In bài viết

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 27/7/2026

(Chinhphu.vn) - Văn phòng Chính phủ vừa có Thông cáo báo chí chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 27/7/2026.

27/07/2026 18:03

Quy định về đăng ký tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã

Chính phủ ban hành Nghị định số 295/2026/NĐ-CP quy định về đăng ký tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 27/7/2026- Ảnh 1.

Quy định về đăng ký tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã

Giấy chứng nhận đăng ký

Nghị định quy định Giấy chứng nhận đăng ký tổ hợp tác được cấp cho tổ hợp tác. Giấy chứng nhận đăng ký hợp tác xã được cấp cho hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã.

Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động chi nhánh, văn phòng đại diện, Giấy chứng nhận đăng ký địa điểm kinh doanh được cấp cho chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã.

Nội dung Giấy chứng nhận đăng ký tổ hợp tác, Giấy chứng nhận đăng ký hợp tác xã, Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động chi nhánh, văn phòng đại diện, Giấy chứng nhận đăng ký địa điểm kinh doanh được ghi trên cơ sở thông tin trong hồ sơ đăng ký tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, hồ sơ đăng ký hoạt động chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh.

Giấy chứng nhận đăng ký tổ hợp tác, Giấy chứng nhận đăng ký hợp tác xã đồng thời là Giấy chứng nhận đăng ký thuế của tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã. Giấy chứng nhận đăng ký tổ hợp tác, Giấy chứng nhận đăng ký hợp tác xã không phải là giấy phép kinh doanh.

Cơ quan đăng ký kinh doanh giải quyết thủ tục đăng ký tổ hợp tác, hợp tác xã

Nghị định quy định trường hợp đơn vị hành chính cấp xã thành lập phòng chuyên môn thì cơ quan đăng ký kinh doanh giải quyết thủ tục đăng ký tổ hợp tác, đăng ký hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã là phòng chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã có chức năng, nhiệm vụ đăng ký tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã theo quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.

Trường hợp đơn vị hành chính cấp xã không thành lập phòng chuyên môn thì cơ quan đăng ký kinh doanh giải quyết thủ tục đăng ký tổ hợp tác, đăng ký hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã là Ủy ban nhân dân cấp xã.

Cơ quan đăng ký kinh doanh giải quyết thủ tục đăng ký tổ hợp tác, đăng ký hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã quy định ở trên được gọi là cơ quan đăng ký kinh doanh cấp xã. Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp xã có tài khoản và con dấu.

Thủ tục đăng ký tại Bộ phận một cửa

The quy định, người thành lập tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã hoặc tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã nộp 01 bộ hồ sơ khi thực hiện thủ tục đăng ký tổ hợp tác, đăng ký hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã.

Người nộp hồ sơ đăng ký tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã nộp hồ sơ đến Bộ phận một cửa cấp xã.

Hồ sơ đăng ký tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã được tiếp nhận vào Hệ thống thông tin về đăng ký hợp tác xã khi có đủ các điều kiện sau đây:

- Có đủ giấy tờ theo quy định tại Luật Hợp tác xã và Nghị định này;

- Tên tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã đã được điền vào giấy đề nghị đăng ký;

- Có số điện thoại của người nộp hồ sơ;

- Đã nộp lệ phí đăng ký kinh doanh, trừ trường hợp được miễn lệ phí đăng ký kinh doanh theo quy định.

Sau khi tiếp nhận hồ sơ đăng ký, Bộ phận một cửa cấp xã trao giấy tiếp nhận hồ sơ và hẹn trả kết quả cho người nộp hồ sơ và chuyển ngay hồ sơ đến cơ quan đăng ký kinh doanh cấp xã để giải quyết theo quy định.

Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp xã nhập đầy đủ, chính xác thông tin trong hồ sơ đăng ký tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, số hóa, đặt tên văn bản điện tử tương ứng với tên loại giấy tờ trong hồ sơ đăng ký bằng bản giấy và đính kèm lên Hệ thống thông tin về đăng ký hợp tác xã.

Các thông tin đăng ký tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã trên Hệ thống thông tin về đăng ký hợp tác xã được truyền sang Hệ thống ứng dụng đăng ký thuế để phối hợp, trao đổi thông tin giữa cơ quan đăng ký kinh doanh cấp xã và cơ quan thuế.

Thời hạn để tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã sửa đổi, bổ sung hồ sơ đăng ký là 60 ngày kể từ ngày cơ quan đăng ký kinh doanh cấp xã ra thông báo yêu cầu sửa đổi, bổ sung hồ sơ. Sau thời hạn nêu trên, nếu tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã không nộp hồ sơ sửa đổi, bổ sung thì hồ sơ đăng ký không còn giá trị. Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp xã sẽ hủy hồ sơ đăng ký theo quy trình trên Hệ thống thông tin về đăng ký hợp tác xã.

Người có thẩm quyền ký văn bản đề nghị đăng ký tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã có thể gửi văn bản đề nghị dừng thực hiện thủ tục đăng ký đến cơ quan đăng ký kinh doanh cấp xã khi hồ sơ đăng ký tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã chưa được chấp thuận trên Hệ thống thông tin về đăng ký hợp tác xã. Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp xã xem xét, ra thông báo dừng thực hiện thủ tục đăng ký cho tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã và hủy hồ sơ đăng ký theo quy trình trên Hệ thống thông tin về đăng ký hợp tác xã trong thời hạn 01 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đề nghị. Trường hợp từ chối dừng thực hiện thủ tục, cơ quan đăng ký kinh doanh cấp xã ra thông báo bằng văn bản cho tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã và nêu rõ lý do từ chối.

Thủ tục đăng ký trên môi trường điện tử

Người nộp hồ sơ đăng nhập Cổng dịch vụ công quốc gia hoặc ứng dụng định danh quốc gia bằng tài khoản định danh điện tử để truy cập Hệ thống thông tin về đăng ký hợp tác xã. Người nộp hồ sơ thực hiện thủ tục đăng ký tổ hợp tác, đăng ký hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã theo quy trình trên Hệ thống thông tin về đăng ký hợp tác xã như sau:

a) Trường hợp người nộp hồ sơ là người có thẩm quyền ký văn bản đề nghị đăng ký tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã

Người nộp hồ sơ kê khai thông tin trên Hệ thống thông tin về đăng ký hợp tác xã. Đối với các giấy đề nghị hoặc thông báo có nội dung được kê khai trên Hệ thống và chỉ yêu cầu người nộp hồ sơ ký thì người nộp hồ sơ không phải ký số hoặc ký trực tiếp và tải lên Hệ thống thông tin về đăng ký hợp tác xã. Đối với các giấy tờ khác trong thành phần hồ sơ đăng ký theo quy định, người nộp hồ sơ phải bảo đảm các giấy tờ này được ký số hoặc ký trực tiếp theo quy định, được thể hiện dưới dạng văn bản điện tử và tải các giấy tờ này lên Hệ thống thông tin về đăng ký hợp tác xã.

Đối với các giấy đề nghị hoặc thông báo có nội dung được kê khai trên Hệ thống thông tin về đăng ký hợp tác xã yêu cầu nhiều người ký và giấy tờ khác trong thành phần hồ sơ đăng ký theo quy định, người nộp hồ sơ phải bảo đảm các giấy tờ này được ký số hoặc ký trực tiếp theo quy định, được thể hiện dưới dạng văn bản điện tử và tải các giấy tờ này lên Hệ thống thông tin về đăng ký hợp tác xã.

Người nộp hồ sơ thanh toán phí, lệ phí (nếu có) và thực hiện xác thực điện tử theo quy định để nộp hồ sơ. Sau khi hoàn thành việc gửi hồ sơ, người nộp hồ sơ sẽ nhận được giấy tiếp nhận hồ sơ và hẹn trả kết quả điện tử.

b) Trường hợp người nộp hồ sơ là người được ủy quyền thực hiện thủ tục đăng ký tổ hợp tác, đăng ký hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã

Người nộp hồ sơ kê khai thông tin và tải các giấy tờ trong thành phần hồ sơ đăng ký theo quy định lên Hệ thống thông tin về đăng ký hợp tác xã. Các giấy tờ này phải được ký số hoặc ký trực tiếp theo quy định và được thể hiện dưới dạng văn bản điện tử.

Người nộp hồ sơ thanh toán phí, lệ phí (nếu có) và thực hiện xác thực điện tử theo quy định để nộp hồ sơ. Sau khi hoàn thành việc gửi hồ sơ, người nộp hồ sơ sẽ nhận được giấy tiếp nhận hồ sơ và hẹn trả kết quả điện tử.

Nghị định nêu rõ, các thông tin đăng ký tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã trên Hệ thống thông tin về đăng ký hợp tác xã được truyền sang Hệ thống ứng dụng đăng ký thuế để phối hợp, trao đổi thông tin giữa cơ quan đăng ký kinh doanh cấp xã và cơ quan thuế.

Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp xã xem xét tính hợp lệ của hồ sơ và trả kết quả giải quyết hồ sơ cho tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã theo quy định tại Luật Hợp tác xã và Nghị định này. Người nộp hồ sơ đăng nhập vào Hệ thống thông tin về đăng ký hợp tác xã để nhận thông tin phản hồi về kết quả xử lý hồ sơ.

Tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã thực hiện thủ tục đăng ký trên môi trường điện tử có thể dừng thực hiện thủ tục đăng ký tổ hợp tác, đăng ký hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã theo quy định.

Nghị định này có hiệu lực từ ngày 23 tháng 7 năm 2026 và thay thế Nghị định số 92/2024/NĐ-CP ngày 18 tháng 7 năm 2024 của Chính phủ về đăng ký tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã.

Xử lý khó khăn, vướng mắc trong quy định về lập, phân bổ và giao dự toán chi sự nghiệp cho hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo

Chính phủ ban hành Nghị quyết số 66.24/2026/NQ-CP ngày 26/7/2026 về xử lý khó khăn, vướng mắc trong quy định về lập, phân bổ và giao dự toán chi sự nghiệp cho hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 27/7/2026- Ảnh 2.

Xử lý khó khăn, vướng mắc trong lập, giao dự toán cho hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo

Nghị quyết này quy định về xử lý khó khăn, vướng mắc trong việc lập dự toán kinh phí cho chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo hàng năm, kinh phí hỗ trợ hoạt động thường xuyên cho tổ chức khoa học và công nghệ công lập và việc phân bổ, giao dự toán cho nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đối với bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan khác ở trung ương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chưa thành lập quỹ phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quy định tại điểm d, đ khoản 2 và điểm e khoản 3 Điều 63 Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo số 93/2025/QH15.

Lập dự toán kinh phí cho chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo hằng năm từ ngân sách nhà nước

Nghị quyết nêu rõ, dự toán kinh phí hằng năm từ ngân sách nhà nước để triển khai chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo do Nhà nước tài trợ, đặt hàng thực hiện gồm dự toán kinh phí cho nhiệm vụ chuyển tiếp, dự toán kinh phí cho nhiệm vụ mở mới và dự toán kinh phí cho chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đặc biệt phục vụ phát triển công nghệ chiến lược, nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đặc biệt phục vụ phát triển công nghệ chiến lược, chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đặc biệt, nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đặc biệt, nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo cấp bách theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 16 Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo và nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo khác triển khai thực hiện theo các nghị quyết của Đảng, Chính phủ.

Dự toán kinh phí hằng năm thực hiện chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo do Nhà nước tài trợ, đặt hàng được lập như sau:

a) Dự toán kinh phí cho nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo chuyển tiếp dự kiến bố trí cho năm kế hoạch.

b) Dự toán kinh phí cho nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo mở mới được thực hiện như sau:

- Dự toán kinh phí được xác định trên cơ sở số nhiệm vụ dự kiến và kinh phí trung bình theo năm của các nhiệm vụ trong các năm trước được xác định theo từng loại hình nhiệm vụ, tăng thêm khi có thay đổi chính sách, chế độ có liên quan và điều chỉnh do lạm phát, giảm phát.

Kinh phí trung bình theo năm của các nhiệm vụ mở mới theo từng loại hình nhiệm vụ được xác định bằng cách lấy tổng kinh phí từ ngân sách nhà nước giao dự toán để triển khai các nhiệm vụ mở mới chia cho tổng số lượng các nhiệm vụ mở mới trong năm của loại hình đó.

- Trường hợp năm trước liền kề năm kế hoạch không có nhiệm vụ mở mới thuộc loại hình nhiệm vụ đề xuất hoặc không xác định được loại hình nhiệm vụ mở mới, việc lập dự toán kinh phí cho nhiệm vụ mở mới được thực hiện trên cơ sở đề xuất kinh phí của bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan khác ở trung ương và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Việc lập dự toán cho nhiệm vụ mở mới của mỗi năm theo từng loại hình nhiệm vụ trong hai năm tiếp theo năm kế hoạch được xác định trên cơ sở tổng số nhiệm vụ mở mới dự kiến và kinh phí trung bình theo năm của nhiệm vụ mở mới theo loại hình đó trong năm trước liền kề năm xây dựng kế hoạch.

c) Dự toán kinh phí để thực hiện chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đặc biệt phục vụ phát triển công nghệ chiến lược, nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đặc biệt phục vụ phát triển công nghệ chiến lược, chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đặc biệt, nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đặc biệt được lập trên cơ sở quyết định phê duyệt chương trình, nhiệm vụ của cơ quan có thẩm quyền và đề xuất kinh phí dự kiến của chương trình, nhiệm vụ.

Dự toán kinh phí để thực hiện chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đặc biệt phục vụ phát triển công nghệ chiến lược, chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đặc biệt gồm dự toán kinh phí cho nhiệm vụ, hoạt động hỗ trợ chuyển tiếp, dự toán kinh phí cho nhiệm vụ, hoạt động hỗ trợ mở mới và dự toán kinh phí cho các khoản chi khác theo quy định của pháp luật.

d) Dự toán kinh phí thực hiện nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo cấp bách theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 16 Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo và nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo khác triển khai thực hiện theo các nghị quyết của Đảng, Chính phủ được lập dự toán trên cơ sở văn bản chỉ đạo của cơ quan có thẩm quyền và đề xuất kinh phí dự kiến cho nhiệm vụ của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan khác ở trung ương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

Lập dự toán kinh phí hỗ trợ hoạt động thường xuyên cho tổ chức khoa học và công nghệ công lập

Theo Nghị quyết, việc lập dự toán kinh phí hỗ trợ hoạt động thường xuyên cho tổ chức khoa học và công nghệ công lập được thực hiện hằng năm, trên cơ sở khối lượng nội dung hoạt động dự kiến do cơ quan chủ quản xác định và dự trù kinh phí cần thiết để thực hiện, có tính đến điều kiện năng lực nhân lực, cơ sở vật chất và lĩnh vực chuyên môn của tổ chức. Việc lập dự toán giai đoạn tiếp theo được xác định trên cơ sở đánh giá kết quả hoạt động của tổ chức trong giai đoạn trước liền kề. Dự toán kinh phí hằng năm từ ngân sách nhà nước để triển khai các nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo cơ sở của tổ chức khoa học và công nghệ công lập gồm dự toán kinh phí cho nhiệm vụ chuyển tiếp và dự toán kinh phí cho nhiệm vụ mở mới trên cơ sở số nhiệm vụ dự kiến và kinh phí trung bình theo năm của các nhiệm vụ trong các năm trước, tăng thêm khi có thay đổi chính sách, chế độ có liên quan và điều chỉnh do lạm phát, giảm phát.

Trường hợp năm trước liền kề năm kế hoạch không có nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo cơ sở mở mới, việc lập dự toán kinh phí cho nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo cơ sở mở mới được thực hiện trên cơ sở đề xuất của tổ chức khoa học và công nghệ công lập được cơ quan chủ quản rà soát, xác định. Việc lập dự toán cho nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo cơ sở mở mới của mỗi năm trong hai năm tiếp theo năm kế hoạch được xác định trên tổng số nhiệm vụ cơ sở mở mới dự kiến và kinh phí trung bình của các nhiệm vụ cơ sở mở mới trong năm trước liền kề năm xây dựng kế hoạch. Kinh phí trung bình của các nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo cơ sở mở mới trong năm được xác định trên tổng kinh phí từ ngân sách nhà nước giao để triển khai các nhiệm vụ cơ sở mở mới chia cho tổng số lượng các nhiệm vụ cơ sở mở mới trong năm đó.

Việc lập dự toán kinh phí hỗ trợ hoạt động thường xuyên của tổ chức khoa học và công nghệ công lập được thực hiện theo phương án tự chủ tài chính đã được phê duyệt theo quy định về cơ chế tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập cho đến khi cơ quan có thẩm quyền ban hành quyết định giao quyền tự chủ tài chính theo quy định của pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Phân bổ và giao dự toán chi sự nghiệp khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo không thông qua quỹ phát triển khoa học, công nghệ và đổi mói sáng tạo

Nghị quyết nêu rõ, phần ngân sách nhà nước không phân bổ qua quỹ được giao dự toán trực tiếp cho đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật.

Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan khác ở trung ương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chưa thành lập quỹ phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo thì ngân sách nhà nước để thực hiện nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo do Nhà nước tài trợ, đặt hàng được phân bổ, giao dự toán theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước cho các đơn vị sử dụng ngân sách trực thuộc và đơn vị thuộc ngân sách cấp dưới của bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan khác ở trung ương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

Đối với các nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo chuyển tiếp thực hiện trước thời điểm quỹ phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan khác ở trung ương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được thành lập thì tiếp tục thực hiện cơ chế giao dự toán theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước cho đến khi kết thúc nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Nghị quyết này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 26/7/2026 và hết hiệu lực kể từ ngày Nghị quyết số 206/2025/QH15 của Quốc hội về cơ chế đặc biệt xử lý khó khăn, vướng mắc do quy định của pháp luật chấm dứt hiệu lực.

Nghị định về tổ hợp tác

Chính phủ ban hành Nghị định 294/2026/NĐ-CP về tổ hợp tác, trong đó quy định cụ thể các chính sách của nhà nước về phát triển tổ hợp tác.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 27/7/2026- Ảnh 3.

Theo quy định, tổ hợp tác là tổ chức không có tư cách pháp nhân, được hình thành trên cơ sở hợp đồng hợp tác do ít nhất 02 thành viên tự nguyện thành lập, cùng góp vốn, góp sức lao động để thực hiện những công việc nhất định, cùng hưởng lợi và cùng chịu trách nhiệm.

Việc thực hiện chính sách của nhà nước về phát triển tổ hợp tác phải bảo đảm công khai, minh bạch về nội dung, đối tượng, trình tự, thủ tục, nguồn lực, mức hỗ trợ và kết quả thực hiện; triển khai đồng bộ với Chương trình tổng thể về phát triển kinh tế tập thể, phù hợp với khả năng cân đối nguồn lực của Nhà nước ở từng thời kỳ.

Tiêu chí thụ hưởng chính sách

Tổ hợp tác được xem xét thụ hưởng chính sách của Nhà nước khi đáp ứng các tiêu chí sau:

1- Có Giấy chứng nhận đăng ký tổ hợp tác;

2- Không trong thời gian thi hành quyết định xử lý vi phạm hành chính do vi phạm các hành vi bị nghiêm cấm quy định tại khoản 2 Điều 7 của Luật Hợp tác xã số 17/2023/QH15;

3- Đáp ứng một trong các tiêu chí sau tại thời điểm nộp đơn đăng ký nhu cầu hỗ trợ:

a) Trong 02 năm liền kề trước năm nộp đơn đăng ký nhu cầu hỗ trợ, có ít nhất 01 năm số lượng thành viên tăng so với năm trước đó;

b) Có thành viên, người lao động được tham gia các lớp giáo dục, đào tạo, phổ biến, bồi dưỡng, tập huấn do tổ hợp tác tự tổ chức hoặc do các tổ chức khác tổ chức và có giấy tờ xác nhận;

c) Thành lập không quá 60 tháng tại địa bàn kinh tế - xã hội khó khăn, địa bàn kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của pháp luật.

4- Trường hợp nhiều tổ hợp tác cùng đáp úng quy định tại 1, 2, 3 ở trên, việc lựa chọn tổ hợp tác thụ hưởng chính sách được thực hiện theo thứ tự ưu tiên sau đây:

a) Số lượng thành viên nhiều hơn;

b) Số lượng thành viên là người khuyết tật nhiều hơn;

c) Số lượng thành viên là đồng bào dân tộc thiểu số nhiều hơn;

d) Số lượng thành viên, người lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc và bảo hiểm xã hội tự nguyện nhiều hơn;

đ) Có phụ nữ làm quản lý, có nhiều thành viên là nữ hoặc sử dụng nhiều lao động nữ hơn;

e) Hoạt động tại địa bàn kinh tế - xã hội khó khăn, địa bàn kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của pháp luật;

g) Tham gia liên kết hình thành chuỗi giá trị, cụm liên kết ngành, gắn với kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế tri thức, nông nghiệp hữu cơ, thích ứng với biến đổi khí hậu, chuyển đổi số vì mục tiêu phát triển bền vững;

h) Tổ chức hoặc tham gia các hoạt động lợi ích cộng đồng dân cư.

Tổ hợp tác được hưởng các chính sách như hợp tác xã

Tổ hợp tác đáp ứng các tiêu chí quy định ở trên được hưởng các chính sách hỗ trợ của nhà nước như các hợp tác xã theo quy định của Luật Hợp tác xã phù hợp với tính chất, đặc điểm của tổ hợp tác và pháp luật khác có liên quan.

Chính sách hỗ trợ tổ hợp tác chuyển đổi thành hợp tác xã

Chính sách hỗ trợ tổ hợp tác chuyển đổi thành hợp tác xã được thực hiện theo quy định tại khoản 1, khoản 3, khoản 4 và khoản 5 Điều 109 Luật Hợp tác xã số 17/2023/QH15.

Tổ hợp tác chuyển đổi thành hợp tác xã được tư vấn, hướng dẫn miễn phí về thủ tục hành chính về thuế và chế độ kế toán tối đa trong thời hạn 03 năm kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký hợp tác xã lần đầu.

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giao cơ quan chuyên môn hoặc phân cấp cho các cơ quan, đơn vị có liên quan thực hiện việc tư vấn, hướng dẫn miễn phí về thủ tục hành chính thuế và chế độ kế toán cho tổ hợp tác chuyển đổi thành hợp tác xã theo quy định.

Nghị định 294/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 23/7/2026 và thay thế Nghị định số 77/2019/NĐ-CP ngày 10/10/2019 của Chính phủ về tổ hợp tác.

Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Chính phủ ban hành Nghị định số 298/2026/NĐ-CP ngày 27/7/2026 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.

Theo quy định, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về văn hóa; gia đình; thể dục, thể thao; du lịch; báo chí; xuất bản, in, phát hành; thông tin điện tử; thông tin cơ sở và thông tin đối ngoại trong phạm vi cả nước; quản lý nhà nước các dịch vụ công trong các ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của bộ.

Về thể dục, thể thao cho mọi người, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch có nhiệm vụ trình Thủ tướng Chính phủ quyết định tổ chức các Đại hội thể thao khu vực, châu lục và thế giới tổ chức tại Việt Nam cho người khuyết tật; quy định tiêu chí đánh giá phong trào thể dục, thể thao quần chúng.

Tổ chức, hướng dẫn việc xây dựng đội ngũ hướng dẫn viên, cộng tác viên thể dục, thể thao quần chúng; tuyên truyền, hướng dẫn các phương pháp luyện tập thể dục, thể thao; bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho cộng tác viên thể dục, thể thao cơ sở; hướng dẫn, áp dụng và phát triển các môn thể thao dân tộc, các phương pháp rèn luyện sức khỏe truyền thống ở trong và ngoài nước.

Quyết định tổ chức giải thi đấu từng môn thể thao cấp khu vực, châu lục và thế giới tổ chức tại Việt Nam cho người khuyết tật; giải thi đấu thể thao quần chúng cấp quốc gia và phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an hướng dẫn chuyên môn, tổ chức hoạt động thể dục, thể thao trong nhà trường và lực lượng vũ trang nhân dân theo quy định của pháp luật; hướng dẫn việc đăng ký hoạt động của các câu lạc bộ, cơ sở thể dục, thể thao quần chúng và câu lạc bộ cổ động viên.

Về kinh doanh du lịch, hướng dẫn du lịch, xúc tiến du lịch, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quản lý, tổ chức thực hiện việc cấp, thu hồi giấy phép, thẻ hướng dẫn viên du lịch và các văn bản chứng nhận khác về hoạt động du lịch; hướng dẫn về điều kiện, thủ tục, hồ sơ cấp, cấp đổi, cấp lại, thu hồi giấy phép kinh doanh lữ hành; hướng dẫn về tiêu chuẩn, trình tự, thủ tục, hồ sơ đăng ký công nhận hạng cơ sở lưu trú du lịch và thu hồi quyết định công nhận hạng cơ sở lưu trú du lịch;

Tổ chức thực hiện việc thẩm định, công nhận hạng cơ sở lưu trú du lịch và kiểm tra chất lượng cơ sở lưu trú du lịch theo quy định của pháp luật; hướng dẫn về tiêu chuẩn, mẫu biển hiệu, hồ sơ, trình tự, thủ tục công nhận cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch đạt tiêu chuẩn phục vụ khách du lịch; quy định về người phụ trách kinh doanh dịch vụ lữ hành; nội dung đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức thi, cấp chứng chỉ nghiệp vụ điều hành du lịch; nội dung đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức thi, cấp chứng chỉ nghiệp vụ hướng dẫn du lịch; nội dung kiểm tra nghiệp vụ hướng dẫn du lịch tại điểm; tiêu chuẩn thành thạo ngoại ngữ...

Về báo chí (bao gồm: báo chí in, báo chí điện tử, phát thanh, truyền hình, bản tin thông tấn, bản tin, đặc san), Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch có nhiệm vụ tổ chức thông tin cho báo chí và quản lý thông tin của báo chí; thực hiện việc đo kiểm và công bố số liệu liên quan đến hoạt động báo chí theo quy định của pháp luật; ban hành quy chế tổ chức hội thi, liên hoan báo chí.

Kiểm tra báo chí lưu chiểu; quản lý hệ thống lưu chiểu báo chí in quốc gia; thực hiện lưu chiểu điện tử phát thanh, truyền hình, báo chí điện tử theo quy định của pháp luật; hướng dẫn, kiểm tra việc tổ chức thực hiện phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí của các cơ quan hành chính nhà nước theo quy định của pháp luật; hướng dẫn, thúc đẩy truyền thông chính sách trên báo chí và các phương tiện truyền thông đại chúng.

Cấp, sửa đổi, bổ sung, tạm đình chỉ, đình chỉ, thu hồi các loại giấy phép trong lĩnh vực báo chí, phát thanh, truyền hình; cấp, đổi, cấp lại và thu hồi thẻ nhà báo; đình chỉ cuộc họp báo theo quy định của pháp luật về báo chí.

Hướng dẫn việc hoạt động của báo chí và nhà báo trong cả nước, phối hợp với các cơ quan có liên quan quản lý hoạt động của báo chí Việt Nam liên quan đến nước ngoài và hoạt động báo chí của người nước ngoài, tổ chức nước ngoài tại Việt Nam; có ý kiến về việc bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, phân công phụ trách lãnh đạo cơ quan báo chí theo quy định.

Về quảng cáo, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch hướng dẫn, tổ chức thực hiện quy định của pháp luật về hoạt động quảng cáo; tổ chức thẩm định sản phẩm quảng cáo theo quy định của pháp luật; thực hiện các nhiệm vụ về quản lý quảng cáo trên báo chí, trên môi trường mạng, trên xuất bản phẩm theo quy định của pháp luật; cấp giấy xác nhận thông báo thông tin liên hệ của người kinh doanh dịch vụ quảng cáo tại Việt Nam; tiếp nhận thông báo, liên hệ và gửi yêu cầu xử lý đối với hoạt động quảng cáo trên mạng vi phạm pháp luật; phối hợp triển khai các biện pháp kỹ thuật để ngăn chặn dịch vụ quảng cáo vi phạm pháp luật...

Về nghệ thuật biểu diễn, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định về tổ chức thi và liên hoan các loại hình nghệ thuật chuyên nghiệp; chấp thuận, dừng tổ chức biểu diễn nghệ thuật, cuộc thi, liên hoan các loại hình nghệ thuật biểu diễn; hủy kết quả cuộc thi, liên hoan các loại hình nghệ thuật biểu diễn thuộc phạm vi thẩm quyền của bộ theo quy định của pháp luật;

Nhận lưu chiểu bản ghi âm, ghi hình có nội dung biểu diễn nghệ thuật nhằm mục đích thương mại của tổ chức thuộc cơ quan trung ương theo quy định của pháp luật; hướng dẫn sưu tầm, bảo tồn và tổ chức thực hiện giới thiệu, quảng bá các giá trị nghệ thuật biểu diễn truyền thống Việt Nam cấp quốc gia và tinh hoa nghệ thuật biểu diễn thế giới.

Về xuất bản (bao gồm xuất bản, in, phát hành), Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cấp, gia hạn, sửa đổi, bổ sung, tạm đình chỉ, đình chỉ, thu hồi các loại giấy phép trong lĩnh vực xuất bản, in, phát hành theo quy định của pháp luật; xác nhận và quản lý đăng ký xuất bản của nhà xuất bản, đăng ký hoạt động cơ sở in, đăng ký hoạt động in đối với sản phẩm không phải cấp phép, đăng ký hoạt động phát hành xuất bản phẩm, đăng ký hoạt động xuất bản điện tử, phát hành xuất bản phẩm điện tử theo quy định của pháp luật.

Tổ chức thẩm định xuất bản phẩm theo quy định của pháp luật; tổ chức kiểm tra xuất bản phẩm lưu chiểu và quản lý việc lưu chiểu xuất bản phẩm; tổ chức việc đặt hàng và đưa xuất bản phẩm tới vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vùng sâu, vùng xa, miền núi, biên giới, hải đảo; tổ chức hội chợ xuất bản phẩm cấp quốc gia và quản lý việc phát hành xuất bản phẩm ra nước ngoài theo quy định của pháp luật...

Cơ cấu tổ chức

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch có 18 tổ chức hành chính giúp Bộ trưởng thực hiện chức năng quản lý nhà nước gồm: 1- Vụ Tổ chức cán bộ; 2- Vụ Kế hoạch, Tài chính; 3- Vụ Pháp chế; 4- Vụ Khoa học công nghệ, Đào tạo và Môi trường; 5- Vụ Văn hóa dân tộc; 6- Văn phòng Bộ; 7- Cục Thể dục thể thao Việt Nam; 8- Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam; 9- Cục Báo chí; 10- Cục Văn hóa - Thông tin cơ sở và Gia đình; 11- Cục Di sản văn hóa; 12- Cục Nghệ thuật biểu diễn; 13- Cục Điện ảnh; 14- Cục Công nghiệp văn hóa và Bản quyền tác giả; 15- Cục Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãm; 16- Cục Xuất bản và Thư viện; 17- Cục Thông tin điện tử và Chuyển đổi số; 18- Cục Hợp tác quốc tế.

4 đơn vị sự nghiệp công lập phục vụ chức năng quản lý nhà nước của bộ gồm: Viện Văn hóa, Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch Việt Nam; Báo Văn hóa; Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật và Trường Cán bộ quản lý văn hóa, thể thao và du lịch.

Nghị định này có hiệu lực từ ngày 28/7/2026.

Nghị định nêu rõ Cục Văn hóa các dân tộc Việt Nam, Cục Bản quyền tác giả, Cục Văn hóa cơ sở, Gia đình và Thư viện, Cục Phát thanh, truyền hình và Thông tin điện tử, Cục Xuất bản, In và Phát hành, Cục Thông tin cơ sở và Thông tin đối ngoại, Trung tâm Chuyển đổi số Văn hóa, Thể thao và Du lịch (quy định tại Nghị định số 43/2025/NĐ-CP ngày 28 tháng 02 năm 2025 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) tiếp tục hoạt động cho đến khi Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành quyết định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Vụ Văn hóa dân tộc, Cục Công nghiệp văn hóa và Bản quyền tác giả, Cục Văn hóa - Thông tin cơ sở và Gia đình, Cục Thông tin điện tử và Chuyển đổi số, Cục Xuất bản và Thư viện.

Quy chế hoạt động của Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam

Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng - Chủ tịch Hội đồng điều hành Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam ký Quyết định số 05/QĐ-HĐĐHTTTC ban hành Quy chế hoạt động của Trung tâm này.

Quy chế này điều chỉnh hoạt động của Cơ quan điều hành Trung tâm tài chính quốc tế tại Thành phố Hồ Chí Minh và Cơ quan điều hành Trung tâm tài chính quốc tế tại thành phố Đà Nẵng (gọi tắt là Cơ quan điều hành tại các thành phố); quy định về hoạt động của Cơ quan điều hành tại các thành phố; tài chính của Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam (gọi là Trung tâm tài chính quốc tế); lựa chọn nhà đầu tư và lựa chọn nhà thầu của Trung tâm tài chính quốc tế; đăng ký, công nhận và chấm dứt tư cách Thành viên; cơ chế phối hợp giữa các cơ quan trong Trung tâm tài chính quốc tế.

Nguyên tắc hoạt động của Cơ quan điều hành tại các thành phố

Quy chế nêu rõ nguyên tắc hoạt động của Cơ quan điều hành tại các thành phố. Theo đó, Cơ quan điều hành tại các thành phố là cơ quan hành chính đặc thù, thuộc Ủy ban nhân dân thành phố, thực hiện quản lý nhà nước, trực tiếp quản lý, điều hành hoạt động tại Trung tâm tài chính quốc tế trên địa bàn, hoạt động độc lập trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao theo quy định tại Nghị quyết số 222/2025/QH15 và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan.

Trong quá trình quản lý, điều hành các hoạt động tại Trung tâm tài chính quốc tế, đối với nội dung chưa được quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành, quy định chưa rõ hoặc có ý kiến khác nhau giữa các cơ quan, đơn vị có liên quan, Cơ quan điều hành tại các thành phố có trách nhiệm chủ trì, tổng hợp và lấy ý kiến các Bộ, ngành, cơ quan và đơn vị liên quan, báo cáo Hội đồng điều hành Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam (gọi là Hội đồng điều hành) xem xét, quyết định theo thẩm quyền hoặc báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.

Nhiệm vụ và quyền hạn của Cơ quan điều hành tại các thành phố

Cơ quan điều hành tại các thành phố thực hiện chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn theo quy định tại Nghị quyết số 222/2025/QH15, các Nghị định hướng dẫn chi tiết, quy định của pháp luật có liên quan và các nội dung sau đây:

Về nhiệm vụ, Cơ quan điều hành tại các thành phố thực hiện hợp tác quốc tế; tổ chức các hoạt động xúc tiến đầu tư và quảng bá hình ảnh Trung tâm tài chính quốc tế; trao đổi thông tin, nghiên cứu, đào tạo và đổi mới sáng tạo, tham gia mạng lưới các trung tâm tài chính trên toàn cầu; triển khai các chương trình ưu đãi ngoài ưu đãi về thuế, thu hút định chế tài chính và nhân lực chất lượng cao; ký kết thỏa thuận quốc tế theo trình tự, thủ tục của cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo quy định của Luật Thỏa thuận quốc tế và các văn bản hướng dẫn thi hành; ký kết và thực hiện các hợp đồng, thỏa thuận hợp tác với cơ quan, tổ chức trong nước để thực hiện cung cấp các dịch vụ phục vụ cho hoạt động và phù hợp với mục tiêu, định hướng sự phát triển của Trung tâm tài chính quốc tế.

Xây dựng, trình Ủy ban nhân dân thành phố phê duyệt kế hoạch, chương trình công tác hàng năm của Cơ quan điều hành tại các thành phố; căn cứ chiến lược, lộ trình, kế hoạch phát triển Trung tâm tài chính quốc tế do Hội đồng điều hành ban hành và ý kiến của Ủy ban nhân dân thành phố chủ quản, Cơ quan điều hành tại các thành phố ban hành chiến lược, kế hoạch, lộ trình phát triển Trung tâm tài chính quốc tế trên địa bàn.

Định kỳ 6 tháng, hàng năm, đột xuất và theo yêu cầu, báo cáo Hội đồng điều hành, Ủy ban nhân dân thành phố về tình hình, kết quả hoạt động, khó khăn, vướng mắc và đề xuất, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức, quy định pháp luật, chính sách và các nội dung liên quan tới Trung tâm tài chính quốc tế.

Về quyền hạn, Cơ quan điều hành tại các thành phố báo cáo Hội đồng điều hành ban hành hoặc giao Cơ quan điều hành tại các thành phố ban hành văn bản hướng dẫn các nội dung quy định tại các Nghị định hướng dẫn Nghị quyết số 222/2025/QH15; khoản 1 Điều 113 Nghị định số 329/2025/NĐ-CP; báo cáo Hội đồng điều hành hướng dẫn hoạt động của ngân hàng thành viên ngoài các hoạt động quy định tại Mục 2, Mục 3 Chương IV Nghị định số 329/2025/NĐ-CP sau khi thống nhất với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam theo quy định tại khoản 4 Điều 113 Nghị định số 329/2025/NĐ-CP.

Được thuê tổ chức, chuyên gia trong nước và quốc tế thực hiện dịch vụ tư vấn và các dịch vụ liên quan phục vụ yêu cầu quản lý, vận hành Trung tâm tài chính quốc tế bao gồm: tư vấn pháp lý; xây dựng định hướng, chiến lược phát triển; xúc tiến đầu tư; thu hút và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, lương theo cơ chế thị trường; xây dựng các tiêu chuẩn, tiêu chí, quy chuẩn kỹ thuật, hướng dẫn nghiệp vụ, quản lý giám sát hoạt động của Thành viên; tiêu chí và thủ tục lựa chọn nhà đầu tư chiến lược; xây dựng, vận hành hệ thống hạ tầng công nghệ thông tin, Hệ thống hành chính một cửa điện tử, sổ đăng ký Thành viên và các dịch vụ khác.

Được thành lập Hội đồng thẩm định, Tổ tư vấn, Tổ chuyên gia, Tổ thẩm định, Hội đồng xét duyệt và các tổ, hội đồng khác để thực hiện chức năng thẩm định, tư vấn chuyên môn phục vụ công tác thẩm định hồ sơ đăng ký thành viên, cấp phép hoạt động và quản lý, điều hành Trung tâm tài chính quốc tế. Chủ tịch Cơ quan điều hành tại các thành phố quyết định thành lập các tổ, hội đồng, trong đó bao gồm các chuyên gia trong nước và quốc tế.

Trong lĩnh vực xuất, nhập cảnh, phối hợp với Bộ Công an, Bộ Ngoại giao và các cơ quan liên quan thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 20 Nghị quyết số 222/2025/QH5 đối với nhà đầu tư, chuyên gia, khách hàng và cá nhân quốc tế đến làm việc, giao dịch tại Trung tâm tài chính quốc tế và làm việc tại các cơ quan, tổ chức thuộc Trung tâm tài chính quốc tế.

Quyết định kế hoạch và tổ chức thực hiện các hoạt động nghiên cứu, đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ; các sự kiện, hội nghị, hội thảo, tọa đàm, họp, kết nối, trao đổi với cơ quan, tổ chức, cá nhân, đối tác trong nước và quốc tế; quyết định việc đi công tác, học tập, bồi dưỡng tại nước ngoài trong năm đối với nhân sự thuộc thẩm quyền quản lý;

Ban hành Quy chế quản lý tài chính, Quy chế chi tiêu nội bộ, Quy chế tiếp nhận, quản lý và sử dụng tài trợ và các Quy chế khác theo thẩm quyền.

Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Hội đồng điều hành, Ủy ban nhân dân thành phố giao.

Chế độ tiền lương, chế độ chính sách, tuyển dụng

Cơ quan điều hành tại các thành phố ban hành hướng dẫn thực hiện chế độ tiền lương, chế độ đãi ngộ đặc thù, vượt trội theo cơ chế thị trường đối với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động làm việc tại Cơ quan điều hành tại các thành phố theo quy định của Nghị quyết số 222/2025/QH15 của Quốc hội, Nghị định số 323/2025/NĐ-CP của Chính phủ, Nghị quyết của Hội đồng nhân dân thành phố và quy định liên quan (nếu có). Cơ quan điều hành tại các thành phố được áp dụng chế độ tiền lương, chế độ đãi ngộ đặc thù, vượt trội, theo cơ chế thị trường đối với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động làm việc tại Cơ quan điều hành tại thành phố còn lại.

Cơ quan điều hành tại các thành phố được tuyển dụng công chức, viên chức; ký hợp đồng lao động với người lao động (ngoài người lao động thực hiện công việc hỗ trợ, phục vụ) để thực hiện tất cả các vị trí việc làm, lãnh đạo, quản lý; vị trí việc làm chuyên môn nghiệp vụ của Cơ quan điều hành tại các thành phố.

Việc bổ nhiệm chức danh lãnh đạo Cơ quan điều hành tại các thành phố được ưu tiên trên cơ sở năng lực thực tiễn, kinh nghiệm quản trị và yêu cầu thu hút nhân sự chất lượng cao.

Việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, ký hợp đồng thuê (trong trường hợp thuê chuyên gia trong nước trong độ tuổi lao động) đối với các vị trí lãnh đạo, quản lý các đơn vị thuộc Cơ quan điều hành tại các thành phố do Chủ tịch Cơ quan điều hành tại các thành phố quyết định trên cơ sở trình độ, năng lực, kinh nghiệm, bảo đảm phù hợp với yêu cầu về vị trí việc làm, chức năng, nhiệm vụ của Cơ quan điều hành tại các thành phố./.