Phó Thủ tướng Bùi Thanh Sơn ký Quyết định số 309/QĐ-TTg ngày 23/2/2026 phê duyệt Chiến lược phát triển ngành sữa giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 (Chiến lược).

Phát triển bền vững và xanh hóa ngành công nghiệp chế biến sữa.
Mục tiêu là xây dựng ngành công nghiệp chế biến sữa Việt Nam phát triển bền vững với chuỗi giá trị ngành sữa hoàn chỉnh từ khâu phát triển đàn bò sữa, tăng sản lượng sữa tươi nguyên liệu đến chế biến thành phẩm giá trị gia tăng cao. Ngành sữa đáp ứng cơ bản nhu cầu ngày càng cao của thị trường trong nước và tham gia ngày càng sâu trong chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng sữa khu vực và toàn cầu.
Chiến lược phấn đấu đến năm 2030, tốc độ tăng trưởng ngành sữa bình quân hàng năm khoảng 12,0% - 14,0%/năm. Sản lượng sữa lỏng chế biến đạt khoảng 4.200 triệu lít/năm. Sản lượng sữa tươi nguyên liệu trong nước đạt khoảng 2.600 triệu lít/năm. Sữa tươi nguyên liệu trong nước đáp ứng khoảng 60% - 65% nhu cầu của ngành chế biến sữa trong nước. Sữa bột tăng trưởng khoảng 7,0% - 8,0%/năm, sản lượng sữa bột đạt khoảng 245 nghìn tấn/năm. Phấn đấu mức tiêu thụ bình quân sữa và sản phẩm sữa đạt khoảng 40 lít/người/năm.
Đến năm 2045, tốc độ tăng trưởng ngành sữa bình quân hàng năm từ 5,0% - 6,0%/năm. Sản lượng sữa lỏng chế biến đạt khoảng 9.700 triệu lít/năm. Sản lượng sữa tươi nguyên liệu trong nước đạt khoảng 8.000 triệu lít/năm. Sữa bột tăng trưởng khoảng 3,0% - 4,0%/năm, sản lượng sữa bột đạt khoảng 415 nghìn tấn/năm. Phấn đấu mức tiêu thụ bình quân sữa và sản phẩm sữa đạt khoảng 100 lít/người/năm. Sữa tươi nguyên liệu trong nước đáp ứng khoảng 80% - 85% nhu cầu của ngành chế biến sữa trong nước.
Với mục tiêu trên, Chiến lược đưa ra định hướng phát triển ngành sữa là: Xây dựng chuỗi chăn nuôi bò sữa đảm bảo an toàn dịch bệnh, an toàn thực phẩm theo tiêu chuẩn quốc tế. Từng bước nâng cao số lượng bò sữa trong nước nhằm tận dụng tối đa lợi thế đất nước nông nghiệp, tăng sản lượng nguồn sữa tươi nguyên liệu chế biến trong nước nhằm giảm dần sự phụ thuộc vào nhập khẩu sản phẩm sữa và nguyên liệu chế biến sữa. Phát triển đàn bò sữa theo hướng trang trại bò sữa tập trung kết hợp với chăn nuôi hợp tác xã, nông hộ, gắn với mục tiêu hiện đại hóa khu vực nông nghiệp nông thôn.
Đẩy mạnh đa dạng hóa sản phẩm sữa đi đôi với nâng cao chất lượng, hình thức, mẫu mã và bao bì sản phẩm. Khuyến khích nghiên cứu, ứng dụng công nghệ số, blockchain, AI trong quản lý đàn bò, truy xuất nguồn gốc, phân phối sữa nhằm nâng cao tỷ trọng sản phẩm sữa có giá trị gia tăng cao, tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế, từ đó hình thành các sản phẩm chủ lực có tính đột phá, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.
Đồng thời, thúc đẩy hoạt động nghiên cứu thị trường kết hợp với nghiên cứu sản xuất chế phẩm, phụ gia, hương liệu phục vụ ngành sữa hướng đến việc phát triển các sản phẩm mới phù hợp với thị hiếu tiêu dùng và theo kịp xu hướng tiêu dùng sữa và sản phẩm chế biến sữa trên thế giới.
Đẩy mạnh phát triển các dòng sản phẩm có giá trị gia tăng cao; sữa và chế phẩm từ sữa, sữa công thức dành cho các đối tượng theo vòng đời như trẻ em, người cao tuổi, sữa dành cho người có nhu cầu chuyên biệt; đối với sữa học đường chỉ sử dụng nguồn sữa tươi, đảm bảo tiếp cận sữa tươi cho các vùng khó khăn, trẻ em nghèo, học sinh dân tộc thiểu số.
Thúc đẩy khoa học, đổi mới sáng tạo, đầu tư ứng dụng các dây chuyền sản xuất tự động hóa thế hệ mới có mức tiêu hao nguyên, nhiên liệu thấp, hiệu suất cao, thân thiện với môi trường. Đồng thời ưu tiên thúc đẩy ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ trong toàn bộ chuỗi giá trị, bao gồm: phát triển giống bò sữa năng suất cao, chất lượng sữa tốt phù hợp với thổ nhưỡng các vùng miền đất nước nhằm tăng nhanh sản lượng nguồn sữa tươi nguyên liệu, nâng cao công nghệ chế biến, bảo quản, phân phối sản phẩm.
Đối với doanh nghiệp, tiếp tục mở rộng quy mô đàn bò sữa, tăng sản lượng nguồn sữa tươi nguyên liệu, nâng cao công suất chế biến thông qua việc nâng cấp các dự án hiện có, ứng dụng công nghệ hiện đại, thiết bị dây chuyền tự động hóa ở mức cao, ưu tiên đầu tư phát triển các dự án hoàn chỉnh theo chuỗi giá trị từ chăn nuôi bò lấy sữa đến các sản phẩm sữa chế biến, bảo đảm chất lượng, an toàn thực phẩm, tuân thủ các quy định về bảo vệ môi trường trong toàn bộ quy trình sản xuất và phân phối sản phẩm.
Tái cơ cấu tổ chức, đổi mới mô hình quản trị, hướng tới hình thành các tập đoàn, tổng công ty có quy mô lớn trong lĩnh vực sản xuất sữa nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, tạo vị thế xếp hạng cao trong khu vực và trên thế giới, từng bước khẳng định vai trò và vị thế của ngành sữa Việt Nam trong chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng sữa toàn cầu.
Thúc đẩy phát triển các doanh nghiệp sản xuất sữa tươi nguyên liệu theo hướng bền vững với quy mô hợp lý, chất lượng giống đàn bò được cải thiện, dần chủ động được giống bò sữa trong nước cho năng suất sữa cao. Từng bước ổn định và gia tăng nguồn cung nguyên liệu sữa phục vụ chế biến. Đồng thời phát triển mối liên kết chặt chẽ, hài hòa giữa doanh nghiệp, người chăn nuôi sản xuất sữa nguyên liệu và doanh nghiệp chế biến theo các mô hình liên kết tiên tiến, cùng phát triển nhằm ổn định thị trường, nâng cao năng lực sản xuất, sức cạnh tranh của sản phẩm, thương hiệu sữa Việt Nam.
Về thị trường, đối với thị trường trong nước: Đẩy mạnh đổi mới phương thức tiếp cận thị trường, truyền thông nâng cao hiểu biết của người tiêu dùng về giá trị của sữa theo hướng ứng dụng công nghệ số, tiếp thị trực tuyến trên nền tảng Internet và mạng xã hội nhằm phát huy tối đa hiệu quả các kênh phân phối, bảo đảm cung ứng đầy đủ, kịp thời, phù hợp với nhu cầu ngày càng đa dạng của người tiêu dùng.
Từng bước nâng cao tỷ trọng tiêu thụ sản phẩm sữa trong nước thông qua việc mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao chất lượng, đa dạng hóa sản phẩm, cải tiến mẫu mã và cơ cấu lại hệ thống phân phối theo hướng thông minh, hiện đại, thuận tiện, hiệu quả. Song hành với phát triển thị trường sản phẩm cần có các chính sách chống gian lận thương mại, đặc biệt trên môi trường thương mại điện tử.
Đối với thị trường xuất khẩu: Thực hiện đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, tăng cường công tác nghiên cứu, tìm kiếm và phát triển thị trường mới. Đẩy mạnh công tác đàm phán kỹ thuật thú y, mở rộng thị trường nhằm đa dạng hóa thị trường xuất khẩu. Tập trung khai thác hiệu quả các cơ hội từ các hiệp định thương mại tự do (FTA) và các cam kết quốc tế khác, đồng thời chủ động tháo gỡ các rào cản kỹ thuật, tạo điều kiện thuận lợi để mở rộng thị trường.
Đẩy mạnh hoạt động xây dựng, quảng bá thương hiệu sản phẩm sữa Việt Nam, phát triển chỉ dẫn địa lý đối với sản phẩm sữa chế biến. Hỗ trợ doanh nghiệp ngành sữa trong các vấn đề pháp lý, giải quyết tranh chấp thương mại nhằm giảm thiểu rủi ro trong quá trình tham gia vào thị trường quốc tế.
Đối với thị trường nhập khẩu: Nghiên cứu tiếp cận nhập khẩu công nghệ sản xuất, chế biến tiên tiến nhằm đẩy nhanh tiến trình phát triển ngành sữa trong nước. Đa dạng hóa thị trường nhập khẩu, tìm kiếm, lựa chọn và khai thác các thị trường uy tín, đảm bảo ổn định nguồn cung chất lượng với giá thành cạnh tranh, nhập khẩu sản phẩm sữa trong nước còn thiếu, chưa chế biến được phù hợp với thị hiếu người Việt. Khuyến khích các doanh nghiệp trong nước đầu tư sản xuất, chế biến sữa ở các nước có điều kiện phát triển, để cân đối những phần sữa còn thiếu hụt cho thị trường trong nước.
Để đảm bảo an toàn thực phẩm đối với sản phẩm sữa, Chiến lược thực hiện rà soát các tiêu chuẩn (TCVN), quy chuẩn (QCVN), bổ sung, cập nhật theo nguyên tắc đồng bộ với các tiêu chuẩn quốc tế như: Codex, ISO, HACCP, OAOC và các tiêu chuẩn sản phẩm đối với thị trường đặc thù (Halal). Các sản phẩm sữa phải đảm bảo tuân thủ các quy định pháp luật về an toàn thực phẩm, các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về an toàn thực phẩm có liên quan.
Xây dựng các trung tâm kiểm nghiệm an toàn thực phẩm khu vực theo tiêu chuẩn quốc tế. Bố trí kinh phí cho các hoạt động kiểm tra, giám sát định kỳ và đột xuất về an toàn thực phẩm trong các sản phẩm sữa, từ sữa nguyên liệu đến sữa chế biến. Tuyên truyền, huấn luyện, đào tạo nhân lực làm công tác kiểm tra giám sát an toàn thực phẩm.
Một trong những nhiệm vụ mà Chiến lược đặt ra là phát triển bền vững và xanh hóa ngành công nghiệp chế biến sữa bằng cách đẩy mạnh lựa chọn áp dụng công nghệ chế biến tiên tiến; đánh giá vòng đời sản phẩm (LCA), phát triển nhãn xanh - nhãn sinh thái cho sản phẩm sữa; chú trọng công nghệ "Sản xuất sạch hơn", đầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ, thiết bị, lấy việc phòng ngừa ô nhiễm, giảm thiểu chất thải, hạn chế phát sinh những chất thải có tác động tiêu cực đến môi trường; kết hợp với biện pháp xử lý cuối nguồn để đảm bảo không gây ô nhiễm môi trường; áp dụng mô hình kinh tế tuần hoàn trong sản xuất sữa nguyên liệu và chế biến sản phẩm sữa.
Tăng cường thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định pháp luật về an toàn và bảo vệ môi trường của các đơn vị, doanh nghiệp; đồng thời nâng cao chất lượng kiểm định máy móc, thiết bị, vật tư, nguyên liệu sản xuất để đảm bảo nghiêm ngặt về an toàn sản xuất, an toàn lao động. Trang bị đầy đủ hệ thống thiết bị quan trắc và kiểm soát ô nhiễm môi trường tại cơ sở sản xuất, nhà máy chế biến sữa, bảo đảm tuân thủ các quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia hiện hành về môi trường.
Thúc đẩy phát triển mô hình sản xuất xanh trong ngành sữa, khuyến khích các doanh nghiệp áp dụng quy trình sản xuất thân thiện với môi trường, phát triển sản phẩm theo hướng tăng trưởng xanh. Hướng tới mục tiêu phát triển bền vững trong sản xuất và tiêu dùng, góp phần thực hiện các cam kết quốc gia về bảo vệ môi trường và giảm phát thải khí nhà kính...
Văn phòng Chính phủ có Thông báo số 82/TB-VPCP ngày 24/02/2026 kết luận của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính tại cuộc kiểm tra thực địa và họp về tình hình thực hiện hai dự án đường bộ cao tốc Hữu Nghị - Chi Lăng và Đồng Đăng - Trà Lĩnh.

Thủ tướng Chính phủ phát động "Chiến dịch Đông Khê năm 2026" thực hiện 85 ngày đêm hoàn thành 2 tuyến cao tốc Đồng Đăng-Trà Lĩnh và Hữu Nghị-Chi Lăng - Ảnh: VGP/Nhật Bắc.
Thông báo nêu, trong kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của đất nước giàu mạnh, hùng cường, văn minh, hạnh phúc, Nghị quyết Đại hội Đảng XIV đã yêu cầu phải đầu tư hạ tầng chiến lược giao thông, chống biến đổi khí hậu, văn hóa xã hội, thể thao, số, năng lượng… và an sinh xã hội, trong đó phát triển hạ tầng giao thông là một trong những đột phá chiến lược.
Đối với hai tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn - vùng đất cách mạng, anh hùng, hai tỉnh phên dậu của đất nước về an ninh, quốc phòng, kinh tế, xã hội, nhất là an sinh xã hội, chịu thiệt thòi qua các cuộc chiến tranh hệ thống giao thông còn nhiều hạn chế, nhất là Cao Bằng chỉ có giao thông đường bộ nên rất cần Nhà nước tham gia hỗ trợ đầu tư xây dựng đường bộ cao tốc để phát triển.
Sau đúng một năm kể từ ngày Thủ tướng Chính phủ đi kiểm tra các dự án trọng điểm ngành giao thông vận tải dịp Tết nguyên đán Ất Tỵ (mùng 4 - 5 Tết Ất Tỵ), hai tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn đã đạt được 6 "hơn", cụ thể như sau:
Một là, hai tỉnh đã lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện, phát triển toàn diện kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng, đối ngoại mạnh hơn, an sinh xã hội tốt hơn năm trước, có nhiều kinh nghiệm quản lý dự án hơn;
Hai là, tuyến đường bộ cao tốc trước đây đầu tư theo quy mô phân kỳ nay đã được đầu tư mở rộng theo tiêu chuẩn, quy chuẩn hiện đại hơn, đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội lâu dài;
Ba là, tiến độ thực hiện nhanh hơn so với kế hoạch đề ra, đoạn Km0-Km93 tuyến Đồng Đăng - Trà Lĩnh dự kiến rút ngắn 06 tháng đối với giai đoạn 1, rút ngắn 12 tháng đối với giai đoạn 2;
Bốn là, tiết kiệm chi phí, giảm vốn ngân sách nhà nước tham gia dự án (do triển khai đồng bộ hai giai đoạn của dự án, kết hợp nhiều giải pháp tổ chức thi công, giảm trùng lặp, kỹ thuật phù hợp điều kiện địa hình, địa chất, thủy văn khu vực nên đã tiết kiệm hơn 1.000 tỷ đồng đối với Dự án Đồng Đăng - Trà Lĩnh);
Năm là, nhà đầu tư, doanh nghiệp tại địa phương được tham gia nhiều hơn vào dự án; tiến bộ, trưởng thành hơn; dần định hướng chuyển từ nhà thầu sang nhà đầu tư dự án;
Sáu là, không gian phát triển của hai tỉnh được mở rộng hơn cả về kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng, an sinh xã hội, người dân phấn khởi hơn khi thấy sự phát triển của đất nước nói chung, phát triển của hai tỉnh nói riêng, tin tưởng hơn vào Đảng, Nhà nước.
Đối với các công việc triển khai trong thời gian tới, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu hai tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn khẩn trương rà soát, chỉ đạo thực hiện làm tốt hơn, tiến độ nhanh hơn nhưng phải bảo đảm chất lượng, kỹ mỹ thuật, an toàn công trình, an toàn giao thông, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp và sinh kế của người dân khi phải di dời, tái định cư, giải phóng mặt bằng theo nguyên tắc cuộc sống, nơi ở mới của người dân phải tốt hơn nơi ở cũ; hoàn thiện hồ sơ theo đúng quy định, khánh thành hai dự án đường bộ cao tốc Hữu Nghị - Chi Lăng và Đồng Đăng - Trà Lĩnh giai đoạn 1 vào dịp sinh nhật Bác Hồ, ngày 19/5/2026.
Thủ tướng đồng ý về nguyên tắc bổ sung vốn cho hai dự án để làm cho dứt điểm, không dàn trải; đề nghị Bộ Tài chính cân đối nhanh các nguồn vốn hợp pháp (nguồn tăng thu, nguồn dự phòng, đầu tư công…), báo cáo Thường trực Chính phủ quyết định theo thẩm quyền trước ngày 28/02/2026.
Đối với nguồn tăng thu của địa phương, đề nghị hai tỉnh tập trung vào an sinh xã hội và đầu tư phát triển các dự án, công trình của địa phương kết nối với các tuyến cao tốc có hiệu quả, không dàn trải, có ưu tiên chọn lọc; trong quá trình thực hiện không để xảy ra tiêu cực, tham nhũng, lãng phí, lợi ích nhóm; tổ chức thanh tra, kiểm tra trước, trong và sau đầu tư, không để khuyết điểm nhỏ tích tụ thành sai phạm lớn.
Về tổ chức thực hiện, Thủ tướng yêu cầu tư tưởng phải thông, quyết tâm phải cao hơn nữa, nỗ lực phải lớn hơn nữa, hành động quyết liệt hơn, làm việc, chỉ đạo có trọng tâm trọng điểm; Bí thư tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân hai tỉnh và cả hệ thống chính trị phải vào cuộc, nhất là công tác giải phóng mặt bằng (hoàn thành trước ngày 15/3/2026), tái định cư, ổn định đời sống nhân dân, phải quan tâm thực sự, lắng nghe bằng sự chân thành, chia sẻ và có trách nhiệm với người dân bằng cả trái tim; hành động có kết quả, cân đong đo đếm được, nói đi đôi với làm, tránh bệnh quan liêu, hình thức, thực hiện 3 "không": không nói không, không nói khó, không nói có mà không làm.
Lấy cảm hứng từ chiến dịch Đông Khê được Bác Hồ trực tiếp chỉ đạo và kỷ niệm 85 năm ngày Bác Hồ về nước, tại Đông Khê, Cao Bằng, Thủ tướng Chính phủ phát động Chiến dịch Đông Khê năm 2026: 85 ngày đêm hoàn thành giai đoạn 1 của hai dự án đường bộ cao tốc Hữu Nghị - Chi Lăng và Đồng Đăng - Trà Lĩnh trước ngày 19/5/2026.
Đồng thời, giao Bộ Xây dựng trình Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập Bộ Chỉ huy Chiến dịch trước ngày 25/02/2026 theo đúng quy định. Bộ Chỉ huy Chiến dịch do Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh làm Chỉ huy Trưởng; Phó Chỉ huy Trưởng là Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, hai đồng chí Chủ tịch Ủy ban nhân dân hai tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng, ông Hồ Minh Hoàng - Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty cổ phần Tập đoàn Đèo Cả.
Bộ Chỉ huy Chiến dịch xây dựng quy chế làm việc và phân công nhiệm vụ cho các cơ quan, đơn vị đúng quy định; triển khai công việc đúng tinh thần 6 "rõ": rõ người, rõ việc, rõ tiến độ, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền, rõ kết quả và rà soát ngay đường găng tiến độ từng tuần, từng tháng để kịp thời đánh giá, điều chỉnh tiến độ và chỉ đạo hoàn thành hai tuyến đường bộ cao tốc.
Đề nghị Bộ Quốc phòng phát huy chức năng là đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất; để huy động Bộ Tư lệnh Công binh, Quân khu 1 vào cuộc trong Chiến dịch 85 ngày đêm vào hai dự án. Công ty cổ phần Tập đoàn Đèo Cả hỗ trợ bộ đội làm thêm xây dựng quỹ nghĩa tình đồng đội theo đúng quy định. Bộ Chỉ huy Chiến dịch phải giao việc cho bộ đội tham gia theo tinh thần 6 "rõ" và phải làm ngay.
Về tuyến đường bộ cao tốc Bắc Kạn - Cao Bằng, Thủ tướng đề nghị Ủy ban nhân dân tỉnh Cao Bằng - cơ quan chủ quản chỉ đạo tư vấn rà soát, tính toán, chuẩn xác lại tổng mức đầu tư dự án, lý giải thuyết phục tính cấp thiết đầu tư trong việc phát triển kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng vùng Thái Nguyên - Cao Bằng là cơ sở để xem xét triển khai đầu tư xây dựng công trình khẩn cấp theo thẩm quyền, đúng quy định của Luật Đầu tư công.
Đối với vốn cho dự án, về nguyên tắc địa phương bố trí kinh phí giải phóng mặt bằng, ngân sách trung ương hỗ trợ xây lắp. Bộ Tài chính cân đối, huy động các nguồn vốn hợp pháp bố trí cho dự án; hướng dẫn tỉnh thực hiện theo đúng quy trình, thủ tục và quy định của pháp luật.
Thủ tướng giao Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Hồng Hà, Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh chỉ đạo tỉnh Cao Bằng triển khai dự án với tinh thần địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm, khẩn trương hoàn thành đầy đủ thủ tục, phấn đấu khởi công dịp 19/5/2026 và thi công chậm nhất trong khoảng 3 năm, không kéo dài và để xảy ra tiêu cực, tham nhũng, lãng phí, lợi ích nhóm.
Văn phòng Chính phủ vừa có văn bản số 1602/VPCP-CN ngày 23/02/2026 truyền đạt ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà về tình hình cung cấp vật liệu cho các dự án phục vụ hội nghị APEC 2027.

Nâng công suất hoạt động của cảng, tạo luồng xanh cho hoạt động vận chuyển vật liệu xây dựng đáp ứng nhu cầu triển khai các dự án phục vụ APEC 2027 tại Phú Quốc
Xét báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường về tình hình cung cấp vật liệu cho các dự án phục vụ hội nghị APEC 2027, Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Hồng Hà giao Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Xây dựng, Bộ Tài chính, Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang căn cứ chức năng, nhiệm vụ được giao tiếp tục tăng cường các giải pháp quản lý, bình ổn giá vật liệu xây dựng theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Công điện số 85/CĐ-TTg ngày 10 tháng 6 năm 2025 và đúng quy định pháp luật.
Đồng thời chỉ đạo, hướng dẫn các cơ quan, tổ chức liên quan có phương án phù hợp nâng công suất hoạt động của cảng, tạo luồng xanh cho hoạt động vận chuyển vật liệu xây dựng đáp ứng nhu cầu triển khai các dự án phục vụ APEC 2027 tại Phú Quốc.
Bên cạnh đó, chỉ đạo các chủ đầu tư, nhà thầu thi công các dự án có phương án chủ động tập kết vật liệu về kho bãi để dự trữ cho những giai đoạn thi công cao điểm, không để tình trạng tăng nhu cầu đột biến dẫn đến vượt công suất, năng lực khai thác, vận chuyển khoáng sản, gây tác động tiêu cực đến môi trường./.