Chính phủ ban hành Nghị định số 78/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 174/2024/NĐ-CP ngày 30/12/2024 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm.
Sửa đổi quy định về thẩm quyền xử phạt trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm

Sửa quy định về xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm
Cụ thể, Nghị định số 78/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Điều 41 của Nghị định số 174/2024/NĐ-CP quy định về thẩm quyền xử phạt trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm:
Trưởng đoàn kiểm tra do Cục trưởng Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm thành lập có quyền: Phạt cảnh cáo; phạt tiền đến 80.000.000 đồng; đình chỉ hoạt động có thời hạn; áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định.
Cục trưởng Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm, Trưởng đoàn kiểm tra do Bộ trưởng Bộ Tài chính thành lập có quyền: Phạt cảnh cáo; phạt tiền đến 100.000.000 đồng; đình chỉ hoạt động có thời hạn; áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định.
Chiến sĩ Công an nhân dân đang thi hành công vụ có quyền: Phạt cảnh cáo; phạt tiền đến 10.000.000 đồng.
Đội trưởng của Công an nhân dân có quyền: Phạt cảnh cáo; phạt tiền đến 30.000.000 đồng; áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định.
Trưởng Công an cấp xã có quyền: Phạt cảnh cáo; phạt tiền đến 50.000.000 đồng; áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định.
Trưởng phòng nghiệp vụ thuộc Cục An ninh kinh tế gồm: Trưởng phòng An ninh công thương, Trưởng phòng An ninh tiền tệ, Trưởng phòng An ninh giao thông, xây dựng, Trưởng phòng An ninh tài chính, đầu tư, Trưởng phòng An ninh nông, lâm, ngư nghiệp, Trưởng phòng An ninh khoa học, công nghệ và tài nguyên, môi trường; Trưởng phòng nghiệp vụ thuộc Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội gồm: Trưởng phòng Hướng dẫn, quản lý vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ và pháo, Trưởng phòng Hướng dẫn, quản lý các ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự và con dấu, Giám đốc Trung tâm dữ liệu quốc gia về dân cư; Trưởng phòng nghiệp vụ thuộc Cục Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ gồm: Trưởng phòng Công tác phòng cháy, Trưởng phòng Thẩm duyệt về phòng cháy, chữa cháy, Trưởng phòng Công tác chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ, Trưởng phòng Quản lý khoa học - công nghệ và kiểm định phương tiện phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ; Trưởng phòng Công an cấp tỉnh gồm: Trưởng phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Trưởng phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội, Trưởng phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng, kinh tế, buôn lậu, môi trường; Trưởng phòng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ, Trưởng phòng An ninh kinh tế; Chánh văn phòng cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh có quyền: Phạt cảnh cáo; phạt tiền đến 80.000.000 đồng; áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định.
Cục trưởng Cục An ninh kinh tế, Cục trưởng Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng, kinh tế, buôn lậu, Cục trưởng Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Cục trưởng Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội, Cục trưởng Cục Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ, Giám đốc Công an tỉnh, Chánh văn phòng cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an có quyền: Phạt cảnh cáo; phạt tiền đến 100.000.000 đồng; áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định.
Trưởng đoàn thanh tra của Ngân hàng Nhà nước khu vực có quyền: Phạt cảnh cáo; phạt tiền đến 50.000.000 đồng; áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định.
Chánh Thanh tra Ngân hàng Nhà nước khu vực có quyền: Phạt cảnh cáo; phạt tiền đến 80.000.000 đồng; áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định.
Chánh Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Trưởng đoàn thanh tra do Chánh Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thành lập có quyền: Phạt cảnh cáo; phạt tiền đến 100.000.000 đồng; áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định.
Bổ sung quy định xử lý vi phạm hành chính trong kinh doanh bảo hiểm trên môi trường điện tử
Bên cạnh đó, Nghị định 78/2026/NĐ-CP bổ sung Điều 44a (Xử lý vi phạm hành chính trên môi trường điện tử) sau Điều 44 như sau:
Trường hợp xử lý vi phạm hành chính trên môi trường điện tử thực hiện theo quy định tại Điều 18a Luật Xử lý vi phạm hành chính và Chương IIIa Nghị định số 190/2025/NĐ-CP ngày 01 tháng 7 năm 2025 của Chính phủ.
Nghị định 174/2024/NĐ-CP chưa có quy định nào về xử lý vi phạm hành chính trên môi trường điện tử trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm. Các quy định chủ yếu tập trung vào hành vi vi phạm, hình thức xử phạt, thẩm quyền xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả theo phương thức xử lý trực tiếp.
Nghị định có hiệu lực thi hành từ 01/05/2025.
Văn phòng Chính phủ có Thông báo số 148/TB-VPCP ngày 23/3/2026 kết luận Phiên họp lần thứ nhất năm 2026 của Ban Chỉ đạo của Chính phủ về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và Đề án 06. Trong đó, đưa ra các nhiệm vụ trọng tâm yêu cầu các bộ, ngành, địa phương cần tập trung thực hiện trong thời gian tới.
Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính, Trưởng Ban Chỉ đạo của Chính phủ về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và Đề án 06 yêu cầu Bộ trưởng các bộ, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo và chịu trách nhiệm toàn diện trước Ban Chỉ đạo Trung ương, Ban Chỉ đạo của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ về tiến độ, chất lượng, hiệu quả tổ chức thực hiện các nhiệm vụ được giao. Cụ thể:
Các bộ, cơ quan, địa phương khẩn trương triển khai: Các nhiệm vụ năm 2026 của Ban Chỉ đạo Trung ương, Ban Chỉ đạo của Chính phủ giao; kế hoạch cải cách hành chính nhà nước trọng tâm giai đoạn 2026 - 2030 ban hành kèm theo Quyết định số 282/QĐ-TTg ngày 12/02/2026, đẩy mạnh cắt giảm, đơn giản hóa TTHC, khắc phục tình trạng các cơ quan, tổ chức yêu cầu người dân, doanh nghiệp: Cung cấp lại thông tin đã có trong các CSDL quốc gia, chuyên ngành, và cung cấp bản chứng thực các thông tin cá nhân hoặc giấy tờ đã được tích hợp và được kết nối, chia sẻ trên VNeID.
Các Bộ: Khoa học và Công nghệ, Công an, Công Thương khẩn trương xây dựng, trình ban hành văn bản hướng dẫn các Luật Chuyển đổi số, Trí tuệ nhân tạo, An ninh mạng, Thương mại điện tử bảo đảm thời điểm ban hành và hiệu lực thi hành đồng bộ với luật, tránh khoảng trống pháp lý.
Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính xây dựng khung pháp lý về định giá dữ liệu, phí, giá khai thác dữ liệu từ Trung tâm dữ liệu quốc gia, hoàn thành trong tháng 6/2026.
Đẩy mạnh xây dựng và phát triển hạ tầng số và các cơ sở dữ liệu quan trọng
Bộ Khoa học và Công nghệ triển khai đồng bộ các giải pháp thúc đẩy dịch vụ internet vệ tinh quỹ đạo tầm thấp sớm đi vào hoạt động và vận hành thương mại trong năm 2026; chỉ đạo các doanh nghiệp viễn thông đẩy mạnh đầu tư các trạm phát sóng 5G phủ sóng toàn quốc trong năm 2026.
Bộ Công an nhanh chóng đưa Trung tâm dữ liệu quốc gia số 01 vào vận hành chính thức; chủ trì, phối hợp với các doanh nghiệp dán nhãn dữ liệu, dữ liệu hóa, phục vụ xây dựng các nền tảng AI tự chủ của Việt Nam trong năm 2026.
Bộ Nội vụ chủ trì xây dựng, hoàn thiện và đưa vào vận hành Cơ sở dữ liệu quốc gia về cán bộ, công chức, viên chức trong tháng 3/2026; Cơ sở dữ liệu quốc gia về an sinh xã hội, trong tháng 6/2026.
Thanh tra Chính phủ chủ trì xây dựng, hoàn thiện Cơ sở dữ liệu thanh tra, kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức; hoàn thành trong tháng 9/2026.
Bộ Công an chủ trì xây dựng, hoàn thiện Cơ sở dữ liệu xử lý vi phạm hành chính, bảo đảm liên thông, phục vụ quản lý nhà nước và giải quyết thủ tục hành chính; hoàn thành trong tháng 12/2026.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì xây dựng, hoàn thiện Cơ sở dữ liệu ngành nông nghiệp, hoàn thành trong tháng 9/2026.
Bộ Y tế chủ trì xây dựng, hoàn thiện Cơ sở dữ liệu quốc gia về y tế, hoàn thành trong tháng 9/2026.
Bộ Công an trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Chương trình tổng thể triển khai Đề án 06 giai đoạn 2026 - 2030, hoàn thành trong tháng 3/2026.
Bảo đảm nguồn lực, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao để phát triển nền kinh tế số
Về bảo đảm nguồn lực, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao để phát triển nền kinh tế số, Thủ tướng giao:
Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, trình Thủ tướng Chính phủ Chương trình quốc gia phát triển nhân lực trí tuệ nhân tạo trong tháng 4/2026.
Bộ Công an xây dựng khung chương trình đào tạo về quản trị dữ liệu cho cán bộ chuyên trách về công nghệ thông tin, chuyển đổi số của bộ, ngành, địa phương và tổ chức triển khai đào tạo, trong tháng 12/2026.
Bộ Khoa học và Công nghệ hoàn thành việc rà soát, tổng hợp, đề xuất bố trí ngân sách tập trung cho các nhiệm vụ trọng điểm ngay trong Quý I/2026, gửi Bộ Tài chính trình Thủ tướng Chính phủ bổ sung dự toán theo quy định, bảo đảm trong phạm vi tổng mức tối thiểu 3% tổng chi ngân sách nhà nước năm 2026 cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số.
Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì hoàn thành việc lựa chọn, xác định và giao nhiệm vụ phát triển các sản phẩm công nghệ chiến lược ưu tiên (nhất là AI, UAV…) trong Quý II/2026.
Bộ Quốc phòng chủ trì, chỉ đạo Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội (Viettel) triển khai các giải pháp công nghệ viễn thông, khẩn trương khắc phục tình trạng lõm sóng tại vùng sâu, vùng xa, biên giới; phấn đấu xử lý xong các thôn, bản đang lõm sóng, hoàn thành trong năm 2026.
Về bảo đảm cấp điện cho các khu vực chưa có điện, Thủ tướng giao:
Bộ Công Thương chỉ đạo Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) xây dựng và triển khai các phương án cấp điện phù hợp (bao gồm cấp điện từ lưới điện quốc gia và cấp điện không nối lưới) cho 410 thôn, bản chưa có điện hiện nay; yêu cầu hoàn thành phương án cấp điện trong Quý I/2026 và triển khai ngay trong năm 2026.
Bộ Tài chính chủ trì tính toán, bố trí nguồn vốn từ ngân sách nhà nước cho EVN thực hiện các dự án cấp điện khu vực chưa có điện nêu trên.
Trên cơ sở đề xuất nhu cầu kinh phí của EVN, Bộ Tài chính cân đối, trình cấp thẩm quyền bố trí nguồn vốn để EVN thực hiện với các dự án mang tính chất an sinh xã hội, không có khả năng hạch toán sinh lời.
Phó Thủ tướng Bùi Thanh Sơn ký Quyết định số 458/QĐ-TTg phê duyệt Đề án cập nhật triển khai Tuyên bố chính trị thiết lập quan hệ đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng (Tuyên bố JETP).

Thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp năng lượng tái tạo, năng lượng mới
Mục tiêu tổng quát của Đề án trên là triển khai Tuyên bố JETP gắn với thực hiện Nghị quyết số 70-NQ/TW và Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050, góp phần bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, cung cấp đủ điện cho phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và đời sống nhân dân. Chủ động thực hiện lộ trình chuyển đổi năng lượng công bằng, thúc đẩy phát triển năng lượng tái tạo, năng lượng mới, sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả, góp phần thực hiện mục tiêu phát thải ròng bằng "0" của Việt Nam, trên cơ sở phù hợp với điều kiện thực tế và lợi ích quốc gia, dân tộc.
Thu hút đầu tư, phát triển điện gió, điện mặt trời, hệ thống lưu trữ năng lượng
Đề án phấn đấu giai đoạn từ nay đến năm 2030 hoàn thiện thể chế, chính sách, khung pháp lý đồng bộ, tạo môi trường thuận lợi thu hút đầu tư, khuyến khích phát triển điện gió ngoài khơi, điện mặt trời, hệ thống lưu trữ năng lượng; nghiên cứu, đề xuất các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường, phát thải khí nhà kính cho các công nghệ năng lượng mới (như CCUS, hydrogen xanh, amoniac xanh) để đảm bảo tính khả thi và phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế.
Phối hợp và huy động nguồn lực từ các đối tác quốc tế hỗ trợ triển khai các dự án JETP liên quan đến nâng cấp, xây dựng hạ tầng sản xuất, truyền tải, tích trữ, phân phối, điều hành điện thông minh, tiên tiến, hiện đại, có khả năng tích hợp quy mô lớn các nguồn năng lượng tái tạo; tăng cường điện khí hóa, phát triển nguồn nhân lực; từng bước làm chủ công nghệ hiện đại, tiến tới sản xuất được các thiết bị phục vụ phát triển lĩnh vực năng lượng tái tạo; nâng cao năng lực quản trị ngành năng lượng đạt trình độ tiên tiến.
Phối hợp và huy động nguồn lực từ các đối tác quốc tế hỗ trợ triển khai các dự án JETP về phát triển công nghiệp năng lượng tái tạo, thúc đẩy công nghiệp chế tạo thiết bị năng lượng tái tạo, thiết bị lưu trữ điện năng, thu hồi, hấp thụ, lưu trữ và sử dụng CO2; thúc đẩy sản xuất, sử dụng, tồn trữ, vận chuyển và phân phối hydrogen xanh, amoniac xanh... Phấn đấu đến 2030 hình thành 02 trung tâm công nghiệp, dịch vụ năng lượng tái tạo tại các khu vực có nhiều tiềm năng.
Thực hiện chuyển đổi năng lượng công bằng gắn với tạo việc làm mới, đào tạo và đào tạo lại lao động, bảo đảm an sinh xã hội cho các nhóm dễ bị tổn thương; khuyến khích người dân, doanh nghiệp tham gia vào các chương trình sử dụng năng lượng sạch, tiết kiệm và hiệu quả.
Chủ động phát triển mạnh mẽ năng lượng tái tạo, phấn đấu nâng tỷ lệ nguồn năng lượng tái tạo đạt khoảng 47% tổng công suất điện, tổng công suất nhiệt điện than phấn đấu không vượt quá từ 30,2 GW đến 31,055 GW; kiểm soát phát thải khí nhà kính từ ngành điện ở mức đỉnh không quá 170 triệu tấn CO2 tương đương, phù hợp với mục tiêu bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia và được thực hiện linh hoạt trên cơ sở có sự hỗ trợ thực chất, hiệu quả của các đối tác quốc tế trong khuôn khổ JETP.
Dừng hoạt động các nhà máy nhiệt điện than có tuổi thọ trên 40 năm nếu không thể chuyển đổi nhiên liệu
Giai đoạn sau năm 2030, tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính sách để hỗ trợ chuyển đổi năng lượng, các hoạt động sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, năng lượng sạch trở thành thường xuyên, liên tục của các tổ chức, doanh nghiệp, cộng đồng và toàn dân với sự dẫn dắt của Nhà nước và hỗ trợ của quốc tế.
Thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp năng lượng tái tạo, năng lượng mới, công nghiệp chế tạo thiết bị, lưu trữ điện, hydrogen xanh, amoniac xanh; nghiên cứu áp dụng công nghệ thu hồi, hấp thụ, lưu trữ và sử dụng CO2, nâng cao năng lực nghiên cứu, đổi mới sáng tạo, chủ động tiếp nhận, làm chủ công nghệ tiên tiến phục vụ quá trình chuyển đổi năng lượng.
Không xây mới và dừng hoạt động các nhà máy nhiệt điện than có tuổi thọ trên 40 năm nếu không thể chuyển đổi nhiên liệu, thực hiện mạnh mẽ các biện pháp giảm phát thải khí nhà kính hướng tới năm 2050 đạt mức phát thải từ năng lượng không vượt quá 101 triệu tấn CO2 tương đương, tỷ lệ năng lượng tái tạo đạt khoảng 80 - 85% tổng năng lượng sơ cấp.
Với sự hỗ trợ của các đối tác quốc tế, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, hình thành đội ngũ chuyên gia, kỹ sư giỏi trong lĩnh vực năng lượng tái tạo và năng lượng mới, góp phần đưa Việt Nam trở thành trung tâm năng lượng tái tạo của khu vực, đồng thời bảo đảm công bằng xã hội, hài hòa mục tiêu giảm phát thải, tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường.
10 nhiệm vụ trọng tâm của Đề án
Để đạt được các mục tiêu trên, Đề án đưa ra một số nhiệm vụ trọng tâm sau:
1- Hoàn thiện thể chế, chính sách thúc đẩy chuyển đổi năng lượng
Rà soát, tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế trong quy hoạch, cấp phép, huy động vốn cho các dự án về năng lượng; có cơ chế, chính sách đặc thù vượt trội để thu hút và triển khai các công trình, dự án quan trọng quốc gia, trọng điểm ngành năng lượng, góp phần giảm phát thải khí nhà kính và đóng góp cho quá trình chuyển đổi năng lượng công bằng của Việt Nam.
Hoàn thiện chính sách tài chính theo hướng huy động tối đa các nguồn vốn đầu tư tư nhân, đầu tư nước ngoài vào các dự án trong lĩnh vực năng lượng theo hình thức nhà đầu tư độc lập hoặc đối tác công tư (PPP). Đổi mới chính sách tín dụng theo hướng linh hoạt, hiệu quả, ưu tiên bố trí vốn tín dụng cho lĩnh vực năng lượng, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp năng lượng tiếp cận các nguồn vốn.
Cải thiện khung pháp lý tạo thuận lợi cho đầu tư vào năng lượng mới, năng lượng tái tạo, sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả và tăng cường lưới điện ở Việt Nam; xây dựng khung chính sách đủ mạnh để khuyến khích các hộ sử dụng điện lớn xây dựng hệ thống thu hồi năng lượng để sản xuất điện; xây dựng cơ chế, chính sách ưu đãi hợp lý để phát triển điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ và hệ thống lưu trữ năng lượng...
2- Thúc đẩy chuyển đổi điện than sang năng lượng sạch
Đàm phán với các nhà đầu tư các dự án nhiệt điện than chậm tiến độ, gặp khó khăn trong thu xếp vốn, thay đổi cơ cấu chủ đầu tư và đề xuất phương án xử lý phù hợp theo quy định của pháp luật; đàm phán về đóng cửa các nhà máy nhiệt điện than cũ, kém hiệu quả có tuổi thọ trên 40 năm nếu không thể chuyển đổi nhiên liệu và không đáp ứng theo lộ trình giảm phát thải khí nhà kính của quốc gia.
Triển khai lộ trình thực hiện các giải pháp giảm phát thải khí nhà kính các nhà máy nhiệt điện than, bao gồm lộ trình chuyển đổi các nhà máy nhiệt điện than sang sử dụng các nguồn nhiên liệu xanh, sạch như hydrogen xanh, amoniac xanh... phù hợp với Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050...
3- Phát triển hệ sinh thái công nghiệp và dịch vụ về năng lượng tái tạo
Tiếp tục đẩy mạnh phát triển các nguồn năng lượng tái tạo (thủy điện, điện mặt trời, điện gió trên bờ, ngoài khơi, sóng biển, địa nhiệt...), năng lượng mới (hydrogen xanh, amoniac xanh,...) theo quy hoạch phát triển điện lực, phương án phát triển mạng lưới cấp điện trong quy hoạch tỉnh, phù hợp với khả năng bảo đảm vận hành an toàn hệ thống điện với giá thành hợp lý.
Nghiên cứu xây dựng 02 trung tâm công nghiệp, dịch vụ năng lượng tái tạo liên vùng; phát triển các loại hình điện sinh khối, điện sản xuất từ rác, chất thải rắn phù hợp với quy hoạch phát triển điện lực và phương án phát triển mạng lưới cấp điện trong quy hoạch tỉnh nhằm tận dụng phụ phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp, chế biến gỗ, thúc đẩy trồng rừng và xử lý môi trường.
Khuyến khích sử dụng điện được sản xuất từ nguồn năng lượng tái tạo, năng lượng sạch; thúc đẩy phát triển điện mặt trời mái nhà, điện mặt trời độc lập tại các công sở, khu dân cư và hộ gia đình...
4- Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả
Tăng cường thực hiện các giải pháp sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả trong lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, xây dựng, giao thông vận tải, dịch vụ, thương mại và dân dụng.
Xây dựng và ban hành các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, quy định bắt buộc kèm theo chế tài đối với việc tuân thủ quy định về định mức sử dụng năng lượng cho các ngành công nghiệp, giao thông.
Thúc đẩy phát triển và áp dụng mô hình kinh doanh và công ty dịch vụ tiết kiệm năng lượng (ESCO).
5- Nâng cấp hệ thống truyền tải và phân phối điện, đẩy nhanh lộ trình xây dựng hệ thống điện thông minh và phát triển hệ thống lưu trữ năng lượng
Nghiên cứu áp dụng công nghệ mới trong hệ thống truyền tải và phân phối điện; tiếp tục đẩy mạnh triển khai lộ trình phát triển hệ thống điện thông minh để tăng cường khả năng tích hợp năng lượng tái tạo vào hệ thống điện, giảm tổn thất điện năng trên lưới điện.
Phát triển các nhà máy thủy điện tích năng để điều hòa phụ tải, dự phòng công suất và tích hợp các nguồn năng lượng tái tạo với quy mô lớn.
Hỗ trợ triển khai công nghệ pin lưu trữ kết hợp điện mặt trời quy mô lớn và các loại hình lưu trữ năng lượng tiên tiến khác.
Xây dựng cơ chế khuyến khích phụ tải tham gia giảm tải trong các giờ cao điểm của hệ thống điện hoặc thay đổi phương thức quản lý để hoạt động vào các giờ giá điện thấp.
6- Chuyển đổi năng lượng xanh, giảm phát thải khí nhà kính trong lĩnh vực giao thông vận tải và xây dựng
Thực hiện Chương trình hành động về chuyển đổi năng lượng xanh, giảm phát thải khí các-bon và khí mê-tan lĩnh vực giao thông vận tải.
7- Đổi mới sáng tạo, phát triển và chuyển giao công nghệ
Hỗ trợ Việt Nam trở thành trung tâm quốc tế về năng lượng tái tạo để chia sẻ kiến thức chuyên môn, hỗ trợ phát triển kỹ năng, hiểu biết về công nghệ đồng thời tạo điều kiện hợp tác với khu vực tư nhân về chuyển giao công nghệ, nhằm đẩy nhanh sự phát triển của các nguồn năng lượng tái tạo và quản lý hệ thống điện sạch.
Áp dụng công nghệ mới, hiện đại theo hướng chuyển dịch sang nền kinh tế các-bon thấp, giảm tiêu thụ năng lượng, giảm phát thải khí nhà kính, hỗ trợ giảm phát thải các-bon trên đơn vị sản phẩm hàng hóa xuất khẩu và tham gia thị trường các-bon trong nước.
Xây dựng, ban hành các tiêu chí, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia trong xác định công nghệ sạch, xác định các dự án chuyển đổi xanh; rà soát, sửa đổi, bổ sung và xây dựng các tiêu chuẩn, quy chuẩn quốc gia về môi trường, phát thải khí nhà kính thuộc lĩnh vực tái chế, xử lý chất thải phục vụ mục đích sản xuất năng lượng.
Nghiên cứu phát triển và ứng dụng các nguồn năng lượng mới (hydrogen xanh, amoniac xanh); nghiên cứu thí điểm triển khai các công nghệ thu hồi, lưu trữ và sử dụng các-bon (CCUS), đồng đốt ammonia đối với lò hơi (nhiệt điện than), nghiên cứu thu hồi khí mê-tan trong các hoạt động khai thác than và dầu khí, lưu trữ, chế biến, vận chuyển các sản phẩm than, dầu khí và nhiên liệu...
8- Bảo đảm công bằng trong chuyển đổi năng lượng
Đảm bảo bình đẳng trong tiếp cận nguồn lực và thực hiện trách nhiệm trong chuyển đổi năng lượng; hỗ trợ các nhóm lao động và hộ gia đình dễ bị tổn thương chịu ảnh hưởng của quá trình chuyển đổi năng lượng và thực hiện đào tạo, đào tạo lại các lao động bị ảnh hưởng.
9- Truyền thông, nâng cao nhận thức
Tuyên truyền, nâng cao nhận thức về các cơ hội, thách thức và tầm quan trọng của việc thực hiện chuyển đổi năng lượng công bằng; lồng ghép các hoạt động truyền thông trong quá trình xây dựng và thực hiện các chương trình, dự án chuyển đổi năng lượng công bằng.
10- Thúc đẩy hợp tác, huy động nguồn lực cho chuyển đổi năng lượng công bằng
Tích cực vận động thu hút nguồn lực quốc tế thông qua hoạt động đối ngoại cấp cao, chương trình làm việc của các bộ, ngành, địa phương với đối tác nước ngoài, các cơ quan đại diện Việt Nam tại nước ngoài.
Tìm hiểu, tiếp thu, chia sẻ kinh nghiệm, mô hình thực hiện chuyển đổi công bằng ở các nước, các sáng kiến sử dụng nguồn năng lượng xanh, chuyển đổi năng lượng từ than sang các nguồn năng lượng sạch, năng lượng tái tạo, phi các-bon hóa lưới điện phục vụ phát triển kinh tế - xã hội bền vững; chủ động tham gia và đóng góp tích cực tại các khuôn khổ hợp tác song phương, đa phương nhằm tích hợp nội dung về chuyển đổi công bằng trong quá trình đàm phán, hợp tác quốc tế...
Văn phòng Chính phủ vừa có Thông báo số 149/TB-VPCP ngày 23/3/2026 kết luận của Thường trực Chính phủ về Nghị định quy định chi tiết về việc xử lý vướng mắc của dự án BOT giao thông.
Thông báo nêu, tại cuộc họp Thường trực Chính phủ về Nghị định quy định chi tiết về việc xử lý vướng mắc của dự án BOT giao thông, Thường trực Chính phủ đồng ý về nguyên tắc xây dựng chính sách bồi thường, chấm dứt hợp đồng bảo đảm nguyên tắc "lợi ích hài hòa, rủi ro chia sẻ" và Nghị định chỉ quy định nguyên tắc, số liệu chi tiết việc bồi thường, chấm dứt hợp đồng trên cơ sở kết quả đàm phán, thống nhất của các bên liên quan (nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án và tổ chức tín dụng); bảo đảm không để thất thoát, lãng phí tài sản, ngân sách nhà nước.
Thường trực Chính phủ giao Ngân hàng Nhà nước Việt Nam xem xét hướng dẫn cụ thể về tăng giảm, hỗ trợ lãi vay cho các tổ chức tín dụng theo thẩm quyền và theo các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành.
Hoàn thiện chính sách bồi thường, chấm dứt hợp đồng theo nguyên tắc "lợi ích hài hòa, rủi ro chia sẻ"
Đồng thời, giao Bộ Xây dựng tiếp thu đầy đủ ý kiến của các Phó Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành tại cuộc họp, khẩn trương hoàn thiện Tờ trình và dự thảo Nghị định, trình Chính phủ trong ngày 23/3/2026. Trong đó, cần lưu ý làm rõ các nội dung sau: Thông tin về kết quả thực hiện các kết luận của cơ quan thanh tra, kiểm toán nhà nước tại các dự án; hiệu quả khai thác, sử dụng các dự án dự kiến chấm dứt hợp đồng; khẳng định những vướng mắc phát sinh của các dự án cần phải xử lý nằm trong đối tượng của Chỉ thị số 27-CT/TW ngày 25/12/2023 của Bộ Chính trị và thuộc đối tượng theo quy định của Luật PPP.
Trên cơ sở cơ sở chính trị, cở sở pháp lý và cở sở thực tiễn, hoàn thiện chính sách bồi thường, chấm dứt hợp đồng theo nguyên tắc "lợi ích hài hòa, rủi ro chia sẻ", xử lý dứt điểm các vướng mắc của các dự án BOT để cải thiện môi trường đầu tư và phải bảo đảm giá trị thanh toán theo giá trị quyết toán, kiểm toán (Kiểm toán Nhà nước thực hiện kiểm toán trước khi thanh toán, chấm dứt hợp đồng không để thất thoát tài sản, ngân sách nhà nước).
Thường trực Chính phủ giao Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Hồng Hà chỉ đạo Bộ Xây dựng hoàn thiện hồ sơ và giao Văn phòng Chính phủ lấy ý kiến Thành viên Chính phủ về chính sách bồi thường, chấm dứt hợp đồng trước thời hạn quy định tại dự thảo Nghị định; xem xét ký ban hành Nghị định trong tháng 3/2026.
Văn phòng Chính phủ vừa có Thông báo số 143/TB-VPCP kết luận của Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà tại cuộc họp về việc rà soát các nhiệm vụ 3 tháng đầu năm 2026 và triển khai nhiệm vụ công tác từ nay đến cuối năm 2026 của Bộ Nội vụ.

Chuẩn bị kỹ lưỡng, đề xuất các phương án cụ thể thực hiện cải cách chính sách tiền lương theo lộ trình
Một số kết quả đạt được
Thông báo kết luận nêu rõ, sau gần 3 tháng triển khai nhiệm vụ công tác năm 2026, Bộ Nội vụ đã nỗ lực, cố gắng trong thực hiện nhiệm vụ chính trị được giao, với một số kết quả rõ nét như:
Chủ động tham mưu cấp có thẩm quyền chuẩn bị các công tác liên quan đến tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, đã tổ chức tập huấn nghiệp vụ bầu cử kịp thời, thường xuyên nắm tình hình, hướng dẫn các địa phương thực hiện nghiệp vụ công tác bầu cử nghiêm túc, hiệu quả, góp phần vào sự thành công của cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức vào ngày 15 tháng 3 năm 2026 vừa qua.
Bước đầu hoàn thành các nhiệm vụ liên quan đến công tác xây dựng, thể chế chính sách: (i) Trình Chính phủ để trình Quốc hội Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng, (ii) Trình Chính phủ ban hành 5 Nghị định và 2 Nghị quyết, (iii) Trình Thủ tướng Chính phủ ban hành 06 Quyết định, (iv) Bộ trưởng Bộ Nội vụ ban hành theo thẩm quyền 2 Thông tư.
Lãnh đạo Bộ, các đồng chí Thủ trưởng các đơn vị thuộc, trực thuộc Bộ đã phát huy vai trò tinh thần trách nhiệm trong các công việc chung của Bộ.
Rà soát, sửa đổi, bổ sung Quy chế làm việc của Bộ Nội vụ, hoàn thành chậm nhất ngày 15/4/2026
Để bảo đảm triển khai thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ mà Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã giao, Phó Thủ tướng đề nghị Bộ Nội vụ tập trung thực hiện các nhiệm vụ chung:
Tiếp tục đổi mới phương pháp và lề lối làm việc, tăng cường trách nhiệm, hiệu quả làm việc, tính chủ động của từng đơn vị thuộc, trực thuộc Bộ Nội vụ. Lãnh đạo Bộ cần thường xuyên giao ban, trao đổi để nắm bắt tình hình triển khai thực hiện nhiệm vụ, kịp thời kiểm tra, đôn đốc hoạt động của các đơn vị, đồng thời thống nhất cách thức giải quyết đối với những vấn đề khó, vấn đề mới đặt ra.
Rà soát, sửa đổi, bổ sung Quy chế làm việc của Đảng ủy Bộ Nội vụ, Quy chế làm việc của Bộ Nội vụ, bảo đảm vai trò lãnh đạo của cấp ủy, phân công, phân nhiệm theo tinh thần 6 rõ (rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền và rõ kết quả), đáp ứng yêu cầu đặt ra trong giai đoạn 2026 - 2031, hoàn thành chậm nhất ngày 15 tháng 4 năm 2026.
Tập trung hoàn thành các nhiệm vụ theo Chương trình, kế hoạch công tác năm 2026 của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ Nội vụ bảo đảm chất lượng, thời hạn được giao.
Chuẩn bị kỹ lưỡng, đề xuất các phương án cụ thể về thực hiện cải cách chính sách tiền lương theo lộ trình, trực tiếp báo cáo Phó Thủ tướng vào ngày 30 tháng 3 năm 2026.
Ngay sau khi Ban Chấp hành Trung ương có văn bản chỉ đạo, khẩn trương tham mưu để Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ kịp thời ban hành các Tờ trình về cơ cấu tổ chức Chính phủ, cơ cấu thành viên và nhân sự cụ thể của Chính phủ khóa XVI, nhiệm kỳ 2026 – 2031, trình Quốc hội theo quy định, hoàn thành chậm nhất ngày 28 tháng 3 năm 2026.
Trước 30/4/2025, hoàn thiện, trình Chính phủ chùm Nghị định hướng dẫn Luật Viên chức
Về nhiệm vụ xây dựng, hoàn thiện thể chế, Phó Thủ tướng yêu cầu Bộ Nội vụ rà soát các nhiệm vụ về xây dựng thể chế năm 2026 của Bộ Nội vụ; trong trường hợp cần thiết, kịp thời đề xuất cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định việc sửa đổi, bổ sung những văn bản quy phạm pháp luật ngoài các nhiệm vụ đã được giao; bảo đảm đồng bộ, thống nhất, đồng thời bao quát đầy đủ các nội dung về phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền trong quản lý nhà nước lĩnh vực nội vụ.
Hoàn thành đúng thời hạn quy định các nhiệm vụ được giao, không để xảy ra tình trạng chậm, muộn trong xây dựng thể chế. Trước hết khẩn trương hoàn thiện, trình Chính phủ chùm Nghị định hướng dẫn Luật Viên chức (hoàn thành trước ngày 30 tháng 4 năm 2026); Nghị định về điều chỉnh lương cơ sở cho cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và đối tượng liên quan từ 01 tháng 7 năm 2026, (hoàn thành ngày 30 tháng 5 năm 2026); Nghị định quy định về tổ chức hoạt động của thôn, tổ dân phố và một số chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố (hoàn thành ngày 30 tháng 4 năm 2026).
Nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương 2 cấp
Đối với nhiệm vụ gắn với mục tiêu nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương 2 cấp, Phó Thủ tướng yêu cầu Bộ Nội vụ tiếp tục tập huấn, bồi dưỡng về nghiệp vụ cho chính quyền cấp cơ sở, góp phần bảo đảm chính quyền địa phương 2 cấp hoạt động thông suốt, hiệu quả trong tình hình mới.
Khẩn trương thành lập Tổ công tác phản ứng nhanh của Bộ Nội vụ, phối hợp chặt chẽ với Văn phòng Chính phủ (đầu mối là Vụ Tổ chức công vụ) để theo dõi, bám sát nội dung tại các kết luận của Đoàn kiểm tra, giám sát của Bộ Chính trị, Ban Bí thư và kết quả kiểm tra, giám sát thường xuyên của Ủy ban Kiểm tra Trung ương; kịp thời báo cáo, tham mưu cấp có thẩm quyền chỉ đạo giải quyết những vấn đề liên quan đến hoạt động của chính quyền địa phương 02 cấp.
Chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan liên quan rà soát kỹ lưỡng các nhiệm vụ được giao tại các Kết luận của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư từ ngày 01 tháng 7 năm 2025 đến nay; xác định rõ nhiệm vụ nào đã hoàn thành, nhiệm vụ nào chưa hoàn thành; báo cáo Phó Thủ tướng để kịp thời chỉ đạo các Bộ, cơ quan liên quan, bảo đảm không bỏ sót nhiệm vụ được giao.
Phối hợp với các Bộ, ngành liên quan xây dựng báo cáo đánh giá về việc thực hiện phân cấp, phân quyền; rà soát tổng thể các quy định về phân cấp, phân quyền, đề xuất những nội dung cần điều chỉnh, những nội dung cần tiếp tục hướng dẫn; tham mưu Chính phủ sửa đổi, bổ sung các Nghị định có liên quan để bảo đảm đồng bộ, thống nhất, khả thi khi triển khai thực hiện, hoàn thành chậm nhất ngày 25 tháng 3 năm 2026.
Thực hiện nghiêm việc báo cáo định kỳ về tình hình thực hiện chính quyền địa phương 2 cấp theo quy định (ngày 25 hằng tháng). Rà soát tổng thể các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan để vừa đáp ứng yêu cầu thực tiễn, vừa thể chế kịp thời các quy định của Đảng liên quan đến chính quyền địa phương 2 cấp.
Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương tham mưu, đề xuất cấp có thẩm quyền tổ chức đánh giá, sơ kết 1 năm thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính các cấp và hoạt động của chính quyền địa phương 2 cấp (dự kiến tổ chức trong tháng 6 năm 2026).
Hướng dẫn, đôn đốc các tỉnh, thành phố khẩn trương triển khai việc công nhận các đơn vị hành chính đô thị ở cấp xã (hoàn thành tháng 6 năm 2026). Chủ động phối hợp với các tỉnh hiện đang xây dựng đề án thành lập thành phố trực thuộc Trung ương trong việc hoàn thiện hồ sơ, thực hiện trình tự, thủ tục đúng quy định.
Chậm nhất ngày 30/4/2026 khai trương Sàn giao dịch việc làm quốc gia
Về nhiệm vụ thúc đẩy thị trường lao động gắn với năng suất lao động, Phó Thủ tướng yêu cầu Bộ Nội vụ tập trung xây dựng, hoàn thiện 2 Đề án: (1) Đề án "Nâng cao năng suất lao động quốc gia gắn với phát triển thị trường lao động đồng bộ, hiện đại, hiệu quả trong giai đoạn mới", (2) Đề án "Báo cáo xin ý kiến về một số nội dung lớn của Nghị định quy định về tổ chức đại diện người lao động và thương lượng tập thể", báo cáo Phó Thủ tướng trước ngày 10 tháng 4 năm 2026.
Thúc đẩy nhanh các sàn giao dịch việc làm, chậm nhất ngày 30 tháng 4 năm 2026 khai trương Sàn giao dịch việc làm quốc gia; hỗ trợ thúc đẩy vận hành sàn giao dịch việc làm tại các địa phương, nâng cao tính linh hoạt, mở rộng, năng động cho thị trường lao động.
Tính toán hoàn thiện, thúc đẩy các thị trường lao động ngoài nước; rà soát thị trường cần điều chỉnh, mở rộng thị trường còn dư địa, phấn đấu năm 2026 đưa khoảng 150.000 lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài.
Tại Công văn 270/TTg-KGVX, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã thống nhất chủ trương hỗ trợ xóa nhà tạm, nhà dột nát đối với con đẻ của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học.
Công văn nêu rõ, việc chăm lo giải quyết nhà ở cho Nhân dân, nhất là người có công với cách mạng, người nghèo, đối tượng chính sách luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm với tinh thần "tương thân, tương ái", "không để ai bị bỏ lại phía sau", "bảo đảm 100% người có công và gia đình người có công với cách mạng được chăm lo tốt về nhà ở".
Thủ tướng Chính phủ thống nhất với đề nghị của Bộ Dân tộc và Tôn giáo tại văn bản số 210/TTr-BDTTG ngày 27 tháng 01 năm 2026 và văn bản số 556/BDTTG-PC ngày 05 tháng 3 năm 2026 về chủ trương hỗ trợ xóa nhà tạm, nhà dột nát cho đối tượng là con đẻ của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học từ nguồn ủng hộ xóa nhà tạm, nhà dột nát còn lại chưa sử dụng thông qua Quỹ "Vì người nghèo" Trung ương; với tiêu chí nhà tạm, nhà dột nát thực hiện theo quy định tại Quyết định số 55/QĐ-BXD ngày 20 tháng 01 năm 2025 của Bộ Xây dựng và mức hỗ trợ theo quy định tại văn bản số 523/TB-VPCP ngày 16 tháng 11 năm 2024; phấn đấu hoàn thành trước ngày 25 tháng 7 năm 2026 để thiết thực kỷ niệm 65 năm Ngày vì nạn nhân chất độc da cam Việt Nam.
Thủ tướng giao Bộ Quốc phòng (Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo quốc gia khắc phục hậu quả bom mìn và chất độc hóa học sau chiến tranh ở Việt Nam) chủ trì, chỉ đạo các đơn vị, lực lượng quân đội phối hợp với Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Bộ Nội vụ, Bộ Xây dựng và các bộ, cơ quan, địa phương liên quan triển khai thực hiện hỗ trợ giúp đỡ, xây dựng để xóa nhà tạm, nhà dột nát cho các đối tượng là con đẻ của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học; theo dõi, đôn đốc, tổng hợp kết quả triển khai hỗ trợ trên phạm vi cả nước, báo cáo Thủ tướng Chính phủ kết quả thực hiện trước ngày 27 tháng 7 năm 2026.
Bộ Nội vụ chủ trì, phối hợp với Bộ Quốc phòng, Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam, Trung tâm hành động quốc gia khắc phục hậu quả chất độc hóa học và môi trường và các địa phương rà soát đối tượng hỗ trợ bảo đảm chính xác, đầy đủ theo tiêu chí quy định, tránh bỏ sót, trùng lặp.
Bộ Dân tộc và Tôn giáo, Bộ Tài chính, Bộ Xây dựng, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và các bộ, cơ quan, địa phương liên quan theo chức năng, nhiệm vụ được giao phối hợp chặt chẽ với Bộ Quốc phòng trong tổ chức triển khai thực hiện.
Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố phê duyệt danh sách các hộ cần hỗ trợ; phân công cơ quan chuyên môn để triển khai hỗ trợ trên địa bàn; công bố thiết kế một số mẫu nhà ở điển hình phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương kèm theo dự toán, vật liệu và hướng dẫn kỹ thuật để các hộ gia đình tham khảo, lựa chọn; bố trí đất ở phù hợp với điều kiện địa phương (nếu chưa có đất); tiến hành rà soát nhu cầu thiết yếu để huy động các nguồn lực hỗ trợ (kinh phí, lực lượng hỗ trợ và nguồn lực khác) cho các hộ trên địa bàn và giám sát việc thực hiện theo quy định; chủ trì triển khai hiệu quả, đúng đối tượng trên địa bàn; phối hợp với lực lượng quân đội; kêu gọi nhân dân địa phương giúp đỡ trên tinh thần "ai có gì giúp nấy, ai có của giúp của, ai có công giúp công, ai có ít giúp ít, ai có nhiều giúp nhiều" để xây dựng, sửa chữa giúp các hộ gia đình được thụ hưởng có nhà trước ngày 27 tháng 7 năm 2026.
Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam và các cơ quan thông tấn, báo chí khác kịp thời tuyên truyền, tạo đồng thuận xã hội về chủ trương hỗ trợ nhà ở cho đối tượng là con đẻ của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học.
Thủ tướng đề nghị Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phân bổ kinh phí xóa nhà tạm, nhà dột nát cho các đối tượng thông qua Quỹ "Vì người nghèo" do Ủy ban Mặt trận Tổ quốc địa phương quản lý trên cơ sở danh sách được Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố phê duyệt để tổ chức hỗ trợ theo quy định, bảo đảm đúng đối tượng, kịp thời, hiệu quả; chủ trì, phối hợp với Bộ Dân tộc và Tôn giáo, các bộ, cơ quan, địa phương liên quan rà soát việc quản lý, sử dụng kinh phí hỗ trợ của các tổ chức, cá nhân thông qua Quỹ "Vì người nghèo", đề xuất, kiến nghị cụ thể đối với các khó khăn, vướng mắc (nếu có), trình cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.
Thủ tướng lưu ý trong quá trình triển khai thực hiện các bộ, cơ quan, địa phương, đơn vị tuân thủ đúng quy định của pháp luật, bảo đảm công khai, minh bạch, công bằng, đúng đối tượng, đúng mục đích và phù hợp với điều kiện thực tế; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát nhằm kịp thời phát hiện, xử lý các vướng mắc phát sinh, không để xảy ra tiêu cực, thất thoát, lãng phí; kịp thời báo cáo cấp có thẩm quyền đối với những vấn đề vượt thẩm quyền.
Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà - Trưởng Ban Chỉ đạo quốc gia về tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ vừa ký các Quyết định quy định quy chế hoạt động và Kế hoạch thực hiện của Ban Chỉ đạo quốc gia này.
Quy chế hoạt động của Ban Chỉ đạo quốc gia về tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ
Theo Quyết định số 23/QĐ-BCĐQG, Ban Chỉ đạo quốc gia về tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ (Ban Chỉ đạo quốc gia) được thành lập theo Quyết định số 245/QĐ-TTg ngày 05 tháng 02 năm 2026 của Thủ tướng Chính phủ có trách nhiệm giúp Thủ tướng Chính phủ quản lý, chỉ đạo công tác tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ.
Ban Chỉ đạo quốc gia thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo Quyết định số 245/QĐ-TTg ngày 05 tháng 02 năm 2026 của Thủ tướng Chính phủ.
Văn phòng Ban Chỉ đạo quốc gia đặt tại Bộ Quốc phòng là cơ quan giúp việc Ban Chỉ đạo quốc gia. Thành viên gồm: Chánh Văn phòng là Cục trưởng Cục Chính sách - Xã hội, Tổng cục Chính trị; Phó Chánh Văn phòng là Lãnh đạo Cục Người có công, Bộ Nội vụ và Phó Cục trưởng Cục Chính sách - Xã hội, Tổng cục Chính trị; Ủy viên văn phòng là cán bộ chuyên viên một số cơ quan, đơn vị trong và ngoài quân đội.
Chương trình hoạt động của Ban Chỉ đạo quốc gia giai đoạn 2026 - 2030
Quyết định số 24/QĐ-BCĐQG nêu rõ, giai đoạn từ tháng 01/2026 đến tháng 7/2027, kiện toàn Ban Chỉ đạo quốc gia về tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ; xây dựng, triển khai Thông tư quy định, hướng dẫn thực hiện một số chế độ, chính sách và công tác bảo đảm đối với cá nhân, tổ chức làm nhiệm vụ tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ; khảo sát, xây dựng, triển khai dự án rà phá bom mìn, vật nổ các tỉnh biên giới phía Bắc phục vụ tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ; chỉ đạo xây dựng, triển khai Chương trình thực hiện nhiệm vụ tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ còn thiếu thông tin giai đoạn 2026 - 2030; khảo sát, xây dựng kế hoạch rà phá bom mìn, vật nổ phục vụ tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ trên địa bàn cả nước; chỉ đạo các cơ quan, đơn vị, địa phương liên quan tổ chức lấy mẫu hài cốt liệt sĩ đối với các mộ chưa xác định được thông tin trong nghĩa trang liệt sĩ...
Mục tiêu từ nay đến tháng 7 năm 2027 (dịp kỷ niệm 80 năm ngày Thương binh - Liệt sĩ 27/7/1947 - 27/7/2027), phấn đấu tìm kiếm, quy tập được khoảng 7.000 hài cốt liệt sĩ; hoàn thành việc lấy mẫu hài cốt liệt sĩ đối với các mộ chưa xác định được thông tin trong các nghĩa trang liệt sĩ và hài cốt liệt sĩ tìm kiếm, quy tập được; giám định ADN khoảng 18.000 mẫu hài cốt liệt sĩ; xây dựng và đưa vào vận hành cơ sở dữ liệu Gen thân nhân liệt sĩ chưa xác định được thông tin.
Giai đoạn từ tháng 8/2027 đến tháng 12/2030, Ban Chỉ đạo quốc gia tập trung triển khai các dự án rà phá bom mìn, vật nổ các tỉnh biên giới phía Bắc và trên địa bàn cả nước; tập trung tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ, ở địa bàn trong nước, tại các khu vực trọng điểm còn nhiều hài cốt liệt sĩ; tập trung giám định ADN, từ khoảng 30.000 - 50.000 mẫu hài cốt liệt sĩ; nghiên cứu xây dựng kế hoạch tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ khu vực biên giới Lào - Thái Lan, Campuchia - Thái Lan, Việt Nam - Trung Quốc và trên biển; chuẩn hóa hệ thống cơ sở dữ liệu về liệt sĩ, mộ liệt sĩ và thân nhân liệt sĩ...
Theo Kế hoạch tại Quyết định số 25/QĐ-BCĐQG, năm 2026, Ban Chỉ đạo quốc gia sẽ tập trung thực hiện kiện toàn Ban Chỉ đạo về tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ các cấp; chỉ đạo triển khai dự án rà phá bom mìn, vật nổ tại các địa bàn trọng điểm, vùng lõi như Vị Xuyên (tỉnh Tuyên Quang), Lào Cai, Lạng Sơn để phục vụ nhiệm vụ tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ; chỉ đạo xây dựng, triển khai Kế hoạch thực hiện nhiệm vụ tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ còn thiếu thông tin năm 2026; tổ chức Lễ phát động "Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ"; hướng tới kỷ niệm 80 năm ngày Thương binh - Liệt sĩ; nghiên cứu, xây dựng, trình Chính phủ ban hành Nghị quyết đặc thù về cơ chế, chính sách trong công tác giám định ADN và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ; triển khai đồng bộ lấy mẫu hài cốt liệt sĩ đối với các mộ chưa xác định được thông tin trong nghĩa trang liệt sĩ trên toàn quốc...
Kế hoạch tổ chức lấy mẫu hài cốt liệt sĩ đối với các mộ chưa xác định được thông tin trong nghĩa trang liệt sĩ để giám định ADN
Quyết định số 26/QĐ-BCĐQG nêu rõ: Tổ chức lấy mẫu hài cốt liệt sĩ đối với các mộ chưa xác định được thông tin trong nghĩa trang liệt sĩ (NTLS) trên toàn quốc, tạo nền tảng triển khai giám định ADN xác định danh tính hài cốt liệt sĩ trong các năm tiếp theo, đáp ứng nguyện vọng và yêu cầu công tác tri ân, chính sách đối với người có công với cách mạng theo kết luận của đồng chí Tổng Bí thư và đồng chí Phó Thủ tướng Chính phủ, Trưởng Ban chỉ đạo quốc gia.
Nội dung của Kế hoạch tổ chức lấy mẫu hài cốt liệt sĩ đối với các mộ chưa xác định được thông tin trong nghĩa trang liệt sĩ để giám định ADN gồm: Tổ chức khảo sát, nghiên cứu, xây dựng và ban hành Kế hoạch lấy mẫu hài cốt liệt sĩ; các văn bản quy định, hướng dẫn về cơ chế, chính sách và công tác bảo đảm cho công tác lấy mẫu hài cốt liệt sĩ.
Tổ chức phát động "Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ" (Chiến dịch 500 ngày đêm); tổ chức quán triệt, triển khai Kế hoạch lấy mẫu hài cốt liệt sĩ đối với các cơ quan, đơn vị, địa phương trên phạm vi toàn quốc.
Tổ chức lực lượng (bộ phận chỉ đạo; chuyên môn, chuyên trách, trưng dụng lâm thời...); bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ; tiến hành công tác bảo đảm (cơ sở vật chất, phương tiện, trang thiết bị, hạ tầng công nghệ...) cho công tác lấy mẫu hài cốt liệt sĩ.
Ban Chỉ đạo các cấp và các cơ quan, đơn vị, địa phương lập kế hoạch tổ chức lấy mẫu hài cốt liệt sĩ (HCLS) trong từng NTLS gắn với từng địa phương (làm trước, tổ chức rút kinh nghiệm, triển khai diện rộng).
Tăng cường công tác kiểm tra, chỉ đạo bảo đảm tiến độ, yêu cầu. Tiến hành chặt chẽ, đồng bộ công tác thống kê; cập nhật dữ liệu vào phần mềm quản lý thông tin mẫu HCLS; bàn giao, lưu trữ mẫu HCLS đã được thu thập.
Tổ chức hoàn trả mặt bằng mộ liệt sĩ; tu bổ, tôn tạo NTLS sau khi khai quật, lấy mẫu; duy trì và thực hiện nghiêm túc chế độ báo cáo; tổ chức sơ, tổng kết công tác tổ chức lấy mẫu HCLS và Chiến dịch 500 ngày đêm theo quy định...
Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà ký Quyết định số 463/QĐ-TTg ngày 22/3/2026 ban hành Kế hoạch triển khai Phong trào thi đua "Phát triển mạnh doanh nghiệp tư nhân, nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước" (Kế hoạch).

Phát triển doanh nghiệp tư nhân, nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước.
Kế hoạch nhằm phát huy sức mạnh của hệ thống chính trị, khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, thi đua đưa đất nước phát triển mạnh mẽ trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc; cụ thể hóa kịp thời, hiệu quả các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân, góp phần quan trọng thực hiện thành công các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, hướng tới mục tiêu 100 năm thành lập Đảng (năm 2030) và 100 năm thành lập nước (năm 2045).
Đổi mới tư duy, phát huy mạnh mẽ nguồn lực đất nước, chung sức, đồng lòng, vượt qua mọi khó khăn, biến khát vọng thành hành động, biến tiềm năng thành sức mạnh thực tế, tạo khí thế thi đua sôi nổi, động lực thúc đẩy doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp tư nhân phát triển nhanh, bền vững, hiệu quả, doanh nghiệp nhà nước đóng vai trò tiên phong, kiến tạo, phát triển, dẫn dắt mở đường, cơ cấu lại nền kinh tế, góp phần thúc đẩy tăng trưởng, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, đưa đất nước tiến mạnh trên con đường hiện đại hóa, hội nhập quốc tế.
Thông qua phong trào thi đua, khơi dậy tinh thần chủ động sáng tạo, khát vọng vươn lên, tạo động lực thúc đẩy doanh nghiệp tự lực, tự cường, đoàn kết, phát huy tinh thần kinh doanh, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, ứng dụng khoa học công nghệ, nâng cao năng suất lao động, sử dụng hiệu quả các nguồn lực, góp phần tạo việc làm, tăng thu ngân sách, bảo đảm an sinh xã hội và phát triển bền vững.
Phấn đấu tăng trưởng GDP giai đoạn 2026 - 2030 đạt 10%/năm trở lên
Theo Kế hoạch đề ra, phấn đấu tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân giai đoạn 2026 - 2030 đạt 10%/năm trở lên; tốc độ tăng năng suất lao động xã hội đạt khoảng 8,5%/năm, tỷ trọng kinh tế số đạt khoảng 30% GDP.
Có gần 2 triệu doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế, 20 doanh nghiệp hoạt động/nghìn dân, có ít nhất 20 doanh nghiệp lớn tham gia chuỗi giá trị toàn cầu. Tốc độ tăng trưởng bình quân của kinh tế tư nhân đạt khoảng 10 - 12%/năm, đóng góp khoảng 55 - 58% GDP, khoảng 35 - 40% tổng thu ngân sách, giải quyết việc làm cho khoảng 84 - 85% tổng số lao động.
Riêng đối với doanh nghiệp Nhà nước, có 50 doanh nghiệp nhà nước vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á và từ 01 - 03 doanh nghiệp nhà nước vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới; có ít nhất 3 ngân hàng thương mại nhà nước thuộc nhóm 100 ngân hàng lớn nhất khu vực châu Á về tổng tài sản.
Trình độ, năng lực công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số thuộc nhóm 3 nước đứng đầu ASEAN và nhóm 5 nước đứng đầu khu vực châu Á.
Xây dựng và triển khai hiệu quả chương trình phát triển 1.000 doanh nghiệp tiêu biểu, tiên phong trong đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, kinh tế tuần hoàn, phát triển các ngành công nghệ cao, công nghệ mới nổi.
Đổi mới môi trường kinh doanh thông thoáng, minh bạch; kịp thời tháo gỡ các điểm nghẽn, nút thắt về thể chế
Để thực hiện được các mục tiêu nêu trên, các bộ, ban, ngành, địa phương, tổ chức, doanh nghiệp, doanh nhân triển khai phong trào thi đua với chủ đề, nội dung phù hợp; phấn đấu đạt, vượt và về đích sớm các mục tiêu cơ bản của Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV và Nghị quyết số 68, Nghị quyết số 79, tập trung thi đua thực hiện các nội dung chủ yếu sau:
Các bộ, ban, ngành, địa phương thi đua đổi mới tư duy, thống nhất cao về nhận thức và hành động với phương châm: chuyển mạnh từ quản lý hành chính sang kiến tạo phát triển, quản trị hiện đại, hành động quyết liệt, đồng hành, hỗ trợ doanh nghiệp phát triển nhanh, bền vững.
Thi đua đổi mới, hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, minh bạch, kịp thời tháo gỡ các điểm nghẽn, nút thắt về thể chế, phân cấp, phân quyền, tạo lập môi trường thuận lợi, công bằng, minh bạch cho các khu vực kinh tế trong khai thác và sử dụng nguồn lực quốc gia.
Thi đua đổi mới môi trường kinh doanh thông thoáng, minh bạch, ổn định, an toàn, tối ưu hóa; số hóa, xanh hóa, thông minh hóa, tự động hóa, bảo đảm khả năng cạnh tranh khu vực và toàn cầu.
Hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo; thúc đẩy mô hình PPP và chuỗi giá trị nội địa hóa
Đồng thời, thi đua hỗ trợ doanh nghiệp phát triển, trên các nội dung:
Hỗ trợ, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp tiếp cận các nguồn lực về đất đai, tài nguyên, vốn, nhân lực chất lượng cao; hỗ trợ xác lập, quản lý, phát triển tài sản trí tuệ; xây dựng và áp dụng các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến... với phương châm hài hóa hóa lợi ích của Nhà nước, nhân dân và doanh nghiệp, giữa doanh nghiệp Nhà nước và doanh nghiệp tư nhân.
Hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp, doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, doanh nghiệp đầu tư vào nghiên cứu phát triển, đào tạo, ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển giao công nghệ, tham gia chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng.
Hỗ trợ phát triển cụm liên kết ngành, xúc tiến thương mại, hợp tác sản xuất - cung ứng, thúc đẩy mô hình PPP (Public- Private Partnership) và chuỗi giá trị nội địa hóa; tăng cường kết nối giữa các doanh nghiệp trong nước, giữa các doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; thúc đẩy hộ kinh doanh trở thành doanh nghiệp, doanh nghiệp nhỏ trở thành doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp lớn trở thành doanh nghiệp lớn hơn, doanh nghiệp toàn cầu, đa quốc gia.
Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, kinh tế tuần hoàn
Doanh nghiệp thi đua nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, kinh tế tuần hoàn, phát triển các ngành công nghệ cao, tự động hóa, trí tuệ nhân tạo, công nghệ mới nổi, tích hợp khoa học công nghệ vào các sản phẩm và dịch vụ, giảm chi phí giá thành sản phẩm, tăng doanh thu, lợi nhuận, tạo hệ thống phân phối đến người tiêu dùng.
Thi đua đổi mới phương thức đánh giá và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp gắn với quản trị doanh nghiệp theo các nguyên tắc, chuẩn mực tiên tiến của quốc tế, tạo nhiều việc làm, thực hiện tốt chế độ chính sách, chăm lo đời sống vật chất tinh thần cho người lao động. Gương mẫu, thực hiện tốt nghĩa vụ nộp thuế với nhà nước, bảo vệ môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm...
Thi đua xây dựng đội ngũ doanh nhân hiện đại, bản lĩnh, trí tuệ, đạo đức, văn hoá kinh doanh, trung thực, nâng cao trách nhiệm xã hội, trách nhiệm với cộng đồng doanh nghiệp, gắn với bản sắc dân tộc và vươn tầm thế giới.
Phong trào thi đua được triển khai thực hiện từ năm 2026 đến năm 2030, chia thành 2 giai đoạn:
Giai đoạn 1 (từ năm 2026 - ngày 11/6/2028): Các bộ, ban, ngành, địa phương xây dựng, ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Phong trào, các tiêu chí thi đua phù hợp trong quý II/2026; tổ chức triển khai thực hiện Phong trào thi đua hiệu quả, thiết thực; tiến hành sơ kết, đánh giá, rút kinh nghiệm ở cấp bộ, ngành, địa phương và cấp trung ương vào dịp kỷ niệm 80 năm ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi thi đua ái quốc (11/6/1948 - 11/6/2028) để triển khai giai đoạn tiếp theo.
Giai đoạn 2 (từ tháng 7/2028 - năm 2030): Trên cơ sở sơ kết, đánh giá kết quả việc thực hiện Giai đoạn 1, Bộ Nội vụ chủ trì, tham mưu Hội đồng Thi đua - Khen thưởng Trung ương tiếp tục triển khai Giai đoạn 2 của Phong trào thi đua và tổng kết vào cuối năm 2030.
Phó Thủ tướng Bùi Thanh Sơn ký Quyết định số 457/QĐ-TTg ban hành danh sách các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Bộ Ngoại giao.
Theo đó, các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Bộ Ngoại giao gồm:
1- Cục Phục vụ Ngoại giao đoàn.
2- Trung tâm Vận tải đối ngoại V75.
Quyết định này có hiệu lực từ ngày 20/3/2026; thay thế Quyết định số 1642/QĐ-TTg ngày 29/12/2022 của Thủ tướng Chính phủ ban hành danh sách các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Bộ Ngoại giao.
Bộ trưởng Bộ Ngoại giao ban hành Quyết định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của các đơn vị trên.
Đồng thời, Bộ Ngoại giao quyết định theo thẩm quyền và thực hiện trình tự, thủ tục giải thể Nhà khách Chính phủ theo quy định pháp luật hiện hành.
Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà ký Quyết định số 462/QĐ-TTg ngày 22/3/2026 ban hành Kế hoạch triển khai Phong trào thi đua "Đổi mới sáng tạo, phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh" (Kế hoạch).
Mục đích của Kế hoạch nhằm tạo khí thế thi đua sôi nổi, khơi dậy tinh thần chủ động, sáng tạo, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, các tầng lớp Nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp trong việc ứng dụng khoa học, công nghệ, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh vào hoạt động quản lý, sản xuất, kinh doanh và đời sống xã hội.
Đồng thời, khơi dậy mạnh mẽ khát vọng phát triển quốc gia, phát huy tính chủ động, sáng tạo trong toàn hệ thống chính trị và trong Nhân dân, tự lực tự cường, khai thác tối đa năng lực nội sinh, với quan điểm: Người dân là trung tâm, là chủ thể và là mục tiêu của phát triển, trong đó chất lượng môi trường sống được coi là thước đo quan trọng phản ánh hiệu quả và tính bền vững của tăng trưởng kinh tế - xã hội.
Thông qua phong trào thi đua, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển đất nước theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng.
Nội dung phong trào thi đua
Để góp phần hoàn thành, vượt và về đích sớm các mục tiêu cơ bản tại các Nghị quyết của Trung ương, Chính phủ về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, các bộ, ban, ngành, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (bộ, ngành, địa phương), tổ chức, doanh nghiệp tổ chức các phong trào thi đua với chủ đề, nội dung phù hợp, tập trung thi đua thực hiện các nội dung chủ yếu sau:
- Thi đua tạo đột phá trong tư duy, nhận thức và hành động: xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi "xanh - số" là động lực then chốt của tăng trưởng, là nền tảng nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh; là công cụ nâng cao hiệu quả quản trị, năng lực tự chủ quốc gia và bảo đảm quốc phòng an ninh;
- Thi đua phát triển hạ tầng số, hạ tầng xanh hiện đại, đồng bộ, an ninh, an toàn, hiệu quả;
- Thi đua đổi mới sáng tạo, ứng dụng mạnh mẽ chuyển đổi số, chuyển đổi xanh trong mọi hoạt động và trong hợp tác quốc tế;
- Thi đua phát triển kinh tế số, xã hội số, Chính phủ số, chính quyền số, công dân số gắn với phong trào "Bình dân học vụ số" và các nền tảng số với mục tiêu "3 an": an ninh, an toàn và an dân;
- Thi đua chuyển đổi xanh, chống biến đổi khí hậu trong phát triển kinh tế nhanh và bền vững.
Tiêu chí thi đua
Đối với các bộ, ngành, địa phương
- Hoàn thành có chất lượng, đạt, vượt và về đích sớm các mục tiêu cơ bản, thực hiện toàn diện các nhiệm vụ, giải pháp được giao tại các Nghị quyết của Trung ương, của Chính phủ về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh.
- Phát triển đồng bộ công nghiệp - nông nghiệp - dịch vụ theo chuỗi giá trị; nâng cao năng lực tự chủ về công nghệ và chuỗi cung ứng trong những lĩnh vực trọng yếu; cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, khai thác và sử dụng tiết kiệm, hiệu quả năng lượng, tài nguyên, phat triển kếu cấu hạ tầng xanh, bền vững, xây dựng lối sống xanh.
- Kịp thời ban hành hoặc tham mưu, đề xuất cấp có thẩm quyền ban hành đồng bộ các quy định pháp luật về khoa học, công nghệ, đầu tư, đầu tư công… để tháo gỡ các điểm nghẽn, rào cản về thể chế, chính sách trong phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và nguồn nhân lực chất lượng cao; cải cách phương thức quản lý, cơ chế quản lý tài chính, đơn giản hóa tối đa thủ tục hành chính.
- Thực hiện có chất lượng, hiệu quả việc chuyển đổi số, ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi xanh trong hoạt động của bộ, ngành, địa phương, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trên các lĩnh vực, bảo đảm quốc phòng, an ninh.
- Xây dựng và ban hành cơ chế, chính sách ưu đãi, khuyến khích, hỗ trợ doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp vừa và nhỏ đầu tư cho chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, nghiên cứu, ứng dụng khoa học, đổi mới công nghệ để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, quản trị và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Thu hút, sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực đầu tư cho phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh.
Đối với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội
- Tổ chức được các hoạt động cụ thể, thiết thực, hiệu quả, huy động sự tham gia phối hợp giữa cấp ủy, chính quyền, cơ quan liên quan trong việc phổ biến, tuyên truyền, vận động đoàn viên, hội viên và Nhân dân hiểu rõ ý nghĩa, mục đích, tầm quan trọng và có nhiều hoạt động thiết thực thực hiện chuyển đổi số, chuyển đổi xanh.
- Có sáng kiến, giải pháp triển khai sâu rộng phong trào học tập số, bình dân học vụ số, góp phần phổ cập, nâng cao kiến thức khoa học, công nghệ, từng bước tạo lập môi trường và hình thành văn hóa, lối sống xanh trong mỗi đoàn viên, hội viên; phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội, tham gia xây dựng pháp luật, cơ chế, chính sách về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh.
Đối với các doanh nghiệp
- Xây dựng tầm nhìn, chiến lược lâu dài, bền vững, có cấu trúc kinh doanh chủ động, linh hoạt; văn hóa đổi mới mạnh mẽ. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế, nghiên cứu, phát triển và đổi mới sáng tạo trong môi trường số.
- Chuyển từ ứng dụng và làm chủ công nghệ sang xây dựng năng lực sáng tạo đột phá. Đầu tư nghiên cứu các giải pháp mới thông minh, công nghệ quản lý; ứng dụng công nghệ số và tự động hóa, tích hợp các công nghệ vào các sản phẩm và dịch vụ, gắn với phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Đẩy mạnh chuyển giao tri thức, đào tạo nhân lực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo
- Cải cách mô hình quản lý, mở rộng năng lực áp dụng các công nghệ mới, số hoá và phát triển các sản phẩm, dịch vụ có tính đột phá để tạo ra sự khác biệt và cạnh tranh trên thị trường.
- Chủ động tham gia bảo vệ môi trường, tối ưu hóa khả năng sản xuất, kinh doanh thông qua tiết kiệm nguyên - nhiên vật liệu, sử dụng nguyên vật liệu tái tạo, giảm khí nhà kính, vận hành kinh tế tuần hoà, áp dụng tiêu chuẩn quản lý môi trường và tối ưu hóa vận chuyển để giảm phát thải…
Đối với cá nhân
- Cán bộ, công chức, viên chức nỗ lực, có sáng kiến, giải pháp sáng tạo trong việc xây dựng, ban hành hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành, tổ chức thực hiện, kiểm tra, hướng dẫn việc thực hiện cơ chế, chính sách, quy định, thủ tục hành chính để tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, góp phần thực hiện hiệu quả Phong trào thi đua.
- Đối tượng khác: Có nhiều đóng góp về công sức, trí tuệ, vật chất, sáng kiến vào quá trình phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh.
Hình thức khen thưởng
Hình thức khen thưởng gồm: Khen thưởng hàng năm; khen thưởng sơ kết và khen thưởng tổng kết. Trong đó:
Khen thưởng hàng năm: Căn cứ kết quả thực hiện Phong trào thi đua của các tập thể, cá nhân, các bô, ban, ngành, địa phương thực hiện khen thưởng theo thẩm quyền đúng quy định của pháp luật về thi đua, khen thưởng.
Khen thưởng sơ kết và khen thưởng tổng kết:
Khen thưởng sơ kết gồm có: Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ; Bằng khen của bộ, ban, ngành, tỉnh; Giấy khen.
Khen thưởng tổng kết gồm có: Huân chương Lao động; Cờ Thi đua của Chính phủ; Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ; Cờ Thi đua của bộ, ban, ngành, tỉnh; Bằng khen bộ, ban, ngành, tỉnh; Giấy khen.
Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính vừa ký Quyết định số 468/QĐ-TTg ngày 23/3/2026 phê duyệt Chương trình "Bảo vệ và hỗ trợ trẻ em phát triển trên môi trường mạng giai đoạn 2026 - 2030" (Chương trình).

Bảo vệ và hỗ trợ trẻ em phát triển trên môi trường mạng
Chương trình nhằm thực hiện "mục tiêu kép" là tăng cường bảo vệ trẻ em và hỗ trợ, thúc đẩy trẻ em phát triển lành mạnh, tích cực, nâng cao năng lực số trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia, hướng tới góp phần hình thành thế hệ "công dân số" của Việt Nam trong tình hình mới.
Chuyển dịch cơ bản hoạt động bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng trở thành mô hình phòng ngừa, ngăn chặn chủ động các mối nguy hại đối với trẻ em trên môi trường mạng.
Hình thành kiến trúc tổng thể bảo vệ trẻ em, thúc đẩy trẻ em phát triển lành mạnh, tích cực trên môi trường mạng, thông qua việc xây dựng, củng cố các trụ cột, gồm: (1) Hệ thống pháp lý về an ninh mạng, bảo vệ trẻ em được củng cố; (2) Chiến lược truyền thông, giáo dục nâng cao nhận thức thống nhất, xuyên suốt giai đoạn và triển khai ở quy mô quốc gia; (3) Các giải pháp an ninh mạng hỗ trợ quản lý hoạt động của trẻ em và bảo vệ trẻ em khi tham gia môi trường mạng, giải pháp giáo dục kỹ năng số, tư vấn, hỗ trợ thông minh được phổ cập và dễ tiếp cận với trẻ em; (4) Các lực lượng liên ngành được nâng cao năng lực thường xuyên, hiện đại và hiệp đồng hiệu quả; (5) Khả năng "miễn dịch chủ động" của trẻ em dựa trên kết quả giáo dục về kiến thức, kỹ năng an toàn trên môi trường mạng.
Phấn đấu 100% doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet tích hợp giải pháp chặn nội dung độc hại
Trong giai đoạn 2026-2030, phấn đấu 100% cơ sở giáo dục phổ thông được triển khai giải pháp an ninh mạng và 100% doanh nghiệp cung cấp dịch vụ truy nhập Internet tại Việt Nam tích hợp giải pháp ngăn chặn thông tin độc hại trên đường truyền mạng.
Xây dựng và triển khai tại 100% các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương giải pháp công nghệ hỗ trợ giáo dục kỹ năng số, tư vấn, hỗ trợ thông minh cho trẻ em.
Đảm bảo 100% trẻ em là nạn nhân bị xâm hại trên môi trường mạng được hỗ trợ, can thiệp khi có yêu cầu từ bản thân trẻ em hoặc từ người thân, cộng đồng xã hội.
11 nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm
Để thực hiện các mục tiêu trên, Kế hoạch đưa ra 11 nhiệm vụ, giải pháp để các bộ, ngành, địa phương triển khai thực hiện như sau:
1- Tiếp tục củng cố, hoàn thiện hành lang pháp lý;
2- Đảm bảo quyền tham gia và phát huy tối đa tiếng nói, trí tuệ của trẻ em; thu hẹp khoảng cách số và mức độ tiếp cận thông tin số của trẻ em giữa các vùng, miền;
3- Thúc đẩy phát triển, phổ cập các giải pháp an ninh mạng hỗ trợ bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng và giải pháp giáo dục kỹ năng số cho trẻ em;
4- Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, gia tăng trách nhiệm của doanh nghiệp trong thực hiện các giải pháp bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng;
5- Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, hiện đại hóa các hệ thống thông tin phục vụ công tác bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng;
6- Triển khai các hoạt động truyền thông thống nhất, đồng bộ ở quy mô quốc gia; các hoạt động nâng cao nhận thức xã hội và thúc đẩy trách nhiệm, vai trò đồng hành của gia đình;
7- Thúc đẩy sản xuất, lan tỏa các sản phẩm văn hóa, văn học, nghệ thuật đại chúng, nội dung giải trí số lành mạnh, bồi dưỡng tâm hồn, thúc đẩy tư duy, sáng tạo cho trẻ em;
8- Nâng cao năng lực cho lực lượng chuyên trách; phòng ngừa, ngăn chặn các mối nguy hại, rủi ro và đấu tranh, xử lý nghiêm minh các hành vi xâm hại trẻ em trên môi trường mạng;
9- Củng cố công tác phối hợp liên ngành, đảm bảo thông suốt, thường trực và hiệp đồng hiệu quả;
10- Tăng cường hợp tác quốc tế;
11- Đảm bảo cơ chế kiểm tra, giám sát, đánh giá, sơ kết, tổng kết về kết quả triển khai; có cơ chế biểu dương, khen thưởng, vinh danh các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc.
Phó Thủ tướng Thường trực Nguyễn Hòa Bình ký Quyết định số 459/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tiếp công dân, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng (Kế hoạch).
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tiếp công dân, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo số 136/2025/QH15 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng số 132/2025/QH15 được Quốc hội khoá XV, Kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10 tháng 12 năm 2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
Để triển khai thi hành kịp thời, đồng bộ, thống nhất, hiệu lực và hiệu quả, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tiếp công dân, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo (Luật số 136/2025/QH15) và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng (Luật số 132/2025/QH15) nhằm mục đích xác định trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc triển khai thi hành Luật số 136/2025/QH15 và Luật số 132/2025/QH15, bảo đảm kịp thời, đồng bộ, thống nhất, hiệu lực, hiệu quả; xác định cụ thể nội dung công việc, thời hạn, tiến độ hoàn thành và các điều kiện khác nhằm bảo đảm việc xây dựng đúng tiến độ, chất lượng các văn bản hướng dẫn thi hành Luật số 136/2025/QH15 và Luật số 132/2025/QH15 thuộc trách nhiệm của các bộ, ngành, cơ quan có liên quan.
Xác định trách nhiệm và cơ chế phối hợp giữa các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong các hoạt động triển khai thi hành Luật số 136/2025/QH15 và Luật số 132/2025/QH15 trên phạm vi cả nước.
Đồng thời, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp, các ngành, địa phương và các tổ chức, cá nhân trong việc thi hành Luật số 136/2025/QH15 và Luật số 132/2025/QH15 và định hướng ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trong tổ chức thi hành pháp luật về tiếp công dân, khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng, bảo đảm quản lý thống nhất, hiệu quả và minh bạch.
Nội dung của Kế hoạch gồm: Tổ chức quán triệt, phổ biến, tuyên truyền nội dung Luật số 136/2025/QH15 và Luật số 132/2025/QH15; rà soát văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến quy định của Luật số 136/2025/QH15 và Luật số 132/2025/QH15; xây dựng các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật số 136/2025/QH15 và Luật số 132/2025/QH15; xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo; cơ sở dữ liệu quốc gia về kiểm soát tài sản, thu nhập; theo dõi, kiểm tra công tác tổ chức thi hành pháp luật về tiếp công dân, khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng.
Trong đó, các cơ quan chức năng liên quan sẽ xây dựng, trình Chính phủ ban hành: Nghị định quy định chi tiết một số điều và hướng dẫn thi hành Luật Tiếp công dân (thay thế Nghị định số 64/2014/NĐ-CP ngày 26 tháng 6 năm 2014 của Chính phủ); Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 124/2020/NĐ-CP ngày 19 tháng 10 năm 2020 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và hướng dẫn thi hành Luật Khiếu nại; Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 31/2019/NĐ-CP ngày 10 tháng 4 năm 2019 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và hướng dẫn thi hành Luật Tố cáo; Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 55/2022/NĐ-CP ngày 23 tháng 8 năm 2022 của Chính phủ quy định Cơ sở dữ liệu quốc gia về công tác tiếp công dân, xử lý đơn, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh; Nghị định quy định chi tiết một số điều và hướng dẫn thi hành Luật Phòng, chống tham nhũng (thay thế Nghị định số 59/2019/NĐ-CP ngày 01 tháng 7 năm 2019 của Chính phủ); Nghị định quy định về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị (thay thế Nghị định số 130/2020/NĐ-CP ngày 30 tháng 10 năm 2020 của Chính phủ)./.