Chính phủ ban hành Nghị định số 36/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 105/2016/NĐ-CP quy định về điều kiện hoạt động của tổ chức kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm phương tiện đo, chuẩn đo lường, đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 154/2018/NĐ-CP và Nghị định số 133/2025/NĐ-CP về phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Khoa học và Công nghệ.

Sửa đổi điều kiện đối với tổ chức được chỉ định kiểm định, hiệu chuẩn phương tiện đo lường
Nghị định 36/2026/NĐ-CP tập trung hoàn thiện các quy định về điều kiện hoạt động, thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký, trách nhiệm quản lý nhà nước và nghĩa vụ của tổ chức cung cấp dịch vụ kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm phương tiện đo, chuẩn đo lường (gọi tắt là tổ chức cung cấp dịch vụ kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm), góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực đo lường.
Sửa điều kiện hoạt động của tổ chức cung cấp dịch vụ kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm
Trong đó, Nghị định 36/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Điều 3. Điều kiện hoạt động của tổ chức cung cấp dịch vụ kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm.
Theo đó, điều kiện hoạt động của tổ chức cung cấp dịch vụ kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm được quy định rõ:
1. Có tư cách pháp nhân theo quy định của pháp luật Việt Nam.
2. Có đủ cơ sở vật chất, kỹ thuật (bao gồm chuẩn đo lường, phương tiện, điều kiện môi trường thực hiện kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm) theo yêu cầu của quy trình kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm tương ứng do tổ chức công bố áp dụng. Quy trình kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm phải phù hợp với hướng dẫn của cơ quan nhà nước về đo lường có thẩm quyền thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ hoặc khuyến nghị quốc tế của Tổ chức đo lường pháp định quốc tế, tiêu chuẩn của Ủy ban kỹ thuật điện quốc tế, tiêu chuẩn của Tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế, tài liệu của nhà sản xuất có liên quan.
3. Có ít nhất 01 nhân viên kỹ thuật đáp ứng các yêu cầu sau đây:
a) Là viên chức hoặc người lao động ký kết hợp đồng lao động xác định thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên hoặc người lao động ký kết hợp đồng lao động không xác định thời hạn;
b) Tốt nghiệp trung cấp hoặc tương đương trở lên;
c) Có giấy chứng nhận hoàn thành khóa bồi dưỡng, tập huấn chuyên môn, nghiệp vụ kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm phương tiện đo, chuẩn đo lường tương ứng theo hướng dẫn của cơ quan nhà nước về đo lường có thẩm quyền thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ.
4. Đáp ứng các yêu cầu về tính độc lập, khách quan sau đây:
a) Công khai, minh bạch quy trình kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm đã công bố áp dụng thông qua một hoặc các hình thức sau: trên trang thông tin điện tử của tổ chức, tại trụ sở chính của tổ chức, tại địa điểm thực hiện hoạt động;
b) Người đứng đầu tổ chức cung cấp dịch vụ kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm phải tuân thủ hệ thống quản lý đã thiết lập, quy trình kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm đã công bố áp dụng và chịu trách nhiệm về tính chính xác của kết quả kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm đã thực hiện;
c) Nhân viên kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm phải tuân thủ quy trình kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm đã công bố áp dụng và chịu trách nhiệm về tính chính xác của kết quả kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm đã thực hiện.
5. Đã thiết lập và duy trì hệ thống quản lý phù hợp với Tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO/IEC 17025 đối với hoạt động kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm phương tiện đo, chuẩn đo lường.
6. Đã nộp hồ sơ đăng ký cung cấp dịch vụ kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm phương tiện đo, chuẩn đo lường và được cấp giấy chứng nhận đăng ký cung cấp dịch vụ kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm phương tiện đo, chuẩn đo lường (sau đây gọi chung là giấy chứng nhận đăng ký) theo quy định tại Nghị định này.
Sửa đổi điều kiện đối với tổ chức được chỉ định kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm
Bên cạnh đó, Nghị định 36/2026/NĐ-CP cũng sửa đổi điều kiện đối với tổ chức được chỉ định kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm, trong đó bổ sung yêu cầu về chuẩn công tác, chất chuẩn, chứng nhận kiểm định viên đo lường, đồng thời quy định chặt chẽ trách nhiệm của người đứng đầu và nhân viên kỹ thuật nhằm bảo đảm tính chính xác, khách quan của kết quả kiểm định.
Cụ thể, Nghị định sửa đổi, bổ sung Điều 4. Điều kiện hoạt động của tổ chức kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm được chỉ định:
1. Có tư cách pháp nhân theo quy định của pháp luật Việt Nam.
2. Có đủ cơ sở vật chất, kỹ thuật (bao gồm chuẩn công tác, chất chuẩn, phương tiện, điều kiện môi trường thực hiện kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm) theo yêu cầu của văn bản kỹ thuật đo lường Việt Nam tương ứng do cơ quan nhà nước về đo lường có thẩm quyền thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành. Chuẩn công tác và chất chuẩn dùng trực tiếp để kiểm định phương tiện đo nhóm 2 phải được hiệu chuẩn, thử nghiệm hoặc so sánh tại tổ chức hiệu chuẩn, thử nghiệm tại Việt Nam có lĩnh vực hoạt động phù hợp được chỉ định hoặc tại tổ chức thử nghiệm ở nước ngoài có lĩnh vực hoạt động phù hợp được công nhận và phải được chứng nhận theo quy định tại Điều 14 và Điều 15 của Luật Đo lường.
3. Có ít nhất 01 nhân viên kỹ thuật đáp ứng các yêu cầu sau đây:
a) Là viên chức hoặc người lao động ký kết hợp đồng lao động xác định thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên hoặc người lao động ký kết hợp đồng lao động không xác định thời hạn;
b) Tốt nghiệp trung cấp hoặc tương đương trở lên;
c) Có giấy chứng nhận hoàn thành khóa bồi dưỡng, tập huấn chuyên môn, nghiệp vụ kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm phương tiện đo, chuẩn đo lường tương ứng theo hướng dẫn của cơ quan nhà nước về đo lường có thẩm quyền thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ;
d) Nhân viên kiểm định phương tiện đo nhóm 2 phải được chứng nhận, cấp thẻ kiểm định viên đo lường.
4. Đáp ứng các yêu cầu về tính độc lập, khách quan sau đây:
a) Người đứng đầu tổ chức được chỉ định phải tuân thủ hệ thống quản lý đã thiết lập và văn bản kỹ thuật đo lường Việt Nam tương ứng; không chịu sự tác động, chi phối của bất kỳ tổ chức, cá nhân nào trong hoạt động kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm; bảo đảm và chịu trách nhiệm về tính chính xác của kết quả kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm đã thực hiện;
b) Nhân viên kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm phải tuân thủ văn bản kỹ thuật đo lường Việt Nam tương ứng; không chịu sự tác động, chi phối của bất kỳ tổ chức, cá nhân nào trong quá trình kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm; bảo đảm và chịu trách nhiệm về tính chính xác của kết quả kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm đã thực hiện.
5. Đã thiết lập và duy trì hệ thống quản lý phù hợp với Tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO/IEC 17025 đối với hoạt động kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm phương tiện đo, chuẩn đo lường.
6. Đã nộp hồ sơ đăng ký chỉ định kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm phương tiện đo nhóm 2, chuẩn đo lường dùng trực tiếp để kiểm định phương tiện đo nhóm 2 và được chỉ định thực hiện kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm phương tiện đo, chuẩn đo lường theo quy định tại khoản 3 Điều 25 của Luật Đo lường.
Giảm thời gian giải quyết thủ tục hành chính, tạo thuận lợi cho tổ chức, doanh nghiệp
Về cấp giấy chứng nhận đăng ký cung cấp dịch vụ kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm, Nghị định quy định thẩm quyền cấp, cấp lại, chấm dứt hiệu lực giấy chứng nhận đăng ký được phân cấp cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, với thời hạn giải quyết thủ tục hành chính được rút ngắn, tạo thuận lợi cho tổ chức, doanh nghiệp.
Cụ thể, Nghị định quy định việc cấp giấy chứng nhận đăng ký thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
Tổ chức đăng ký cung cấp dịch vụ kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm (gọi chung là tổ chức đăng ký) lập 01 bộ hồ sơ đăng ký gửi tới cơ quan được giao tiếp nhận hồ sơ đăng ký tại tỉnh, thành phố nơi đặt trụ sở chính thông qua một trong các cách thức sau: Trực tiếp tại Bộ phận Một cửa hoặc thông qua dịch vụ bưu chính hoặc trực tuyến tại Cổng Dịch vụ công quốc gia.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc (trước đây là 7 ngày) kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chịu trách nhiệm cấp giấy chứng nhận đăng ký (theo Mẫu số 03 tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này).
Trường hợp hồ sơ không hợp lệ, trong thời hạn 03 ngày làm việc (trước đây là 5 ngày) kể từ ngày nhận được hồ sơ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chịu trách nhiệm thông báo bằng văn bản cho tổ chức đăng ký về lý do từ chối xử lý hồ sơ hoặc những nội dung cần sửa đổi, bổ sung.
Nghị định cũng quy định rõ trách nhiệm của Bộ Khoa học và Công nghệ trong hướng dẫn, quản lý, xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về đo lường; đồng thời yêu cầu các tổ chức cung cấp dịch vụ kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm thực hiện đầy đủ nghĩa vụ về chuyên môn, công khai giá dịch vụ, lưu trữ hồ sơ và báo cáo định kỳ theo quy định.
Chính phủ ban hành Nghị định số 38/2026/NĐ-CP quy định về nhập khẩu cây mang theo bầu đất và mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói.

Tổ chức, cá nhân phải đưa lô cây mang theo bầu đất về khu vực cách ly ngay sau khi hoàn thành thủ tục nhập khẩu
Nghị định này quy định về: Nhập khẩu cây mang theo bầu đất quy định tại khoản 5a Điều 13 Luật Bảo vệ và kiểm dịch thực vật được sửa đổi, bổ sung tại khoản 2 Điều 2 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 15 luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường (Luật Bảo vệ và kiểm dịch thực vật).
Mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói quy định tại Điều 64 Luật Trồng trọt được sửa đổi, bổ sung tại khoản 6 Điều 15 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 15 luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường (Luật Trồng trọt).
Cây mang theo bầu đất nhập khẩu lần đầu vào Việt Nam thì phải phân tích nguy cơ dịch hại
Nghị định quy định cụ thể yêu cầu kiểm dịch thực vật đối với cây mang theo bầu đất nhập khẩu vào Việt Nam, trong đó bắt buộc phải có giấy phép kiểm dịch thực vật nhập khẩu theo quy định tại Điều 28 Luật Bảo vệ và kiểm dịch thực vật.
Trường hợp loài cây mang theo bầu đất nhập khẩu lần đầu vào Việt Nam thì phải phân tích nguy cơ dịch hại theo quy định tại Điều 27 Luật Bảo vệ và kiểm dịch thực vật.
Trường hợp loài cây mang theo bầu đã được cho phép nhập khẩu vào Việt Nam trước ngày 24/01/2026 thì phải được cơ quan chuyên ngành bảo vệ và kiểm dịch thực vật ở trung ương kiểm tra tình trạng sinh vật gây hại tại nơi sản xuất của quốc gia hoặc vùng lãnh thổ xuất khẩu trước khi cấp Giấy phép kiểm dịch thực vật nhập khẩu tiếp theo đối với loài cây mang theo bầu đất đó. Cơ quan chuyên ngành bảo vệ và kiểm dịch thực vật ở trung ương có trách nhiệm công khai nơi sản xuất đã được kiểm tra tại quốc gia hoặc vùng lãnh thổ xuất khẩu.
Chỉ được nhập khẩu qua các cửa khẩu quốc tế do Bộ Nông nghiệp và Môi trường công bố trong từng thời kỳ trên Cổng thông tin điện tử của Bộ và thực hiện kiểm dịch thực vật theo quy định tại Điều 33 Luật Bảo vệ và kiểm dịch thực vật.
Phải đưa về khu cách ly đáp ứng Tiêu chuẩn quốc gia về khu cách ly kiểm dịch thực vật đối với cây mang theo bầu đất nhập khẩu vào Việt Nam và thực hiện theo dõi kiểm dịch thực vật sau nhập khẩu. Trong thời gian chưa có Tiêu chuẩn quốc gia thì thực hiện theo yêu cầu kỹ thuật về khu cách ly kiểm dịch thực vật đối với cây mang theo bầu đất nhập khẩu tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này.
Kiểm dịch thực vật sau nhập khẩu tại khu vực cách ly
Theo Nghị định, tổ chức, cá nhân phải đưa lô cây mang theo bầu đất về khu vực cách ly ngay sau khi hoàn thành thủ tục nhập khẩu; phải báo với cơ quan được giao nhiệm vụ kiểm dịch thực vật sau nhập khẩu để thực hiện theo dõi tại khu cách ly. Thời gian theo dõi kiểm dịch thực vật sau nhập khẩu là 03 tháng kể từ thời điểm cây được đưa vào khu vực cách ly.
Cơ quan được giao nhiệm vụ kiểm dịch thực vật sau nhập khẩu thực hiện việc kiểm tra khu vực cách ly, theo dõi và kết luận tình trạng sinh vật gây hại của lô cây mang theo bầu đất.
Hết thời gian cách ly kiểm dịch thực vật sau nhập khẩu nếu không phát hiện có sinh vật gây hại là đối tượng kiểm dịch thực vật của Việt Nam hoặc sinh vật gây hại lạ thì kết thúc theo dõi, cơ quan được giao nhiệm vụ kiểm dịch thực vật sau nhập khẩu thông báo cho tổ chức, cá nhân biết.
Trường hợp phát hiện có sinh vật gây hại là đối tượng kiểm dịch thực vật của Việt Nam hoặc sinh vật gây hại lạ thì cơ quan được giao nhiệm vụ kiểm dịch thực vật sau nhập khẩu báo cáo cho cơ chuyên ngành bảo vệ và kiểm dịch thực vật ở trung ương để quyết định áp dụng biện pháp xử lý diệt trừ triệt để theo quy định tại Điều 34 Luật Bảo vệ và kiểm dịch thực vật.
Yêu cầu kỹ thuật đối với vùng trồng và cơ sở đóng gói đề nghị cấp mã số
Nghị định cũng quy định cụ thể yêu cầu kỹ thuật đối với vùng trồng và cơ sở đóng gói đề nghị cấp mã số. Theo đó, vùng trồng phải đáp ứng yêu cầu về diện tích tối thiểu, quy trình sản xuất, hồ sơ ghi chép, lưu trữ; cơ sở đóng gói phải bảo đảm điều kiện về địa điểm, cơ sở vật chất, trang thiết bị, kiểm soát sinh vật gây hại và truy xuất nguồn gốc sản phẩm. Đối với vùng trồng, cơ sở đóng gói phục vụ xuất khẩu, ngoài các yêu cầu chung còn phải tuân thủ quy định về kiểm dịch thực vật và an toàn thực phẩm của nước nhập khẩu.
Trình tự, thủ tục cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói được quy định rõ, phân cấp cho cơ quan chuyên môn do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giao thực hiện, với thời hạn giải quyết cụ thể, tạo thuận lợi cho tổ chức, cá nhân. Nghị định đồng thời quy định nguyên tắc đặt mã số, cơ chế kiểm tra, giám sát, tạm dừng, thu hồi và phục hồi mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói theo từng thị trường nhập khẩu.
Bên cạnh đó, Nghị định phân định rõ trách nhiệm của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc quản lý, sử dụng mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói, cũng như trách nhiệm của tổ chức, cá nhân nhập khẩu cây mang theo bầu đất.
Nghị định có hiệu lực thi hành kể từ ngày 24/01/2026; các mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói đã được cấp trước đó được tiếp tục sử dụng trong thời hạn 1 năm để thực hiện chuyển đổi theo quy định mới.
Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà ký Quyết định số 4/2026/QĐ-TTg ban hành Quy chế hoạt động ứng phó sự cố tràn dầu.

Bên gây ra ô nhiễm tràn dầu phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tràn dầu gây ra
Quy chế này quy định về phạm vi, nguyên tắc, phân cấp mức độ sự cố tràn dầu; công tác chuẩn bị ứng phó sự cố tràn dầu; công tác tổ chức ứng phó, khắc phục và giải quyết hậu quả sự cố tràn dầu; trách nhiệm của các bộ, ngành, địa phương và các tổ chức, cá nhân đối với sự cố tràn dầu trên lãnh thổ và các vùng biển Việt Nam.
Nguyên tắc trong hoạt động ứng phó sự cố tràn dầu
Theo Quy chế, hoạt động ứng phó sự cố tràn dầu phải bảo đảm nguyên tắc tích cực, chủ động xây dựng kế hoạch, đầu tư trang thiết bị, các phương án hợp đồng để sẵn sàng ứng phó khi xảy ra sự cố tràn dầu.
Tổ chức tiếp nhận, xử lý thông tin sự cố tràn dầu kịp thời, ưu tiên bảo đảm thông tin cho hoạt động ứng phó, báo cáo kịp thời đến cấp có thẩm quyền khi vượt khả năng ứng phó.
Phối hợp, huy động mọi nguồn lực để nâng cao hiệu quả chuẩn bị và ứng phó, khắc phục hậu quả sự cố tràn dầu, ưu tiên các hoạt động để cứu người bị nạn và bảo vệ môi trường.
Chủ động ứng phó gần nguồn dầu tràn để ngăn chặn, hạn chế dầu tràn ra môi trường. Giám sát chặt chẽ nguy cơ lan tỏa dầu tràn vào đường bờ để xác định thứ tự ưu tiên và tiến hành các biện pháp bảo vệ các khu vực ưu tiên bảo vệ. Bảo đảm an toàn, phòng chống cháy nổ trong ứng phó.
Chỉ huy thống nhất, phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ các lực lượng, phương tiện, thiết bị tham gia hoạt động ứng phó sự cố tràn dầu.
Bên gây ra ô nhiễm tràn dầu phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tràn dầu gây ra theo quy định của pháp luật.
Phân cấp ứng phó sự cố tràn dầu
Quy chế nêu rõ, căn cứ vào mức độ sự cố tràn dầu, việc tổ chức, thực hiện ứng phó được tiến hành ở 3 cấp sau đây:
1. Cấp cơ sở
Sự cố tràn dầu xảy ra ở cơ sở: Chủ cơ sở tổ chức, chỉ huy lực lượng, phương tiện, thiết bị của mình hoặc lực lượng, phương tiện, thiết bị trong hợp đồng ứng phó sự cố tràn dầu để tổ chức, triển khai ứng phó kịp thời, hiệu quả. Chủ cơ sở xảy ra sự cố tràn dầu chịu trách nhiệm chỉ huy hiện trường;
Trường hợp sự cố tràn dầu vượt quá khả năng nguồn lực ứng phó của cơ sở, chủ cơ sở báo cáo cơ quan chủ quản, Ủy ban nhân dân cấp xã để tổ chức ứng phó, đồng thời báo cáo đến Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố (sau đây gọi chung là cấp tỉnh) để được trợ giúp;
Trường hợp xảy ra sự cố tràn dầu nghiêm trọng hoặc sự cố tràn dầu xảy ra trong khu vực ưu tiên bảo vệ, Cấp trưởng các cơ quan, đơn vị là chỉ huy hiện trường, đồng thời báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi xảy ra sự cố và Ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia để chỉ đạo, kịp thời ứng phó.
2. Cấp tỉnh
Sự cố tràn dầu xảy ra vượt quá khả năng ứng phó của cơ sở hoặc sự cố tràn dầu xảy ra chưa rõ nguyên nhân tại các địa phương, thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi xảy ra sự cố có trách nhiệm trực tiếp chủ trì, ứng phó và chỉ định người chỉ huy hiện trường để tổ chức ứng phó theo kế hoạch của địa phương, đồng thời được phép huy động khẩn cấp nguồn lực cần thiết của các cơ sở, các bộ, ngành đứng trên địa bàn, Trung tâm Ứng phó sự cố tràn dầu khu vực để tổ chức ứng phó;
Đầu mối giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức ứng phó sự cố tràn dầu là Ban Chỉ huy Phòng thủ dân sự cấp tỉnh.
3. Cấp quốc gia
Trường hợp sự cố tràn dầu đặc biệt nghiêm trọng vượt quá khả năng của địa phương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi xảy ra sự cố tràn dầu kịp thời báo cáo Ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia để trực tiếp chỉ đạo, phối hợp với các cơ quan liên quan tổ chức ứng phó;
Trường hợp sự cố tràn dầu vượt quá khả năng ứng phó của các lực lượng trong nước, Ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia đề nghị Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định việc yêu cầu trợ giúp quốc tế.
Trong quá trình tổ chức ứng phó sự cố tràn dầu ở các cấp, cơ quan chủ trì hoặc chỉ huy hiện trường chủ động xử lý, báo cáo kịp thời diễn biến sự cố, đề xuất các kiến nghị cần thiết đến cấp có thẩm quyền và chịu trách nhiệm với quyết định của mình.
3 mức độ sự cố tràn dầu
Sự cố tràn dầu được phân theo số lượng dầu tràn ở 3 mức từ nhỏ, trung bình đến lớn. Cụ thể:
a) Sự cố tràn dầu nhỏ (mức nhỏ) là sự cố tràn dầu có lượng dầu tràn dưới 20 m3 (tấn);
b) Sự cố tràn dầu trung bình (mức trung bình) là sự cố tràn dầu có lượng dầu tràn từ 20 m3 (tấn) đến 500 m3 (tấn);
c) Sự cố tràn dầu lớn (mức lớn) là sự cố tràn dầu có lượng dầu tràn lớn hơn 500 m3 (tấn).
Việc phân loại mức độ sự cố tràn dầu để xây dựng kế hoạch ứng phó và xác định mức độ đầu tư trang, thiết bị, nguồn lực để chuẩn bị sẵn sàng, ứng phó kịp thời đối với các cấp độ ứng phó khác nhau.
Xây dựng lực lượng ứng phó sự cố tràn dầu các cấp
Quy chế nêu rõ: Ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia tham mưu cho Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo Bộ Quốc phòng chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành và địa phương thiết lập chương trình và tổ chức tập huấn, huấn luyện, diễn tập để nâng cao hiệu quả phối hợp ứng phó, khắc phục hậu quả sự cố tràn dầu cấp quốc gia tại Việt Nam.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Xây dựng tổ chức các khóa đào tạo, tập huấn về ứng phó, khắc phục hậu quả sự cố tràn dầu chuyên ngành cho cấp khu vực và quốc gia.
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo cơ quan chuyên môn chủ trì, xây dựng và tổ chức các khóa tập huấn, huấn luyện, diễn tập để nâng cao hiệu quả ứng phó, khắc phục hậu quả sự cố tràn dầu tại địa phương; Ủy ban nhân dân cấp xã làm tốt công tác thông tin, tuyên truyền cho các tổ chức, cá nhân và cộng đồng dân cư chấp hành nghiêm các quy định của pháp luật và tác hại của sự cố tràn dầu đối với con người và môi trường.
Các Trung tâm Ứng phó sự cố tràn dầu khu vực miền Bắc, miền Trung và miền Nam do cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia điều hành trong lĩnh vực hoạt động ứng phó sự cố tràn dầu, các đơn vị ứng phó sự cố tràn dầu bảo đảm cho cán bộ, nhân viên được đào tạo, huấn luyện về chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng khả năng sẵn sàng triển khai các hoạt động ứng phó khẩn cấp khi xảy ra sự cố. Trung tâm Ứng phó sự cố tràn dầu khu vực thực hiện tập huấn, huấn luyện, cấp chứng chỉ cho học viên tham gia sau mỗi đợt tập huấn, huấn luyện; tổ chức diễn tập theo kế hoạch đã được Văn phòng Ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia phê duyệt.
Các cơ sở, cảng, dự án trên đất liền, trên sông, ven bờ biển sẵn sàng ứng phó sự cố tràn dầu theo kế hoạch ứng phó sự cố tràn dầu đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt; huy động kịp thời lực lượng, phương tiện triển khai quây chặn, khống chế được dầu tràn trong thời gian tối đa 02 giờ đối với sự cố tràn dầu có khối lượng dầu tràn dưới 20 m3 (sử dụng lực lượng phương tiện tại chỗ); trong thời gian tối đa 12 giờ đối với sự cố có khối lượng dầu tràn từ 20 m3 đến 500 m3 và trong thời gian tối đa 15 giờ đối với sự cố có khối lượng dầu tràn trên 500 m3 (sử dụng lực lượng phương tiện của đơn vị chuyên trách cùng tham gia ứng phó).
Các cơ sở, dự án ngoài khơi sẵn sàng ứng phó sự cố tràn dầu theo kế hoạch ứng phó sự cố tràn dầu đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt; huy động kịp thời lực lượng, phương tiện triển khai quây chặn, khống chế được dầu tràn trong thời gian 02 giờ đối với sự cố tràn dầu có khối lượng dầu tràn dưới 20 m3 (sử dụng lực lượng, phương tiện tại chỗ); trong thời gian tối đa 24 giờ đối với sự cố tràn dầu có khối lượng từ 20 m3 đến 500 m3 và trong thời gian tối đa 48 giờ đối với sự cố tràn dầu có khối lượng trên 500 m3 (sử dụng lực lượng phương tiện của đơn vị chuyên trách cùng tham gia ứng phó).
Quyết định này có hiệu lực thi hành từ ngày 10/02/2026.
Chính phủ ban hành Nghị định số 40/2026/NĐ-CP ngày 25/01/2026 quy định chi tiết một số điều của Luật Thủy lợi. Trong đó, đáng chú ý là quy định cấp giấy phép cho các hoạt động trong phạm vi bảo vệ công trình thủy lợi.
Nghị định này gồm 5 chương, 35 điều quy định về phân loại, phân cấp công trình thủy lợi; năng lực của tổ chức, cá nhân khai thác công trình thủy lợi; phương án bảo vệ công trình thủy lợi; thẩm quyền, trình tự, thủ tục cấp, cấp lại, gia hạn, điều chỉnh, đình chỉ, thu hồi giấy phép đối với các hoạt động trong phạm vi bảo vệ công trình thủy lợi.
Trình tự, thủ tục cấp giấy phép đối với các hoạt động trong phạm vi bảo vệ công trình thủy lợi
Nghị định quy định trình tự, thủ tục cấp giấy phép như sau:
Đối với giấy phép thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, tổ chức, cá nhân đề nghị cấp giấy phép nộp 01 bộ hồ sơ và nhận kết quả giải quyết thủ tục hành chính trực tiếp tại Bộ phận Một cửa; trực tuyến tại Cổng Dịch vụ công quốc gia hoặc qua dịch vụ bưu chính đến cơ quan được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giao tiếp nhận hồ sơ giải quyết thủ tục hành chính. Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép quy định tại Điều 23 Nghị định này.
Cơ quan được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giao tiếp nhận hồ sơ giải quyết thủ tục hành chính trả lời ngay tính đầy đủ của thành phần hồ sơ đối với trường hợp nộp trực tiếp; trả lời bằng văn bản trong 01 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ, nếu thành phần hồ sơ chưa đầy đủ đối với trường hợp nộp hồ sơ qua dịch vụ bưu chính hoặc trực tuyến tại Cổng Dịch vụ công quốc gia. Trường hợp cơ quan tiếp nhận hồ sơ sau 16 giờ thì văn bản trả lời được gửi trong ngày làm việc tiếp theo.
Thời hạn cấp giấy phép: Đối với các hoạt động quy định tại khoản 1, khoản 2, khoản 8 Điều 15 Nghị định này: Trong thời hạn 15 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, cơ quan chuyên môn được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giao nhiệm vụ giải quyết hồ sơ tổ chức thẩm định và trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, cấp giấy phép. Trường hợp không đủ điều kiện, phải có văn bản trả lời tổ chức, cá nhân và nêu rõ lý do không cấp giấy phép.
Đối với hoạt động quy định tại khoản 3, khoản 5 Điều 15 thì thời hạn giải quyết là 07 ngày làm việc; đối với hoạt động quy định tại khoản 4, khoản 6, khoản 7 Điều 15 là 10 ngày làm việc.
Đối với giấy phép Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phân cấp cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, tổ chức, cá nhân đề nghị cấp giấy phép nộp 01 bộ hồ sơ và nhận kết quả giải quyết thủ tục hành chính trực tiếp tại Bộ phận Một cửa; trực tuyến tại Cổng Dịch vụ công quốc gia hoặc qua dịch vụ bưu chính đến Ủy ban nhân dân cấp xã. Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép quy định tại Điều 23 Nghị định này.
Ủy ban nhân dân cấp xã trả lời ngay tính đầy đủ của thành phần hồ sơ đối với trường hợp nộp trực tiếp; trả lời bằng văn bản trong 01 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ, nếu thành phần hồ sơ chưa đầy đủ đối với trường hợp nộp hồ sơ qua dịch vụ bưu chính hoặc qua Cổng Dịch vụ công quốc gia. Trường hợp cơ quan tiếp nhận hồ sơ sau 16 giờ thì văn bản trả lời được gửi trong ngày làm việc tiếp theo.
Thời hạn cấp giấy phép: Đối với các hoạt động quy định tại khoản 1, khoản 2, khoản 8 Điều 15 Nghị định này, trong thời hạn 13 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, cơ quan chuyên môn được Ủy ban nhân dân cấp xã giao giải quyết hồ sơ tổ chức thẩm định và trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã xem xét, cấp giấy phép. Trường hợp không đủ điều kiện, phải có văn bản trả lời tổ chức, cá nhân và nêu rõ lý do không cấp giấy phép.
Đối với hoạt động quy định tại khoản 3, khoản 5 Điều 15 thì thời hạn giải quyết là 05 ngày làm việc; đối với hoạt động quy định tại khoản 4, khoản 6, khoản 7 Điều 15 thì thời hạn là 08 ngày làm việc.
Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép
Nghị định quy định hồ sơ đề nghị cấp giấy phép gồm:
1. Đơn đề nghị cấp giấy phép theo mục số 01 quy định tại Phụ lục III ban hành kèm theo Nghị định này.
2. Sơ họa vị trí khu vực tiến hành hoạt động đề nghị cấp giấy phép.
3. Báo cáo đánh giá ảnh hưởng của hoạt động đến việc quản lý, khai thác và an toàn công trình thủy lợi.
4. Văn bản ý kiến của tổ chức, cá nhân khai thác công trình thủy lợi về ảnh hưởng của hoạt động đến việc quản lý, khai thác và an toàn công trình thủy lợi của tổ chức, cá nhân.
5. Bản sao giấy chứng nhận đăng ký phương tiện cơ giới đường bộ; phương tiện đường thủy nội địa đối với hoạt động tại khoản 5 Điều 15 Nghị định này (trong trường hợp chưa được tích hợp, kết nối và chia sẻ dữ liệu quốc gia).
6. Bản sao giấy phép dịch vụ nổ mìn đối với hoạt động tại khoản 7 Điều 15 Nghị định này.
7. Đối với các dự án đầu tư trong phạm vi bảo vệ của công trình thủy lợi, hồ sơ đề nghị cấp phép phải bổ sung:
a) Bản sao quyết định thành lập hoặc bản sao giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (trong trường hợp chưa được tích hợp, kết nối và chia sẻ dữ liệu quốc gia);
b) Bản sao quyết định phê duyệt quy hoạch, chủ trương đầu tư, dự án đầu tư (trong trường hợp chưa được tích hợp, kết nối và chia sẻ dữ liệu quốc gia);
c) Bản sao quyết định phê duyệt kết quả thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường, giấy phép môi trường hoặc đăng ký môi trường đã được cơ quan có thẩm quyền ban hành theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường (trong trường hợp chưa được tích hợp, kết nối và chia sẻ dữ liệu quốc gia);
d) Bản sao thông báo thẩm định thiết kế cơ sở hoặc thông báo thẩm định thiết kế, bản vẽ thiết kế của dự án;
đ) Bản vẽ thiết kế kỹ thuật thi công được phê duyệt đối với trường hợp quy định tại khoản 1, khoản 2, khoản 8 Điều 15 Nghị định này.
Thời hạn của giấy phép
Nghị định quy định thời hạn tối đa của giấy phép cho các hoạt động quy định tại khoản 1, khoản 2, khoản 4, khoản 5, khoản 6, khoản 7, khoản 8 Điều 15 Nghị định này là 05 năm; thời hạn tối đa của giấy phép cho hoạt động quy định tại khoản 3 Điều 15 Nghị định này là 10 năm.
Giấy phép được xem xét gia hạn nhiều lần, mỗi lần gia hạn tối đa là 03 năm.
Cơ quan cấp giấy phép quyết định việc thay đổi thời hạn của giấy phép trong trường hợp công trình thủy lợi có nguy cơ mất an toàn; hoạt động trong phạm vi bảo vệ công trình ảnh hưởng đến vận hành công trình.
Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 25/01/2026; bãi bỏ Nghị định số 67/2018/NĐ-CP ngày 14/5/2018 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Thủy lợi; Nghị định số 40/2023/NĐ-CP ngày 27/6/2023 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 67/2018/NĐ-CP ngày 14/5/2018 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Thủy lợi.
Phó Thủ tướng Nguyễn Chí Dũng ký Quyết định số 162/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật Quy hoạch. Luật Quy hoạch số 112/2025/QH15 được Quốc hội Khóa XV thông qua tại Kỳ họp thứ 10 ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/3/2026 đã thể chế đầy đủ, kịp thời các chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước về công tác quy hoạch.

Triển khai thi hành Luật Quy hoạch
Để triển khai thi hành Luật Quy hoạch được đồng bộ, thống nhất, kịp thời và hiệu quả, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật Quy hoạch.
Bảo đảm thi hành Luật Quy hoạch kịp thời, hiệu quả
Mục đích của Kế hoạch là xác định cụ thể nội dung công việc, tiến độ, thời hạn hoàn thành và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức có liên quan trong việc tổ chức thi hành Luật Quy hoạch bảo đảm kịp thời, đồng bộ, thống nhất, hiệu lực, hiệu quả.
Đồng thời, xác định trách nhiệm của cơ quan chủ trì và các cơ quan phối hợp trong việc tiến hành các hoạt động triển khai thi hành Luật Quy hoạch trên phạm vi cả nước; thiết lập cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành, địa phương trong quá trình tổ chức thi hành Luật, qua đó tăng cường sự lãnh đạo, điều hành tập trung, thống nhất của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; đồng thời phát huy tính chủ động, trách nhiệm của chính quyền địa phương trong tổ chức triển khai các nhiệm vụ được giao.
Tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, thống nhất và khả thi cho hoạt động quy hoạch theo đúng tinh thần của Luật, phù hợp với yêu cầu sắp xếp tổ chức bộ máy hành chính nhà nước tinh gọn, giảm tầng nấc trung gian, bảo đảm hoạt động liên thông, thông suốt, hiệu lực, hiệu quả và sát thực tiễn; nâng cao nhận thức về Luật Quy hoạch và trách nhiệm của các bộ, ngành, địa phương trong việc triển khai thi hành Luật Quy hoạch.
8 nội dung của Kế hoạch
Kế hoạch triển khai thi hành Luật Quy hoạch bao gồm các nội dung sau:
1- Tổ chức quán triệt, phổ biến, giáo dục truyền thông Luật Quy hoạch và văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Quy hoạch: Các bộ, ngành, địa phương liên quan đăng tải, cập nhật toàn bộ nội dung Luật Quy hoạch và các văn bản quy định chi tiết Luật trên Cổng Thông tin điện tử hoặc Trang thông tin điện tử và các hình thức phù hợp khác của Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp xã để cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và Nhân dân dễ dàng tiếp cận, khai thác, sử dụng.
Tổ chức tuyên truyền, phổ biến nội dung Luật Quy hoạch và các điểm mới của Luật Quy hoạch bằng các hình thức đa dạng, phù hợp với điều kiện, tình hình thực tế; tổ chức thực hiện các chuyên mục, chương trình, tin, bài phổ biến Luật Quy hoạch...
2- Xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết Luật Quy hoạch: Bộ Tài chính chủ trì xây dựng Nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Quy hoạch, trình Chính phủ ban hành trước ngày 1/3/2026.
3- Xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật quy định biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Quy hoạch: Thông tư của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn định mức kinh phí cho hoạt động quy hoạch; Thông tư của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn yêu cầu nội dung và kỹ thuật của cơ sở dữ liệu quy hoạch và sơ đồ quy hoạch cấp quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh.
4- Rà soát, sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc ban hành mới các văn bản quy phạm pháp luật có quy định liên quan đến quy hoạch để bảo đảm đồng bộ, thống nhất với quy định của Luật Quy hoạch.
5- Biên soạn tài liệu hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ về hoạt động quy hoạch; kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, tổ chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật về quy hoạch.
6- Tổ chức tập huấn, bồi dưỡng cho cán bộ, công chức làm công tác quản lý quy hoạch.
7- Tổ chức lập, thẩm định, quyết định hoặc phê duyệt, công bố, cung cấp thông tin và điều chỉnh quy hoạch.
8- Tổ chức kiểm tra, đôn đốc, theo dõi tình hình tổ chức thi hành Luật Quy hoạch và các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Quy hoạch.
Phó Thủ tướng Thường trực Nguyễn Hòa Bình ký Công văn số 85/TTg-V.I của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường chấp hành nghiêm pháp luật tố tụng hành chính và thi hành án hành chính.
Tuyệt đối không để xảy ra tình trạng "ba không"
Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Ban Bí thư tại Công văn số 18802-CV/VPTW ngày 11/11/2025 của Văn phòng Trung ương Đảng về Đề án "Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thi hành án hành chính hiện nay" và ý kiến của Ban Thường vụ Đảng ủy Chính phủ, để nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác chấp hành pháp luật tố tụng hành chính và thi hành án hành chính trong thời gian tới, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương theo chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền tập trung chỉ đạo thực hiện nghiêm các quy định của Luật Tố tụng hành chính về trách nhiệm tham gia đối thoại, tham gia phiên tòa và cung cấp tài liệu, chứng cứ trong các vụ án hành chính mà cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước bị khởi kiện; chỉ đạo rà soát, phân công trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị, cá nhân và xác định rõ thời hạn, lộ trình chi tiết để tổ chức thi hành dứt điểm các bản án, quyết định của Tòa án về vụ án hành chính đã có hiệu lực thi hành mà Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân là bên phải thi hành án, tuyệt đối không để xảy ra tình trạng "ba không", không tham gia tố tụng, không kháng cáo khi không đồng tình với bản án, quyết định và không tổ chức thi hành khi bản án, quyết định đã có hiệu lực trong bộ máy hành chính nhà nước trên địa bàn địa phương.
Báo cáo, đề xuất Ban Thường vụ tỉnh ủy, thành ủy xem xét đưa vào diện Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực cấp tỉnh theo dõi, chỉ đạo đối với những bản án, quyết định của Tòa án về vụ án hành chính thuộc trách nhiệm thi hành của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân, nhất là những bản án, quyết định chưa thi hành xong đã kéo dài nhiều năm, Tòa án đã ra quyết định buộc thi hành án hành chính, cơ quan có thẩm quyền đã đôn đốc, kiến nghị việc thi hành án hành chính.
Không đánh giá hoàn thành tốt, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đối với cán bộ, công chức, viên chức vi phạm pháp luật về thi hành án hành chính
Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo tổ chức kiểm tra, thanh tra, xem xét và xử lý trách nhiệm đối với các tổ chức, cá nhân có hành vi chậm thi hành án, không chấp hành, chấp hành không đúng hoặc không đầy đủ nội dung bản án, quyết định của Tòa án theo quy định của Luật Tố tụng hành chính năm 2015, Nghị định số 71/2016/NĐ-CP ngày 1/7/2016 của Chính phủ quy định thời hạn, trình tự, thủ tục thi hành án hành chính và xử lý trách nhiệm đối với người không thi hành bản án, quyết định của Tòa án và Chỉ thị số 26/CT-TTg ngày 15/11/2019 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường chấp hành pháp luật tố tụng hành chính và thi hành án hành chính.
Đồng thời, đưa nội dung công tác thi hành án hành chính vào chương trình, kế hoạch công tác hàng năm của Ủy ban nhân dân các cấp; bổ sung tiêu chí đánh giá kết quả thi hành án hành chính vào tiêu chí đánh giá, xếp loại mức độ hoàn thành nhiệm vụ và bình xét thi đua, khen thưởng đối với các sở, ban, ngành và Ủy ban nhân dân các xã, phường, đặc khu trên địa bàn tỉnh, thành phố. Thực hiện và chỉ đạo thực hiện nghiêm Điều 31 Nghị định số 71/2016/NĐ-CP ngày 1/7/2016 của Chính phủ quy định thời hạn, trình tự, thủ tục thi hành án hành chính và xử lý trách nhiệm đối với người phải thi hành án không thi hành bản án, quyết định của Tòa án về việc không xét thi đua, khen thưởng; không đánh giá, phân loại ở mức độ hoàn thành tốt nhiệm vụ, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đối với cán bộ, công chức, viên chức vi phạm pháp luật về thi hành án hành chính.
Tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong công tác thi hành án hành chính, trách nhiệm của người đứng đầu, xác định đây là một trong những nội dung cần phải xem xét trong công tác đánh giá, quy hoạch, bổ nhiệm cán bộ.
Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo nâng cao hiệu quả công tác phối hợp giữa các Sở, ban, ngành, Ủy ban nhân dân xã, phường, đặc khu trên địa bàn tỉnh, thành phố trong công tác thi hành án hành chính; phối hợp chặt chẽ với cơ quan kiểm sát, cơ quan thi hành án dân sự trên địa bàn trong quá trình các cơ quan này thực hiện chức năng kiểm sát và theo dõi thi hành án hành chính theo quy định của Luật Tố tụng hành chính và Nghị định số 71/2016/NĐ-CP.
Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Tư pháp giúp Thủ tướng Chính phủ theo dõi, đôn đốc, kiểm tra Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố thực hiện nghiêm quy định của pháp luật về tố tụng hành chính, thi hành án hành chính; phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các bộ, ban, ngành có liên quan triển khai thực hiện có hiệu quả ý kiến của Ban Bí thư tại Công văn số 18802-CV/VPTW ngày 11/11/2025 của Văn phòng Trung ương Đảng và chỉ đạo tại văn bản này.
Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng ký Quyết định số 163/QĐ-TTg phân công cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản quy định chi tiết thi hành Luật Phục hồi, phá sản và tổ chức triển khai thi hành Luật Tòa án chuyên biệt tại Trung tâm tài chính quốc tế. Đây là 2 luật được Quốc hội khóa XV thông qua tại Kỳ họp thứ 10.
Đối với Luật Phục hồi, phá sản, Phó Thủ tướng phân công Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao và các Bộ, ngành liên quan soạn thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Phục hồi, phá sản về Quản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản (khoản 2 Điều 9, Điều 21) và Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Phục hồi, phá sản về thi hành quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản (Điều 76, Điều 77).
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chủ trì, phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao và các Bộ, ngành liên quan soạn thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Phục hồi, phá sản về xử lý tài sản bảo đảm của doanh nghiệp, hợp tác xã, thanh toán hoặc bù trừ có lợi, tạm đình chỉ, đình chỉ thực hiện hợp đồng đang có hiệu lực, bù trừ nghĩa vụ trường hợp pháp luật có quy định khác (khoản 2 Điều 27, khoản 3 Điều 40, điểm c khoản 1 Điều 49, khoản 1 Điều 53).
Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao và các Bộ, ngành liên quan soạn thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Phục hồi, phá sản về việc thay đổi người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp có vốn nhà nước sau khi Tòa án thụ lý đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phục hồi; hoạt động và giám sát hoạt động của doanh nghiệp; hợp tác xã sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản (Điều 30, Điều 40, khoản 5 Điều 42).
Các văn bản trên phải trình Chính phủ trước ngày 15/2/2026.
Phó Thủ tướng cho phép áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn đối với các văn bản trên.
Các bộ, cơ quan ngang bộ tổ chức soạn thảo các văn bản quy định chi tiết bảo đảm chất lượng, tiến độ ban hành văn bản quy định chi tiết có hiệu lực đồng thời với Luật hoặc nội dung giao quy định chi tiết; chủ động rà soát, xây dựng, ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản để sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật có liên quan; công bố toàn bộ hoặc một phần văn bản quy định chi tiết, quy định biện pháp cụ thể để tổ chức, hướng dẫn thi hành văn bản quy phạm pháp luật tiếp tục có hiệu lực theo quy định tại khoản 2 Điều 57 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 để bảo đảm triển khai thi hành kịp thời, hiệu quả Luật Phục hồi, phá sản.
Đối với Luật Tòa án chuyên biệt tại Trung tâm tài chính quốc tế, Phó Thủ tướng yêu cầu Bộ Tư pháp phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao và các Bộ, cơ quan ngang Bộ có liên quan tổ chức triển khai thi hành Luật Tòa án chuyên biệt tại Trung tâm tài chính quốc tế; trên cơ sở thực tiễn triển khai và yêu cầu quản lý nhà nước, chủ động nghiên cứu, báo cáo, đề xuất Chính phủ xem xét việc xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật Tòa án chuyên biệt tại Trung tâm tài chính quốc tế trong trường hợp có nội dung thuộc thẩm quyền của Chính phủ./.