In bài viết

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 25/4/2026 (2)

(Chinhphu.vn) - Văn phòng Chính phủ vừa có Thông cáo báo chí chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 25/4/2026 (2).

25/04/2026 22:20
Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 25/4/2026 (2)- Ảnh 1.

Công điện của Thủ tướng Chính phủ về việc khắc phục triệt để các tồn tại, hạn chế trong chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU) 

Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng vừa ký Công điện số 34/CĐ-TTg ngày 25/4/2026 của Thủ tướng Chính phủ về việc khắc phục triệt để các tồn tại, hạn chế trong chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU).

Công điện gửi Bộ trưởng các Bộ: Nông nghiệp và Môi trường, Quốc phòng, Công an, Ngoại giao, Tư pháp, Khoa học và Công nghệ, Tài chính, Xây dựng, Công Thương, Văn hóa, Thể thao và Du lịch và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố ven biển, có tàu cá.

Công điện nêu: Sau đợt thanh tra lần thứ 5 của Ủy ban châu Âu (EC), công tác chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU) đã có chuyển biến; tuy nhiên vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu gỡ cảnh báo "Thẻ vàng", nhất là trong công tác phối hợp giữa các lực lượng theo dõi, kiểm soát và tiến độ xử lý các tàu cá vi phạm khai thác IUU; kiểm soát, truy xuất nguồn gốc nguyên liệu thủy sản khai thác nhập khẩu từ nước ngoài bằng tàu Công-ten-nơ chế biến, xuất khẩu tại các doanh nghiệp; thực thi pháp luật chưa nghiêm túc và tiến độ xử lý vi phạm hành chính tại các địa phương còn chưa đáp ứng yêu cầu.

Nguyên nhân chủ yếu là do người đứng đầu chính quyền các cấp, các sở, ban, ngành và lực lượng chức năng tại một số địa phương chưa làm hết trách nhiệm, nghiêm túc, triệt để, toàn diện các nhiệm vụ, giải pháp chống khai thác IUU được Ban Bí thư, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao trong thời gian qua. Để khắc phục triệt để các tồn tại, hạn chế, cập nhật, báo cáo, giải trình với Đoàn Thanh tra của EC, hoàn thành mục tiêu gỡ cảnh báo "Thẻ vàng" trong năm 2026; Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các bộ trưởng, trưởng ngành, chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố ven biển, có tàu cá tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, bố trí đủ nguồn lực để thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách sau:

1. Yêu cầu chung

- Thực hiện nghiêm Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 10 tháng 4 năm 2024 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác chống khai thác IUU, các ý kiến chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các văn bản khác có liên quan; đảm bảo phân công rõ trách nhiệm của từng tổ chức, cá nhân, rõ sản phẩm, rõ tiến độ, thời gian hoàn thành.

- Người đứng đầu các bộ, ngành, địa phương chịu trách nhiệm toàn diện trước Thủ tướng Chính phủ nếu tiếp tục để xảy ra các tồn tại, hạn chế trong chống khai thác IUU, ảnh hưởng đến nỗ lực gỡ cảnh báo "Thẻ vàng".

Rà soát toàn bộ hệ thống pháp luật quản lý ngành thủy sản

2. Nhiệm vụ, giải pháp cấp bách, trọng tâm

a) Về hoàn thiện khung pháp lý

- Hoàn thiện, trình Chính phủ ban hành Nghị định thay thế Nghị định số 38/2024/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực thủy sản.

- Rà soát toàn bộ hệ thống pháp luật quản lý ngành thủy sản và đề xuất điều chỉnh, bổ sung đảm bảo chống khai thác IUU hiệu quả, phát triển ngành thủy sản bền vững, có trách nhiệm và hội nhập quốc tế.

- Triển khai hiệu quả các Chương trình, Đề án, Chiến lược, Quy hoạch đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt để phát triển ngành thủy sản bền vững theo hướng tăng cường bảo vệ nguồn lợi thủy sản, giảm cường lực khai thác, phát triển nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là nuôi biển; chuyển đổi sinh kế bền vững cho cộng đồng ngư dân ven biển, hải đảo.

b) Về quản lý đội tàu cá

- Thực hiện tổng kiểm kê tàu cá theo nhóm chiều dài; lập danh sách, phân loại tàu cá không đủ điều kiện (không đăng ký, không đăng kiểm, không giấy phép khai thác, không có Giấy chứng nhận/Cam kết an toàn thực phẩm).

- Thực hiện rà soát, đối soát và cập nhật thông tin tàu cá, chủ tàu trên cơ sở dữ liệu nghề cá quốc gia (VNFishbase) và cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư (VNeID), đảm bảo cơ sở dữ liệu "đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung".

- Thực hiện việc đăng ký, đăng kiểm, cấp hoặc gia hạn giấy phép các tàu cá đủ điều kiện, lắp đặt VMS kịp thời theo quy định. Đảm bảo tất cả các tàu cá đã đăng ký phải thực hiện đánh dấu tàu cá, viết số đăng ký (kể cả khi neo đậu tại bờ, tàu phục vụ nuôi trồng thủy sản).

Kiểm soát 100% tàu cá ra vào cảng, xuất nhập bến

c) Về theo dõi, kiểm soát và giám sát hoạt động tàu cá

- Tập trung hoàn thiện các cơ sở dữ liệu (hệ thống giám sát tàu cá (VMS), cơ sở dữ liệu nghề cá quốc gia (VNFishbase), cơ sở dữ liệu xử lý vi phạm hành chính, hệ thống truy xuất nguồn gốc điện tử (eCDT), kiểm soát nguồn gốc nguyên liệu thủy sản khai thác nhập khẩu,... và các công cụ để giám sát, đánh giá kết quả thực thi pháp luật tại các địa phương. Hoàn thành trong tháng 6 năm 2026.

- Kiểm soát 100% tàu cá ra vào cảng, xuất nhập bến qua các đồn, trạm biên phòng tuyến biển trên toàn quốc theo quy định trên hệ thống truy xuất nguồn gốc thủy sản điện tử (eCDT); kết nối đồng bộ, thống nhất từ trung ương đến địa phương và giữa các lực lượng chức năng có liên quan.

- Lập danh sách, áp dụng biện pháp quản lý, giám sát chặt chẽ từng tàu cá không đủ điều kiện hoạt động. Cập nhật đầy đủ danh sách tàu cá xóa đăng ký, tàu cá có nguy cơ cao vi phạm khai thác IUU trên hệ thống VMS và danh sách tàu cá ngừng dịch vụ VMS dài ngày.

- Công bố mở cảng cá đủ điều kiện cho tàu cập, rời cảng; chỉ định tổ chức quản lý thực hiện kiểm soát tàu cá ra vào cảng, xuất nhập bến, giám sát sản lượng bốc dỡ qua cảng trên hệ thống eCDT theo quy định của pháp luật.

Rà soát tất cả hồ sơ lô nguyên liệu cá cờ kiếm, cá ngừ nhập, xuất khẩu từ năm 2024 đến nay

d) Về truy xuất nguồn gốc thủy sản khai thác

- Đảm bảo 100% tàu cá phải cập cảng bốc dỡ thủy sản khai thác theo quy định, thực hiện nghiêm túc công tác xác nhận, chứng nhận và truy xuất nguồn gốc thủy sản khai thác trên hệ thống eCDT.

- Kiểm soát chặt chẽ nguyên liệu thủy sản khai thác nhập khẩu, đặc biệt qua Công-ten-nơ.

- Tập trung rà soát tất cả các hồ sơ lô nguyên liệu cá cờ kiếm, cá ngừ nhập khẩu vào Việt Nam và các lô hàng xuất khẩu sang thị trường châu Âu từ năm 2024 đến nay, đảm bảo rõ thông tin từng lô hàng, từng doanh nghiệp.

Xử lý dứt điểm các đường dây môi giới đưa tàu cá đi khai thác bất hợp pháp

đ) Về thực thi pháp luật, xử lý vi phạm

- Thực hiện cao điểm tuần tra, kiểm soát hoạt động tàu cá tại các khu vực vùng biển giáp ranh với các nước, các bãi ngang, cửa sông, cửa biển, các đảo, ngăn chặn, xử lý tàu cá "03 không" để không phát sinh tàu cá vi phạm vùng biển nước ngoài.

- Tập trung điều tra, củng cố hồ sơ, đưa ra truy tố, xét xử các vụ việc vi phạm khai thác IUU theo quy định tại Nghị quyết số 04/2024/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

- Điều tra, xử lý dứt điểm các đường dây môi giới, móc nối đưa tàu cá, ngư dân đi khai thác hải sản bất hợp pháp ở vùng biển nước ngoài, đặc biệt tại Khánh Hòa, TP. Cần Thơ và An Giang.

- Rà soát, củng cố hồ sơ, xử lý dứt điểm các vụ việc vi phạm quy định về mất kết nối VMS, vượt ranh giới cho phép khai thác trên biển, vi phạm khai thác hải sản bất hợp pháp ở vùng biển nước ngoài từ năm 2024 đến nay; xử lý ngay các tàu cá vi phạm từ ngày 01/01/2026 đến nay và cập nhật kết quả xử phạt lên cơ sở dữ liệu xử phạt hành chính trong lĩnh vực thủy sản.

- Khẩn trương đưa ra xét xử vụ án liên quan đến Công ty TNHH T&H Nha Trang và Công ty TNHH Thịnh Hưng đảm bảo nghiêm khắc, đúng quy định, tính răn đe, nghiêm minh của pháp luật, đặc biệt lưu ý xác định mức thu lợi bất chính thực tế của các lô hàng vi phạm.

(Nhiệm vụ chi tiết của các Bộ, ngành và địa phương tại Phụ lục kèm theo)

3. Chế độ thông tin, báo cáo và kiểm tra, giám sát

- Thực hiện nghiêm túc chế độ báo cáo định kỳ vào ngày 05 hàng tháng (kỳ báo cáo từ ngày 01 đến ngày 30 hàng tháng) và đột xuất kết quả thực hiện nhiệm vụ chống khai thác IUU được giao về Bộ Nông nghiệp và Môi trường để tổng hợp, báo cáo theo quy định.

- Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm trách nhiệm các tổ chức, cá nhân không hoàn thành hoặc thực hiện không hiệu quả các quy định chống khai thác IUU được giao.

4. Tổ chức thực hiện

a) Bộ Nông nghiệp và Môi trường (Cơ quan thường trực Ban chỉ đạo quốc gia về IUU):

- Chủ trì, hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra kết quả thực hiện nhiệm vụ chống khai thác IUU tại các bộ, ngành, địa phương có liên quan.

- Tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ - Trưởng Ban chỉ đạo quốc gia về IUU kết quả thực hiện nhiệm vụ chống khai thác IUU của các bộ, ngành, địa phương có liên quan.

b) Các bộ, ngành, địa phương có liên quan nghiêm túc tổ chức triển khai thực hiện nhiệm vụ, giải pháp chống khai thác IUU được giao; phối hợp, chia sẻ thông tin và kịp thời đề xuất các khó khăn, vướng mắc trong quá trình tổ chức triển khai thực hiện, khắc phục triệt để các tồn tại, hạn chế trong công tác chống khai thác IUU theo khuyến nghị của EC.

Giao Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì phối hợp với các Bộ, cơ quan, địa phương có liên quan tổ chức thực hiện Công điện này, định kỳ báo cáo Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ - Trưởng Ban chỉ đạo quốc gia về IUU theo quy định.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 25/4/2026 (2)- Ảnh 2.

Công điện của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết luật, pháp lệnh, nghị quyết 

Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu vừa ký Công điện số 36/CĐ-TTg ngày 25/4/2026 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết luật, pháp lệnh, nghị quyết.

Công điện nêu: Trong thời gian qua, mặc dù, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã rất quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo, đôn đốc quyết liệt công tác xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Tuy nhiên, đến nay, tình trạng chậm, nợ ban hành văn bản quy định chi tiết vẫn chưa được khắc phục triệt để, cụ thể vẫn còn 18 nghị định, 02 quyết định của Thủ tướng Chính phủ và 15 thông tư quy định chi tiết các luật, nghị quyết đã có hiệu lực chưa được ban hành.

Nguyên nhân của tình trạng nêu trên một phần do số lượng luật, pháp lệnh, nghị quyết được thông qua khá nhiều, việc xác định thời điểm có hiệu lực của luật, pháp lệnh, nghị quyết còn chưa phù hợp; chủ yếu là do một số Bộ, cơ quan chưa thực sự chủ động tham mưu đề xuất, thực hiện đồng bộ các giải pháp để khắc phục tình trạng chậm, nợ ban hành văn bản quy định chi tiết; khắc phục khoảng trống pháp lý do chậm, nợ ban hành văn bản quy định chi tiết thuộc phạm vi quản lý của mình.

Để đẩy nhanh tiến độ, nâng cao chất lượng công tác xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết, sớm khắc phục triệt để tình trạng chậm, nợ ban hành văn bản quy định chi tiết, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các đồng chí Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ tập trung thực hiện quyết liệt, đồng bộ, có trọng tâm, trọng điểm các nhiệm vụ, giải pháp sau:

1. Siết chặt trách nhiệm người đứng đầu, coi kết quả ban hành văn bản quy định chi tiết là tiêu chí đánh giá hoàn thành nhiệm vụ

Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ trực tiếp chỉ đạo và chịu trách nhiệm toàn diện về nội dung dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết, các văn bản quy định chi tiết, quy định biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành; chủ động xây dựng, ban hành hoặc trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành các văn bản quy định chi tiết, bảo đảm chất lượng, có hiệu lực cùng thời điểm có hiệu lực của luật, pháp lệnh, nghị quyết.

Kết quả xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết là tiêu chí bắt buộc trong đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ, xét thi đua, khen thưởng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

2. Tập trung xử lý dứt điểm các văn bản còn nợ ban hành và kiểm soát chặt phát sinh mới

Các Bộ, cơ quan ngang Bộ: Giáo dục và Đào tạo, Tài chính, Nội vụ, Khoa học và Công nghệ, Ngoại giao, Công Thương, Y tế, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Công an, Quốc phòng, Xây dựng khẩn trương xây dựng, hoàn thiện, trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành 18 nghị định, 02 quyết định và ban hành theo thẩm quyền đối với 15 thông tư quy định chi tiết các luật, nghị quyết đã có hiệu lực tại Phụ lục 1 kèm theo Công điện này. Thời hạn hoàn thành chậm nhất trước ngày 10 tháng 5 năm 2026.

Các Bộ, cơ quan ngang Bộ chủ động đẩy nhanh tiến độ xây dựng, ban hành hoặc trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành 83 nghị định, 04 quyết định và 77 thông tư quy định chi tiết các luật, nghị quyết sẽ có hiệu lực trong thời gian tới (ngày 01 tháng 5 năm 2026 và ngày 01 tháng 7 năm 2026) tại Phụ lục 2 kèm theo Công điện này, đặc biệt là 02 nghị định, 01 quyết định và 11 thông tư quy định chi tiết Luật Giám định tư pháp và Luật Bảo hiểm tiền gửi sẽ có hiệu lực từ ngày 01 tháng 5 năm 2026.

3. Đổi mới cách thức xây dựng văn bản quy định chi tiết theo hướng tinh gọn, hiệu quả, đúng thẩm quyền

Thực hiện giải pháp ban hành một văn bản để quy định chi tiết nhiều nội dung được giao, hạn chế việc ban hành nhiều văn bản quy định chi tiết một luật, pháp lệnh, nghị quyết.

Trong quá trình đề xuất, xây dựng văn bản quy định chi tiết, cần đặc biệt lưu ý bảo đảm tính hợp lý về số lượng và hình thức văn bản, tránh xu hướng tách nhỏ nội dung để ban hành thành nhiều văn bản quy định chi tiết khi không thật sự cần thiết; đồng thời, phân định rõ trường hợp cần ban hành văn bản quy phạm pháp luật với trường hợp chỉ cần ban hành văn bản hành chính, cá biệt để tổ chức thực hiện.

4. Chủ động rà soát, công bố văn bản tiếp tục có hiệu lực

Các Bộ, cơ quan ngang Bộ chủ động rà soát, kịp thời công bố theo thẩm quyền hoặc đề xuất cơ quan có thẩm quyền công bố văn bản quy định chi tiết, quy định biện pháp cụ thể để tổ chức, hướng dẫn thi hành văn bản tiếp tục có hiệu lực theo quy định tại khoản 2 Điều 57 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật để hạn chế tối đa khoảng trống pháp lý do chậm ban hành văn bản quy định chi tiết, không để gián đoạn thực thi pháp luật.

5. Chủ động rà soát, xây dựng, ban hành các văn bản theo quy định sẽ hết hiệu lực trước ngày 01 tháng 3 năm 2027

Rà soát, xác định những vướng mắc, bất cập do quy định của pháp luật đang được xử lý tạm thời trong các văn bản mà theo quy định sẽ hết hiệu lực trước ngày 01 tháng 3 năm 2027 liên quan đến phân cấp, phân quyền theo quy định của Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức chính quyền địa phương; sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước theo Nghị quyết số 190/2025/QH15 của Quốc hội quy định về xử lý một số vấn đề liên quan đến sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước và xử lý khó khăn, vướng mắc do quy định của pháp luật theo Nghị quyết số 206/2025/QH15 của Quốc hội về cơ chế đặc biệt xử lý khó khăn, vướng mắc do quy định của pháp luật; chủ động xây dựng, ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan trước ngày 28 tháng 02 năm 2027 nhằm bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật, tránh phát sinh khoảng trống pháp lý, ảnh hưởng đến công tác quản lý nhà nước và hoạt động của người dân, doanh nghiệp.

6. Nâng cao chất lượng ngay từ khâu xây dựng luật, gắn trách nhiệm với sản phẩm đầu ra

Khi xây dựng, chỉnh lý, hoàn thiện trình Chính phủ các hồ sơ dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, các Bộ, cơ quan ngang Bộ được giao chủ trì soạn thảo phải rà soát kỹ các nội dung giao quy định chi tiết, dự kiến hợp lý thời điểm có hiệu lực của luật, pháp lệnh, nghị quyết để bảo đảm tính khả thi; đồng thời báo cáo cụ thể về những nội dung dự kiến giao Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ ban hành văn bản quy định chi tiết, cơ quan chủ trì soạn thảo, những nội dung cơ bản và dự kiến thời hạn trình, ban hành văn bản quy định chi tiết; ngoài các tài liệu theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, hồ sơ trình Chính phủ phải kèm theo dự thảo các văn bản quy định chi tiết thuộc thẩm quyền ban hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

7. Tăng cường kiểm tra, xử lý trách nhiệm, thiết lập kỷ luật, kỷ cương nghiêm minh

Thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, kiểm điểm trách nhiệm; xử lý nghiêm các đơn vị, cá nhân để xảy ra tình trạng chậm tiến độ, chất lượng văn bản không bảo đảm; kiên quyết không xem xét thi đua, khen thưởng đối với các trường hợp không hoàn thành nhiệm vụ xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết theo đúng yêu cầu. Công khai danh sách các Bộ, ngành chậm tiến độ trên Cổng thông tin điện tử của Chính phủ và Cổng thông tin điện tử của Bộ Tư pháp.

8. Phát huy vai trò của Bộ Tư pháp trong kiểm soát việc xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết

Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với Văn phòng Chính phủ và các cơ quan liên quan tăng cường kiểm soát việc đề xuất xây dựng văn bản quy định chi tiết; nâng cao chất lượng công tác thẩm định văn bản quy phạm pháp luật, báo cáo thẩm định của Bộ Tư pháp phải thể hiện rõ dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật đủ hay chưa đủ điều kiện trình Chính phủ theo đúng quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật; hướng dẫn và tổ chức triển khai Đề án đánh giá, chấm điểm KPI về công tác xây dựng pháp luật sau khi được Thủ tướng Chính phủ ban hành; thường xuyên theo dõi, đôn đốc, định kỳ hằng tháng, quý, 06 tháng, năm báo cáo Chính phủ về tình hình chậm, nợ ban hành văn bản quy định chi tiết; tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện Hệ thống thông tin quản lý Chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật để phục vụ công tác theo dõi, thống kê, tổng hợp, báo cáo, đôn đốc, cảnh báo sớm về tình hình chậm, nợ ban hành văn bản của các Bộ, cơ quan ngang Bộ.

9. Nâng cao trách nhiệm phối hợp và rút ngắn quy trình xử lý hồ sơ

Văn phòng Chính phủ và các Bộ, cơ quan liên quan tăng cường phối hợp, đẩy nhanh tiến độ tham mưu, xử lý các văn bản quy định chi tiết đã được các Bộ, cơ quan ngang Bộ trình; tăng cường theo dõi, đôn đốc, phối hợp chặt chẽ với các Bộ, cơ quan ngang Bộ trong việc chỉnh lý, hoàn thiện hồ sơ dự thảo văn bản quy định chi tiết; kịp thời tham mưu, báo cáo Lãnh đạo Chính phủ phụ trách, Thủ tướng Chính phủ đối với các vấn đề phức tạp phát sinh.

10. Thường xuyên thông tin, báo cáo đầy đủ, kịp thời về tình hình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật

Các Bộ, cơ quan ngang Bộ thực hiện việc cập nhật đầy đủ, kịp thời tiến độ xây dựng, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật thuộc phạm vi quản lý trên "Hệ thống thông tin quản lý Chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật" theo thời gian thực để phục vụ công tác tổng hợp, báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 25/4/2026 (2)- Ảnh 3.

Nghị quyết về thanh toán các chi phí khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế vượt dự toán, vượt tổng mức thanh toán giai đoạn năm 2018 – 2022

Chính phủ ban hành Nghị quyết 113/NQ-CP ngày 25/4/2026 về thanh toán các chi phí khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế vượt dự toán, vượt tổng mức thanh toán giai đoạn năm 2018 - 2022.

Nghị quyết nêu rõ, các chi phí khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế vượt dự toán, vượt tổng mức thanh toán giai đoạn năm 2018 - 2022 được thanh toán từ nguồn dự phòng của Quỹ bảo hiểm y tế, trong đó:

Đối với các chi phí khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế vượt dự toán được Thủ tướng Chính phủ giao giai đoạn năm 2018 - 2022, giao Bảo hiểm xã hội Việt Nam tổ chức thực hiện thanh toán cho cơ sở khám bệnh, chữa bệnh theo quy định tại Nghị định số 146/2018/NĐ-CP ngày 17 tháng 10 năm 2018 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn biện pháp thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm y tế.

Đối với các chi phí khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế vượt tổng mức thanh toán giai đoạn năm 2019-2022, Bảo hiểm xã hội Việt Nam khẩn trương tổ chức thực hiện thanh toán cho cơ sở khám bệnh, chữa bệnh theo quy định tại Nghị định số 75/2023/NĐ-CP ngày 19 tháng 10 năm 2023 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 146/2018/NĐ-CP ngày 17 tháng 10 năm 2018 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn biện pháp thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm y tế.

Nghị quyết này có hiệu lực từ ngày 25/9/2026.

Hoàn thành thanh toán trước 1/5/2026

Chính phủ giao Bộ Y tế, Bộ Tài chính theo chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền hướng dẫn các bộ, cơ quan, địa phương, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh quản lý, sử dụng các khoản chi phí khám bệnh, chữa bệnh được thanh toán bảo đảm đúng quy định của pháp luật, không để xảy ra thất thoát, lãng phí, tiêu cực.

Bộ Tài chính chỉ đạo Bảo hiểm xã hội Việt Nam tổ chức thực hiện xong trước ngày 01 tháng 5 năm 2026, báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Hội đồng quản lý bảo hiểm xã hội kết quả thực hiện, đồng thời gửi Bộ Y tế.

Đối với chi phí khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế vượt dự toán năm 2023, 2024, yêu cầu Bộ Tài chính, Bảo hiểm xã hội Việt Nam khẩn trương thực hiện theo đúng thẩm quyền đã quy định tại Nghị định số 75/2023/NĐ-CP của Chính phủ xong trước ngày 01 tháng 5 năm 2026 đối với chi phí năm 2023, xong trước ngày 01 tháng 8 năm 2026 đối với chi phí năm 2024.

Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh chịu trách nhiệm về tính chính xác của các chi phí khám bệnh, chữa bệnh đã đề nghị thanh toán là chi phí thực tế phát sinh đã sử dụng cho người bệnh tham gia bảo hiểm y tế, đúng đối tượng, đúng với hồ sơ, bệnh án của người bệnh, có đầy đủ hồ sơ, chứng từ hợp pháp; thuốc, hóa chất, vật tư, thiết bị y tế được mua sắm theo đúng quy định của pháp luật.

Bộ Y tế chịu trách nhiệm về việc tổng hợp số liệu. Bộ Tài chính, Bảo hiểm xã hội Việt Nam, cơ quan bảo hiểm xã hội chịu trách nhiệm về số liệu đã rà soát, gửi Bộ Y tế tổng hợp, kết quả giám định bảo hiểm y tế, số thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế bảo đảm đầy đủ, chính xác, không trùng lắp, đúng quy định của pháp luật./.