao có văn bản xin ý kiến của Cơ quan chủ quản phía Việt Nam và Bộ Công an. Ý kiến của các cơ quan gửi về Bộ Ngoại giao trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản của Bộ Ngoại giao. Bộ Ngoại giao quyết định về việc cấp Giấy phép cho Văn phòng đại diện của các tổ chức nước ngoài trên cơ sở ý kiến thống nhất của Cơ quan chủ quản phía Việt Nam và Bộ Công an.
Thời hạn Giấy phép không vượt quá thời hạn hoạt động của các chương trình, dự án tại Việt Nam
Nghị định số 62/2026/NĐ-CP cũng sửa đổi, bổ sung Điều 9 Nghị định số 06/2005/NĐ-CP về thời hạn Giấy phép lập Văn phòng đại diện.
Theo đó, thời hạn Giấy phép được quy định trên cơ sở đề nghị của tổ chức nước ngoài nhưng không vượt quá thời hạn hoạt động của các chương trình, dự án hợp tác nghiên cứu của tổ chức nước ngoài tại Việt Nam.
Trường hợp có nhu cầu gia hạn, tổ chức nước ngoài nộp 01 bộ hồ sơ trực tiếp hoặc qua dịch vụ bưu chính hoặc trực tuyến trên Cổng Dịch vụ công quốc gia đến Bộ Ngoại giao ít nhất 14 ngày làm việc trước khi Giấy phép hết hạn.
Trong thời hạn 01 ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ, cơ quan tiếp nhận có trách nhiệm kiểm tra tính đầy đủ, hợp lệ của hồ sơ và yêu cầu tổ chức nước ngoài sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện trong trường hợp hồ sơ chưa hợp lệ.
Bộ Ngoại giao xem xét gia hạn Giấy phép cho Văn phòng đại diện sau khi tham khảo ý kiến Cơ quan chủ quản phía Việt Nam, các bộ, cơ quan liên quan, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi đặt Văn phòng đại diện.
Nghị định này có hiệu lực thi hành từ 01/03/2026.
Phó Thủ tướng Thường trực Nguyễn Hòa Bình ký Quyết định số 307/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật Tiết kiệm, chống lãng phí (Kế hoạch).
Đưa các điểm mới, tinh thần của Luật sớm đi vào cuộc sống
Luật Tiết kiệm, chống lãng phí số 110/2025/QH15 được Quốc hội Khóa XV thông qua tại Kỳ họp thứ 10 ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2026. Để triển khai thi hành Luật Tiết kiệm, chống lãng phí kịp thời, thống nhất và hiệu quả, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Kế hoạch triển khai Luật Tiết kiệm, chống lãng phí (Luật) với mục đích xác định cụ thể, đầy đủ, toàn diện các công việc, nhiệm vụ và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, đơn vị có liên quan trong việc triển khai thi hành Luật, bảo đảm kịp thời, thống nhất và hiệu quả, tránh lãng phí nguồn lực.
Đồng thời, phân công nhiệm vụ cơ quan chủ trì và cơ quan phối hợp trong việc thực hiện các hoạt động triển khai thi hành Luật theo quan điểm "06 rõ: rõ người, rõ việc, rõ thẩm quyền, rõ trách nhiệm, rõ thời gian, rõ kết quả"; nâng cao nhận thức và trách nhiệm của bộ, ngành và địa phương, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc triển khai thi hành Luật, tạo sự thống nhất trong nhận thức và hành động, góp phần đưa các điểm mới, tinh thần và mục tiêu của Luật sớm đi vào cuộc sống, phát huy hiệu quả trong thực tiễn.
7 nội dung chính của Kế hoạch
Kế hoạch đưa ra 7 nội dung chính để triển khai thi hành Luật. Cụ thể:
1- Xây dựng các Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành và Nghị định quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiết kiệm, chống lãng phí như: Nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Tiết kiệm, chống lãng phí; Nghị định quy định chi tiết việc áp dụng hình thức kỷ luật, miễn trừ, giảm nhẹ trách nhiệm xử lý kỷ luật đối với hành vi gây lãng phí và hành vi vi phạm trong tổ chức thực hiện phòng, chống lãng phí và Nghị định quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiết kiệm, chống lãng phí.
2- Tổ chức rà soát văn bản quy phạm pháp luật: Rà soát các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến Luật Tiết kiệm, chống lãng phí thuộc thẩm quyền quản lý nhà nước được phân công; thực hiện theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cấp có thẩm quyền kịp thời sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc ban hành mới các văn bản quy phạm pháp luật đảm bảo phù hợp với quy định của Luật Tiết kiệm, chống lãng phí và các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành có liên quan.
3- Tổ chức thực hiện Ngày toàn dân tiết kiệm, chống lãng phí năm 2026: Xây dựng, ban hành Kế hoạch tổ chức thực hiện Ngày toàn dân tiết kiệm, chống lãng phí năm 2026 theo quy định tại khoản 3 Điều 38 Luật Tiết kiệm, chống lãng phí.
4- Tổ chức quán triệt, truyền thông, phổ biến Luật và các văn bản quy định chi tiết thi hành.
5- Phổ biến, giáo dục pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật.
6- Kiểm tra, giám sát, đôn đốc, theo dõi việc thi hành Luật Tiết kiệm, chống lãng phí.
7- Biên soạn tài liệu, hướng dẫn áp dụng, tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, tiếp nhận và xử lý kiến nghị (nếu có).
Văn phòng Chính phủ ban hành văn bản số 1488/VPCP-KTTH truyền đạt ý kiến của Phó Thủ tướng Hồ Đức Phớc về việc tổ chức triển khai Nghị định số 57/2026/NĐ-CP ngày 12/2/2026 về cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp (Nghị định), có hiệu lực thi thành từ ngày 13/2/2026.
Để tổ chức triển khai thi hành Nghị định nêu trên hiệu quả, Phó Thủ tướng Hồ Đức Phớc yêu cầu Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan, đơn vị liên quan, có trách nhiệm tổ chức thi hành Nghị định bảo đảm kịp thời, hiệu lực, hiệu quả.
Phó Thủ tướng yêu cầu các Bộ, cơ quan liên quan phải thường xuyên theo dõi việc thi hành Nghị định, kịp thời phát hiện các vấn đề phát sinh trong thực tiễn để tham mưu, đề xuất các giải pháp, biện pháp nâng cao hiệu quả thi hành Nghị định và hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan theo đúng quy định của pháp luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật; bảo đảm việc cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp được thực hiện chặt chẽ, công khai, minh bạch, hiệu quả và đúng quy định pháp luật; không để xảy ra tiêu cực, trục lợi chính sách, thất thoát, lãng phí nguồn lực vốn, tài sản của Nhà nước và của doanh nghiệp nhà nước.
Đồng thời, tham mưu, đề xuất phương án xử lý dứt điểm đối với các vướng mắc trong quyết toán cổ phần hóa (đã nêu tại văn bản số 4875/BTC-TCDN ngày 13/5/2024 và các văn bản liên quan) theo đúng quy định pháp luật và chỉ đạo của Lãnh đạo Chính phủ tại Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 5/6/2025, Thông báo số 900/VPCP-KTTH ngày 27/1/2026; báo cáo cấp có thẩm quyền trong tháng 4/2026.
Văn phòng Chính phủ ban hành Thông báo số 81/TB-VPCP kết luận của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính tại cuộc họp về việc khắc phục hư hỏng cầu sông Lô thuộc địa bàn xã Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ.
Khắc phục ngay để phục vụ nhu cầu đi lại của nhân dân
Tại Thông báo trên, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính kết luận: Cầu sông Lô bị hư hỏng nghiêm trọng, cần được khắc phục ngay để phục vụ nhu cầu giao thông vận tải của nhân dân, nhưng tiến độ triển khai còn chậm, chưa đạt yêu cầu. Với tinh thần không lãng phí trong một ngày, không chậm trễ trong một tuần, không bỏ lỡ cơ hội trong một tháng, không để bị động cả năm, Thủ tướng Chính phủ đã triệu tập cuộc họp để giải quyết vấn đề cấp bách khắc phục hư hỏng cầu sông Lô.
Thủ tướng yêu cầu cơ quan chức năng đã khởi tố vụ án nên đề nghị các cơ quan, đơn vị tư vấn khẩn trương có kết luận giám định trong tháng 02 năm 2026 để kịp thời xem xét, xử lý nghiêm các vi phạm, sai phạm liên quan đến hư hỏng cầu sông Lô theo đúng quy định của pháp luật, chịu trách nhiệm trước pháp luật về các kết luận của mình.
Thủ tướng lưu ý việc quản lý, sử dụng cầu sông Lô cũ phải dựa trên cơ sở khoa học và ý kiến của cơ quan chuyên môn và tư vấn; tuyệt đối phải đặt tính mạng, tài sản của nhân dân lên trên hết và trước hết.
Về đầu tư xây dựng cầu sông Lô mới, Thủ tướng đồng ý về nguyên tắc với kiến nghị của Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Thọ tại văn bản số 46/BC-UBND ngày 14 tháng 02 năm 2026 về việc triển khai xây dựng cầu sông Lô mới có tầm nhìn dài hạn hàng trăm năm và thực hiện theo trình tự đầu tư xây dựng công trình khẩn cấp; theo quy hoạch điều chỉnh kết nối với các tuyến giao thông huyết mạch ở khu vực vào Hà Nội. Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Thọ triển khai theo thẩm quyền, đúng quy định của Luật Đầu tư công; khẩn trương chỉ đạo phấn đấu hoàn thành công tác giải phóng mặt bằng trong 01 tháng; thực hiện dự án trong khoảng 01 năm kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2026; phấn đấu trước Tết năm 2027 khánh thành cầu mới theo quy định của pháp luật; tuyệt đối không để lãng phí, tiêu cực, thất thoát, theo tinh thần địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm.
Cầu mới cần đáp ứng yêu cầu dài hạn
Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Thọ tham khảo kinh nghiệm cầu Phong Châu, khảo sát kỹ lưỡng, tính đến việc ứng phó tối ưu với biến đổi khí hậu, thời tiết cực đoan. Cầu mới cần đáp ứng yêu cầu về kỹ mỹ thuật, chất lượng và tầm nhìn của tỉnh trong dài hạn, kết nối nội tỉnh và các hướng phát triển khác, đúng theo quy hoạch đã được phê duyệt, nghiên cứu phương án quy mô ít nhất tương đương cầu Phong Châu nhất là mặt cắt ngang của cầu. Các bộ, ngành và nhất là Bộ Quốc phòng phối hợp chặt chẽ, hỗ trợ tỉnh trong quá trình triển khai.
Về kinh phí thực hiện đầu tư xây dựng cầu sông Lô mới, Thủ tướng đồng ý về nguyên tắc ngân sách trung ương hỗ trợ kinh phí xây lắp, tỉnh Phú Thọ bố trí kinh phí giải phóng mặt bằng và đường dẫn. Lưu ý, không được để xảy ra lãng phí, tiêu cực, tham nhũng, lợi ích nhóm. Bộ Tài chính hướng dẫn địa phương thực hiện; trình cấp có thẩm quyền quyết định bố trí ngân sách trung ương hỗ trợ tỉnh theo đúng quy trình, tiến độ, thủ tục và quy định của pháp luật.
Tại Nghị quyết số 28/NQ-CP, Chính phủ thống nhất thông qua dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng do Bộ Nội vụ trình.
Chính phủ giao Bộ trưởng Bộ Nội vụ chịu trách nhiệm về việc tiếp thu ý kiến Thành viên Chính phủ, hoàn thiện hồ sơ dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng; thừa ủy quyền Thủ tướng Chính phủ, thay mặt Chính phủ ký Tờ trình của Chính phủ về dự thảo Luật và các văn bản liên quan trình Quốc hội theo quy định.
Đồng thời, Bộ Nội vụ phối hợp chặt chẽ với các cơ quan của Quốc hội; chủ động báo cáo, giải trình trong quá trình thẩm tra, tiếp thu ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, của Quốc hội về dự thảo Luật theo đúng quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và chịu trách nhiệm về nội dung báo cáo./.