Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 28/8/2026 (1)
(Chinhphu.vn) - Văn phòng Chính phủ vừa có Thông cáo báo chí chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 28/8/2026 (1).

Nghị quyết Phiên họp chuyên đề xây dựng pháp luật tháng 8/2026
Ngày 28/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 257/NQ-CP về Phiên họp chuyên đề xây dựng pháp luật tháng 8/2026 (Phiên thứ Hai).
Tại phiên họp, Chính phủ đã thảo luận, cho ý kiến đối với 11 dự án luật: (1) Luật An ninh dữ liệu; (2) Luật định danh và xác thực điện tử; (3) Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi); (4) Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường; (5) Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi); (6) Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi); (7) Luật Đấu thầu (sửa đổi); (8) Luật Giao dịch hàng hóa phái sinh; (9) Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ; (10) Luật Phát triển công nghiệp văn hóa; (11) Luật về văn bản quy phạm pháp luật.
Bổ sung yêu cầu đăng tải, lấy ý kiến đối với dự án luật, pháp lệnh trên Cổng Thông tin điện tử Chính phủ
Về dự án Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Chính phủ thống nhất đề xuất của Bộ Tư pháp về việc điều chỉnh tên Luật thành "Luật Văn bản quy phạm pháp luật"; giao Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan liên quan nghiên cứu, hoàn thiện hồ sơ dự án Luật theo hướng:
- Thể chế hóa đầy đủ chủ trương, đường lối của Đảng về công tác xây dựng pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật; hoàn thiện quy trình xây dựng pháp luật theo hướng đơn giản, dễ thực hiện; cắt giảm tài liệu, hồ sơ trùng lặp, không cần thiết; tăng cường kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm, cục bộ trong công tác xây dựng pháp luật.
- Khẩn trương hoàn thiện việc tổng kết, đánh giá kết quả thi hành Nghị quyết số 206/2025/QH15 của Quốc hội, xác định những nội dung phù hợp, thực tiễn chứng minh hiệu quả để đề xuất đưa vào Luật; đồng thời quy định cơ chế kéo dài hiệu lực của các văn bản đã ban hành theo Nghị quyết số 206/2025/QH15 tối đa đến ngày 31 tháng 12 năm 2027 để các cơ quan có thêm thời gian sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan, tránh tạo khoảng trống pháp lý.
- Quy định rõ phương án, lộ trình phù hợp để xử lý đối với đề xuất thu hẹp hình thức nghị quyết quy phạm pháp luật của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, bảo đảm khả thi, không để phát sinh khoảng trống pháp lý.
- Thống nhất bổ sung yêu cầu đánh giá nguy cơ chính sách bị lợi dụng để tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong quá trình soạn thảo, thẩm định, thẩm tra; tuy nhiên cần có tiêu chí rõ ràng để bảo đảm thống nhất, khả thi.
- Nghiên cứu đơn giản hóa quy trình xây dựng luật, pháp lệnh; thiết kế hồ sơ lập pháp thống nhất, bảo đảm kế thừa kết quả giữa các giai đoạn; liên thông giữa nghiên cứu chính sách, đánh giá tác động, tham vấn và soạn thảo. Nghiên cứu phương án không quy định quy trình chính sách như một quy trình độc lập, việc đánh giá tác động sẽ thực hiện đối với từng quy định xuyên suốt cả quá trình soạn thảo, thẩm định, trình ký văn bản; trường hợp cần thiết, báo cáo Bộ Chính trị xem xét, quyết định.
- Quy định chặt chẽ tiêu chí, thẩm quyền quyết định áp dụng quy trình rút gọn; hoàn thiện quy trình, thủ tục rút gọn, bảo đảm cụ thể, rõ ràng, tương xứng với tính chất và nội dung của từng nhóm văn bản, tránh áp dụng tùy nghi, lạm dụng, khó kiểm soát.
- Cụ thể hóa yêu cầu về ứng dụng công nghệ số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo và xây dựng hồ sơ lập pháp điện tử thống nhất.
- Bổ sung yêu cầu đăng tải, lấy ý kiến đối với dự án luật, pháp lệnh trên Cổng Thông tin điện tử Chính phủ vào dự thảo Luật và dự thảo Nghị định quy định chi tiết thi hành Luật để hình thành một đầu mối thống nhất ở cấp Chính phủ để tiếp nhận, tập hợp và chuyển tải ý kiến của Nhân dân đối với các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật.
Hoàn thiện đầy đủ cơ chế kiểm soát chuyển dữ liệu xuyên biên giới
Về dự án Luật An ninh dữ liệu, Chính phủ yêu cầu rà soát bảo đảm thống nhất về nội dung tương thích giữa 04 cấp độ rủi ro an ninh dữ liệu với hệ thống phân loại dữ liệu theo tính quan trọng của Luật Dữ liệu và cấp độ hệ thống thông tin theo pháp luật an ninh mạng để không chồng chéo, mâu thuẫn, tạo thuận lợi, thống nhất cho việc áp dụng pháp luật.
Đồng thời, rà soát, hoàn thiện đầy đủ về cơ chế kiểm soát chuyển dữ liệu xuyên biên giới theo cấp độ rủi ro, bảo đảm tương thích với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên; bảo đảm thống nhất, đồng bộ với Luật An ninh mạng, Luật Dữ liệu, Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân...; cần cân nhắc thời điểm bãi bỏ khái niệm "an ninh dữ liệu" tại Luật An ninh mạng mới có hiệu lực từ 1/7/2026, tránh phát sinh khoảng trống pháp lý.
Chính phủ yêu cầu làm rõ căn cứ, tính khả thi của lộ trình mật mã kháng lượng tử và mức phạt tiền tối đa theo tỷ lệ doanh thu (tối đa 5%) đối với hành vi vi phạm đặc biệt nghiêm trọng tại dự thảo Luật.
Chính phủ thống nhất cần quy định đầy đủ ngay trong Luật các điều kiện, thẩm quyền, thời hạn áp dụng biện pháp khẩn cấp liên quan đến việc hạn chế quyền sử dụng, sở hữu dữ liệu của tổ chức, cá nhân và quyền bảo vệ tính riêng tư về dữ liệu cá nhân...
Bổ sung quy định phù hợp để quản lý kinh doanh thực phẩm trên môi trường số
Về dự án Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi), Chính phủ yêu cầu rà soát thể chế hóa đầy đủ, kịp thời các chủ trương, đường lối của Đảng về quản lý, bảo đảm an toàn thực phẩm bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ với Luật Chất lượng sản phẩm hàng hóa, Luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật...
Hoàn thiện cơ chế quản lý dựa trên mức độ rủi ro, tăng cường hậu kiểm, truy xuất nguồn gốc; rà soát thủ tục công bố, đăng ký, kiểm nghiệm theo hướng đơn giản, minh bạch, khả thi; bổ sung quy định phù hợp để quản lý kinh doanh thực phẩm trên môi trường số, thương mại điện tử; nâng cao hiệu quả cảnh báo, thu hồi và xử lý thực phẩm không an toàn.
Làm rõ cơ chế hoạt động mô hình cơ quan quản lý an toàn thực phẩm từ Trung ương đến địa phương theo hướng giao một cơ quan duy nhất thống nhất quản lý; cần thống nhất quan điểm đối với những nội dung phức tạp, quan trọng còn ý kiến khác nhau trong dự án Luật này, đặc biệt là những quy định liên quan trực tiếp đến sức khỏe, tính mạng, quyền và lợi ích hợp pháp của người dân.
Nghiên cứu bổ sung quy định về thu nhận, quản lý và sử dụng huyết tương
Về dự án Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi), Chính phủ yêu cầu nghiên cứu bổ sung quy định mang tính nguyên tắc trong việc hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác bảo đảm phù hợp Hiến pháp, các pháp luật liên quan (về dân sự, về trẻ em...) và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên để bảo vệ các quyền liên quan đến tính mạng, sức khỏe, thân thể, nhân phẩm, danh dự và quyền tự quyết của cá nhân.
Bổ sung đánh giá tác động, xác định rõ khả năng cân đối của ngân sách nhà nước, khả năng chi trả của Quỹ Bảo hiểm y tế và nguồn lực liên quan, mô hình Quỹ Hiến tạng tại dự thảo Luật phù hợp với yêu cầu, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Quốc hội; nghiên cứu bổ sung quy định về thu nhận, quản lý và sử dụng huyết tương.
Cải cách mạnh mẽ công tác đấu thầu
Về dự án Luật Đấu thầu (sửa đổi), Chính phủ yêu cầu rà soát, hoàn thiện dự thảo Luật, bảo đảm cải cách mạnh mẽ công tác đấu thầu, đơn giản hóa thủ tục, giảm chi phí, gia tăng lợi ích xã hội, bảo đảm chất lượng, có cơ chế hậu kiểm, không tạo vướng mắc trong quá trình triển khai; bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ, khả thi, tránh trùng lặp, chồng chéo với các Luật có liên quan (như: Bộ luật Dân sự, Luật Đầu tư, Luật Xây dựng, Luật Dầu khí, Luật Dược...), nhất là các quy định về lựa chọn chủ đầu tư trong lĩnh vực năng lượng, lựa chọn nhà thầu trong thực hiện dự án xây dựng năng lượng, xây dựng giao thông, hạ tầng, thuốc, thiết bị y tế...
Rà soát, hoàn thiện các quy định về phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, hình thức, kế hoạch lựa chọn nhà thầu, các hành vi bị cấm trong hoạt động đấu thầu, trách nhiệm của nhà thầu, nhà đầu tư; trường hợp hủy thầu, hợp đồng; có cơ chế kiểm tra, giám sát chặt chẽ tránh việc vi phạm, tiêu cực gây thất thoát tài sản Nhà nước.
Tiếp tục nghiên cứu, bổ sung các quy định về giải quyết tranh chấp trong đất thầu quốc tế, kế hoạch đấu thầu tổng thể, chỉ định thầu, chỉ định nhà đầu tư, quản lý sử dụng nhà thầu và nhà thầu phụ bảo đảm cạnh tranh, công bằng, minh bạch, hiệu quả, đúng thẩm quyền, không lạm dụng chính sách.
Xác định rõ các chính sách phát triển công nghiệp văn hóa
Về dự án Luật Phát triển Công nghiệp văn hóa, Chính phủ giao Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan liên quan nghiên cứu, hoàn thiện hồ sơ dự án Luật, bảo đảm thực hiện đúng kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước.
Cụ thể phải làm rõ các quy định về phạm vi điều chỉnh, quan điểm và tính chất "chuỗi giá trị" của công nghiệp văn hóa, các nguyên tắc liên quan.
Xác định rõ nội hàm các chính sách về tài sản trí tuệ và chính sách tín dụng dựa trên tài sản trí tuệ, chính sách phát triển hạ tầng công nghiệp văn hóa, chính sách ưu đãi đối với tài sản trí tuệ gốc và sản phẩm công nghiệp văn hóa trọng điểm nhằm tháo gỡ các "điểm nghẽn" thể chế liên quan.
Làm rõ cơ sở dự kiến các nguồn lực bảo đảm hiệu quả, khả thi, giảm áp lực lên ngân sách nhà nước khi thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển công nghiệp văn hóa...

Chiến lược quốc gia về trí tuệ nhân tạo đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045
Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng ký Quyết định số 1671/QĐ-TTg ngày 28/8/2026 phê duyệt Chiến lược quốc gia về trí tuệ nhân tạo đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 (Chiến lược). Chuyển từ ứng dụng sang nghiên cứu, phát triển
Quan điểm của Chiến lược là chuyển từ tư duy nghiên cứu, phát triển và ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) sang nghiên cứu, phát triển AI và chuyển đổi toàn diện quốc gia bằng AI (chuyển đổi AI quốc gia). Chuyển mạnh từ cách tiếp cận đưa AI vào sản phẩm, dịch vụ, quy trình và hệ thống sang lấy AI làm năng lực cốt lõi ngay từ khâu xác định bài toán, thiết kế, tổ chức và vận hành. AI trở thành động lực quan trọng để tái thiết kế phương thức quản trị, sản xuất, kinh doanh và cung cấp dịch vụ; thúc đẩy tăng năng suất, nâng cao hiệu quả quản trị quốc gia, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, đổi mới sáng tạo và hình thành các sản phẩm, dịch vụ, mô hình kinh doanh mới. Lấy nhân lực, hạ tầng và dữ liệu làm nền tảng; lấy thể chế và quản trị AI làm đột phá.
Phát triển nhân lực là nền tảng quyết định đối với nghiên cứu, phát triển AI và chuyển đổi AI quốc gia. Tập trung phát triển nguồn nhân lực AI chất lượng cao, nhân tài AI, nhân lực tinh hoa AI; đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng kỹ năng AI cho lực lượng lao động; phổ cập kỹ năng AI cho toàn xã hội; chuyển mạnh từ đào tạo kỹ năng công nghệ đơn lẻ sang đào tạo năng lực tạo ra sản phẩm, dịch vụ và giá trị thực tiễn bằng AI; thu hút, trọng dụng chuyên gia AI hàng đầu, chuyên gia Việt Nam ở nước ngoài, chuyên gia là người nước ngoài.
Doanh nghiệp AI Việt Nam là lực lượng chủ lực trong nghiên cứu, phát triển, triển khai và chuyển đổi AI quốc gia. Khuyến khích doanh nghiệp chuyển từ tích hợp thêm AI vào sản phẩm, dịch vụ và quy trình hiện có sang thiết kế sản phẩm, dịch vụ, mô hình kinh doanh và phương thức quản trị lấy AI làm nền tảng ngay từ đầu; phát triển doanh nghiệp vận hành dựa trên AI (Al-native) và các sản phẩm, nền tảng, dịch vụ, giải pháp AI "Make in Viet Nam"...
Hình thành tối thiểu 10 thương hiệu AI Việt Nam
Mục tiêu của Chiến lược là đến năm 2030, đưa Việt Nam trở thành một trong những trung tâm có năng lực nghiên cứu, phát triển, ứng dụng và đồng kiến tạo giá trị về AI trong khu vực ASEAN và châu Á; hình thành năng lực quốc gia mạnh về nghiên cứu, phát triển, làm chủ, triển khai và quản trị AI.
AI trở thành năng lực cốt lõi, được tích hợp sâu, toàn diện vào hoạt động quản trị quốc gia, cung cấp dịch vụ công, sản xuất, kinh doanh, nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và đời sống xã hội; góp phần quan trọng nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, năng lực cạnh tranh quốc gia và tạo ra các sản phẩm, dịch vụ, mô hình tăng trưởng mới.
Chiến lược phấn đấu đến năm 2030 Việt Nam thuộc nhóm 3 nước dẫn đầu khu vực Đông Nam Á về nghiên cứu và phát triển AI.
100% dịch vụ công trực tuyến được tích hợp, hỗ trợ bởi AI. 100% hồ sơ thủ tục hành chính được hỗ trợ xử lý bằng AI.
Phát triển tối thiểu 05 nền tảng AI dùng chung quốc gia; hình thành tối thiểu 10 thương hiệu AI của Việt Nam có năng lực cạnh tranh trên thị trường khu vực và quốc tế; phát triển tối thiểu 08 mô hình AI tiếng Việt...
Đến năm 2045, Việt Nam thuộc nhóm 10 quốc gia dẫn đầu châu Á về năng lực nghiên cứu, phát triển, làm chủ AI
Đến năm 2045, Việt Nam thuộc nhóm 10 quốc gia dẫn đầu châu Á về năng lực nghiên cứu, phát triển, làm chủ AI và chuyển đổi AI quốc gia. AI trở thành động lực chiến lược quan trọng, góp phần nâng cao năng suất, năng lực đổi mới sáng tạo và năng lực kiến tạo giá trị quốc gia; đưa Việt Nam vượt qua bẫy thu nhập trung bình, trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045.
AI trở thành nền tảng vận hành chủ đạo của Nhà nước, nền kinh tế và xã hội. Việt Nam hoàn thành bước chuyển căn bản các thể chế, mô hình quản trị, quy trình nghiệp vụ, sản phẩm, dịch vụ, phương thức sản xuất, kinh doanh và hệ thống hạ tầng quan trọng được thiết kế, phát triển và vận hành trên nền tảng AI.
Việt Nam hình thành hệ sinh thái doanh nghiệp AI, doanh nghiệp AI-native có năng lực cạnh tranh khu vực và quốc tế và trở thành trung tâm nghiên cứu, phát triển, sản xuất, cung cấp sản phẩm, dịch vụ và giải pháp AI quan trọng của khu vực và toàn cầu.
9 trụ cột chiến lược
Quyết định đưa ra 9 trụ cột chiến lược gồm:
Trụ cột 1. Nhân lực AI và kỹ năng AI toàn dân: Phát triển nhân lực AI chất lượng cao, phổ cập kỹ năng AI cho toàn xã hội, bảo đảm lực lượng lao động có năng lực nghiên cứu, phát triển, triển khai và sử dụng AI.
Trụ cột 2. Dữ liệu, mô hình AI: Phát triển dữ liệu, hạ tầng dữ liệu và mô hình AI làm nền tảng cho nghiên cứu, phát triển, huấn luyện, kiểm thử, đánh giá và triển khai AI.
Trụ cột 3. Hạ tầng AI: Phát triển hạ tầng tính toán, điện toán đám mây, AI biên và trung tâm dữ liệu AI, bảo đảm năng lực tính toán phục vụ quản lý nhà nước, nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và triển khai AI.
Trụ cột 4. Nghiên cứu, phát triển AI và làm chủ công nghệ AI: Thúc đẩy nghiên cứu, phát triển và làm chủ công nghệ AI, hình thành sản phẩm, dịch vụ AI Make in Viet Nam và năng lực công nghệ lõi phục vụ các bài toán lớn của đất nước.
Trụ cột 5. AI trong quản trị quốc gia: Phát triển, triển khai và sử dụng AI trong quản trị quốc gia nhằm xây dựng nền quản trị hiện đại, chủ động, thích ứng nhanh trong kỷ nguyên AI; nâng cao hiệu quả quản trị quốc gia, chất lượng cung cấp dịch vụ công, năng lực dự báo, chỉ đạo, điều hành và phục vụ người dân, doanh nghiệp.
Trụ cột 6. AI cho các ngành, lĩnh vực: Thúc đẩy chuyển đổi AI toàn diện trong các ngành, lĩnh vực; tập trung phát triển một số ngành, lĩnh vực trọng điểm có tác động lớn đến năng suất, tăng trưởng, năng lực cạnh tranh quốc gia, an sinh xã hội và đời sống người dân.
Trụ cột 7. AI cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh, hợp tác xã: Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh, hợp tác xã tiếp cận, triển khai, duy trì sử dụng sản phẩm, dịch vụ, giải pháp AI và đo lường hiệu quả thực tế.
Trụ cột 8. Hệ sinh thái AI: Phát triển hệ sinh thái AI Việt Nam có năng lực nghiên cứu, phát triển, thương mại hóa và xuất khẩu sản phẩm, dịch vụ, giải pháp AI.
Trụ cột 9. Quản trị AI an toàn, đáng tin cậy: Quản trị AI an toàn, đáng tin cậy, có trách nhiệm, bảo đảm AI được phát triển, cung cấp, triển khai và sử dụng theo quy định pháp luật.
6 giải pháp đột phá
Các giải pháp đột phá để thực hiện Chiến lược quốc gia về trí tuệ nhân tạo đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 gồm:
1- Hoàn thiện thể chế, chính sách, pháp luật, tạo hành lang pháp lý thông thoáng nhằm phát triển nhanh và ứng dụng hiệu quả AI vào mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội;
2- Điều phối quốc gia và trách nhiệm thực thi, trong đó người đứng đầu bộ, ngành, địa phương trực tiếp chỉ đạo, tổ chức thực hiện và chịu trách nhiệm trước Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về kết quả thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ chuyển đổi AI được giao; định kỳ kiểm tra, đánh giá, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai Chiến lược.
3- Huy động nguồn lực, bảo đảm kinh phí: Nhà nước bảo đảm kinh phí để thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp của Chiến lược cho Nhà nước đặt hàng, giao nhiệm vụ, đấu thầu thực hiện. Triển khai hình thức hợp tác công - tư và thu hút các quỹ đầu tư quốc tế để huy động thêm nguồn lực phục vụ nghiên cứu, phát triển và triển khai AI; nghiên cứu cơ chế hỗ trợ lãi suất cho nghiên cứu, phát triển, ứng dụng và quản lý AI, cơ chế ưu đãi thuế đối với hoạt động trí tuệ nhân tạo...
4- Hợp tác quốc tế và xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn; xây dựng chương trình hợp tác AI song phương, đa phương với các nước phát triển và tổ chức quốc tế; thiết lập chương trình trao đổi nghiên cứu sinh, kỹ sư, nhà khoa học trong lĩnh vực AI giữa Việt Nam và các trung tâm nghiên cứu, phát triển AI hàng đầu thế giới.
5- Tuyên truyền, nâng cao nhận thức và văn hóa sử dụng AI có trách nhiệm;
6- Đo lường, giám sát, đánh giá: Xây dựng, ban hành và định kỳ rà soát, cập nhật các chỉ tiêu đánh giá mức độ chuyển đổi AI của bộ, ngành, địa phương và quốc gia phù hợp với Chiến lược, điều kiện thực tiễn và thông lệ quốc tế.

Kiện toàn Ban Chỉ đạo Trung ương về chính sách nhà ở và thị trường bất động sản
Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng vừa ký Quyết định số 1666/QĐ-TTg ngày 27/8/2026 về việc kiện toàn Ban Chỉ đạo Trung ương về chính sách nhà ở và thị trường bất động sản (Ban Chỉ đạo).
Theo đó, kiện toàn Ban Chỉ đạo Trung ương về chính sách nhà ở và thị trường bất động sản gồm các thành viên sau đây:
Trưởng Ban Chỉ đạo là đồng chí Phạm Gia Túc, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ.
Phó Trưởng Ban Chỉ đạo là đồng chí Trần Hồng Minh, Bộ trưởng Bộ Xây dựng.
Các thành viên là các đồng chí lãnh đạo của các bộ, ngành và cơ quan trung ương gồm: Đồng chí Thượng tướng Nguyễn Quang Ngọc, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng; đồng chí Thượng tướng Phạm Thế Tùng, Thứ trưởng Bộ Công an; đồng chí Phạm Mạnh Cường, Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ; đồng chí Nguyễn Thị Hà, Thứ trưởng Bộ Nội vụ; đồng chí Nguyễn Thanh Tú, Thứ trưởng Bộ Tư pháp; đồng chí Đặng Ngọc Điệp, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường; đồng chí Tạ Anh Tuấn, Thứ trưởng Bộ Tài chính; đồng chí Nguyễn Huy Dũng, Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; đồng chí Nguyễn Sinh Nhật Tân, Thứ trưởng Bộ Công Thương; đồng chí Y Vinh Tơr, Thứ trưởng Bộ Dân tộc và Tôn giáo; đồng chí Nguyễn Văn Sinh, Thứ trưởng Bộ Xây dựng; đồng chí Nguyễn Ngọc Cảnh, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; đồng chí Nguyễn Đức Phong, Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Vị trí, chức năng của Ban Chỉ đạo
Ban Chỉ đạo Trung ương về chính sách nhà ở và thị trường bất động sản được kiện toàn trên cơ sở Ban Chỉ đạo Trung ương về chính sách nhà ở và thị trường bất động sản thành lập theo các Quyết định số 360/QĐ-TTg ngày 04 tháng 4 năm 2008 và Quyết định số 1499/QĐ-TTg ngày 14 tháng 10 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ.
Ban Chỉ đạo Trung ương về chính sách nhà ở và thị trường bất động sản là tổ chức phối hợp liên ngành, có chức năng giúp Thủ tướng Chính phủ nghiên cứu, chỉ đạo, phối hợp giải quyết những vấn đề quan trọng, liên ngành, vượt quá thẩm quyền giải quyết của một bộ, ngành hoặc địa phương về chính sách nhà ở và thị trường bất động sản trên phạm vi cả nước.
Nhiệm vụ của Ban Chỉ đạo
Ban Chỉ đạo có nhiệm vụ giúp Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo, điều phối liên ngành và địa phương trong triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách nhà ở và thị trường bất động sản trên phạm vi toàn quốc; kịp thời tổng hợp, đề xuất cấp có thẩm quyền xem xét, xử lý các vấn đề liên ngành phát sinh trong quá trình thực hiện.
Giúp Thủ tướng Chính phủ nghiên cứu, đánh giá, đề xuất phương hướng, giải pháp để sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới các cơ chế, chính sách; bảo đảm Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, không bao cấp, điều tiết hiệu quả kinh tế vĩ mô và tạo môi trường pháp lý đồng bộ, góp phần thúc đẩy thị trường bất động sản phát triển lành mạnh, bền vững.
Giúp Thủ tướng Chính phủ đôn đốc các bộ, ngành, địa phương trong tổ chức thực hiện chính sách liên quan đến nhà ở và thị trường bất động sản, trọng tâm là nhà ở cho các đối tượng chính sách, người yếu thế, người thu nhập thấp, cán bộ và lực lượng vũ trang nhân dân; đôn đốc việc rà soát, thực hiện chiến lược, chương trình, kế hoạch phát triển nhà ở, bảo đảm quỹ đất xây dựng nhà ở theo quy định của pháp luật, ưu tiên phát triển nhà ở cho thuê; đôn đốc các địa phương phát triển nhà ở đồng bộ với quy hoạch đô thị và nông thôn, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội; đôn đốc việc bảo đảm công khai, minh bạch trong xác định, xét duyệt đối tượng thụ hưởng chính sách nhà ở nhằm ngăn chặn hành vi trục lợi, đầu cơ.
Tham mưu Thủ tướng Chính phủ các giải pháp thúc đẩy ứng dụng công nghệ số trong xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách về nhà ở và thị trường bất động sản; đôn đốc các bộ, ngành, địa phương thực hiện kết nối, chia sẻ hệ thống thông tin dữ liệu về nhà ở và thị trường bất động sản phục vụ hiệu quả công tác phối hợp liên ngành và thực hiện các nhiệm vụ khác do Thủ tướng Chính phủ giao.
Bộ Xây dựng là Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo
Bộ Xây dựng là Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo; sử dụng bộ máy của Bộ tổ chức thực hiện nhiệm vụ, có trách nhiệm bảo đảm các điều kiện hoạt động của Ban Chỉ đạo. Bộ trưởng Bộ Xây dựng quyết định việc kiện toàn Văn phòng thường trực Ban Chỉ đạo để triển khai có hiệu quả các nhiệm vụ được giao; bảo đảm không tăng biên chế.
Khi cần thiết, Bộ trưởng Bộ Xây dựng báo cáo Trưởng Ban Chỉ đạo xem xét việc thành lập Tổ giúp việc, gồm các thành viên là lãnh đạo, công chức các Cục, Vụ chuyên môn của các bộ, cơ quan có thành viên tham gia Ban Chỉ đạo, làm việc theo chế độ kiêm nhiệm để giúp Ban Chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ liên ngành.
Ban Chỉ đạo làm việc theo nguyên tắc tập trung dân chủ, đề cao trách nhiệm người đứng đầu; tuân thủ các quy định tại Quyết định số 23/2023/QĐ-TTg ngày 18 tháng 9 năm 2023 của Thủ tướng Chính phủ.
Quyết định này có hiệu lực thi hành từ ngày 27/8/2026 và thay thế Quyết định số 2116/QĐ-TTg ngày 22 tháng 9 năm 2025 của Thủ tướng Chính phủ về kiện toàn Ban Chỉ đạo Trung ương về chính sách nhà ở và thị trường bất động sản.

Khẩn trương gỡ vướng mặt bằng, vật liệu, vốn cho Dự án Vành đai 4 Thành phố Hồ Chí Minh
Văn phòng Chính phủ có Văn bản số 8906/VPCP-CN ngày 28/8/2026 truyền đạt ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc về việc thực hiện Nghị quyết số 220/2025/QH15 ngày 27/6/2025 của Quốc hội về chủ trương đầu tư Dự án đầu tư xây dựng đường Vành đai 4 Thành phố Hồ Chí Minh.
Ủy ban Thường vụ Quốc hội có văn bản số 223/KL-UBTVQH16 ngày 27/8/2026 kết luận việc thực hiện Nghị quyết số 220/2025/QH15 ngày 27/6/2025 của Quốc hội về chủ trương đầu tư Dự án đầu tư xây dựng đường Vành đai 4 Thành phố Hồ Chí Minh. Về việc này, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc có ý kiến như sau:
Bộ trưởng Bộ Xây dựng chỉ đạo các cơ quan, đơn vị phối hợp với Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Ủy ban nhân dân thành phố Đồng Nai, Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh nghiên cứu, tiếp thu đầy đủ ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, ý kiến thẩm tra của các cơ quan của Quốc hội, tiếp tục hoàn thiện Báo cáo của Chính phủ, thừa ủy quyền Thủ tướng Chính phủ, thay mặt Chính phủ ký Báo cáo của Chính phủ gửi Quốc hội tại Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XVI theo quy định, trong đó lưu ý rà soát, đánh giá, bổ sung đầy đủ các nội dung theo ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội tại Thông báo số 223/KL-UBTVQH16 ngày 27/8/2026 nêu trên; chịu trách nhiệm về tính chính xác, đầy đủ của các nội dung, thông tin, số liệu báo cáo.
Bộ Xây dựng chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành và Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Ủy ban nhân dân thành phố Đồng Nai, Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh rà soát, cập nhật tiến độ toàn bộ Dự án; khẩn trương hoàn thành công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, bàn giao mặt bằng và di dời các công trình hạ tầng kỹ thuật; chủ động bảo đảm đủ nguồn vật liệu xây dựng; kịp thời tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc về mỏ vật liệu, không để ảnh hưởng đến tiến độ thi công.
Rà soát, sửa đổi quy định bất cập trong đầu tư các dự án quan trọng quốc gia
Đồng thời, đánh giá khả năng huy động vốn đầu tư theo phương thức đối tác công tư (PPP), làm rõ khả năng thu xếp tín dụng của các nhà đầu tư và tổ chức tín dụng. Trường hợp có dự án thành phần không lựa chọn được nhà đầu tư theo phương thức PPP, chủ động phương án xử lý theo quy định tại Nghị quyết số 220/2025/QH15, không để ảnh hưởng đến tiến độ chung của Dự án, trường hợp vượt thẩm quyền báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.
Bên cạnh đó, tổ chức tổng kết việc thực hiện các cơ chế, chính sách đặc thù được Quốc hội cho phép tại Nghị quyết số 220/2025/QH15 và trong các nghị quyết khác của Quốc hội về chủ trương đầu tư các dự án quan trọng quốc gia; đánh giá cụ thể cơ chế nào thực sự góp phần rút ngắn tiến độ, cơ chế nào còn vướng mắc, chưa phát huy hiệu quả.
Trên cơ sở tổng kết thực tiễn, nghiên cứu thể chế hóa những cơ chế phù hợp, có hiệu quả; đồng thời rà soát, sửa đổi những quy định còn bất cập để nâng cao hiệu quả đầu tư các dự án quan trọng quốc gia trong thời gian tới; báo cáo cấp có thẩm quyền trong tháng 9/2026.
Phó Thủ tướng Thường trực giao Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Ủy ban nhân dân thành phố Đồng Nai, Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh chịu trách nhiệm xử lý triệt để các tồn tại, vướng mắc theo quy định; triển khai các dự án thành phần bảo đảm tiến độ, chất lượng, an toàn, hiệu quả đầu tư và điều kiện khai thác đồng bộ toàn tuyến, không phát sinh tham nhũng, tiêu cực, lãng phí; phối hợp chặt chẽ với Bộ Xây dựng và các Bộ, ngành liên quan tổ chức tổng kết việc thực hiện các cơ chế, chính sách đặc thù được Quốc hội cho phép tại Nghị quyết số 220/2025/QH15.

Phấn đấu bảo đảm tiến độ, chất lượng Dự án đường cao tốc Châu Đốc - Cần Thơ - Sóc Trăng
Văn phòng Chính phủ có Văn bản số 8907/VPCP-CN ngày 28/8/2026 truyền đạt ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc về Dự án đầu tư xây dựng đường bộ cao tốc Châu Đốc - Cần Thơ - Sóc Trăng giai đoạn 1.
Văn bản nêu: Ủy ban Thường vụ Quốc hội có văn bản số 224/KL-UBTVQH16 ngày 27 tháng 8 năm 2026 kết luận việc thực hiện Nghị quyết số 60/2022/QH15 ngày 16/6/2022 của Quốc hội về chủ trương đầu tư Dự án đầu tư xây dựng đường bộ cao tốc Châu Đốc - Cần Thơ - Sóc Trăng giai đoạn 1.
Về việc này, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc đã giao Bộ trưởng Bộ Xây dựng chỉ đạo các cơ quan, đơn vị phối hợp với Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ, Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang nghiên cứu, tiếp thu đầy đủ ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, ý kiến thẩm tra của các cơ quan của Quốc hội, tiếp tục hoàn thiện Báo cáo của Chính phủ, thừa ủy quyền Thủ tướng Chính phủ, thay mặt Chính phủ ký Báo cáo của Chính phủ gửi Quốc hội tại Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XVI theo quy định, trong đó lưu ý rà soát, đánh giá, bổ sung đầy đủ các nội dung theo ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội tại thông báo số 224/KL-UBTVQH16 ngày 27 tháng 8 năm 2026 nêu trên; chịu trách nhiệm về tính chính xác, đầy đủ của các nội dung, thông tin, số liệu báo cáo.
Bảo đảm đủ nguồn vật liệu theo tiến độ thi công
Đồng thời, Bộ Xây dựng chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành và Ủy ban nhân dân Thành phố Cần Thơ, Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang rà soát, đánh giá đầy đủ kết quả thực hiện các mốc tiến độ theo Nghị quyết số 60/2022/QH15; cập nhật tiến độ tổng thể và tiến độ của từng dự án thành phần, xác định cụ thể khối lượng hoàn thành trong năm 2026, khối lượng chuyển sang năm 2027, giải pháp bù tiến độ (nếu có).
Tập trung tháo gỡ khó khăn, bảo đảm đủ nguồn vật liệu theo tiến độ thi công; đánh giá kết quả thực hiện các cơ chế, chính sách đặc thù; tăng cường quản lý việc khai thác, vận chuyển, sử dụng vật liệu, thực hiện nghĩa vụ tài chính và bảo vệ môi trường.
Làm rõ nguyên nhân, cơ sở pháp lý và trách nhiệm đối với việc tổng mức đầu tư tại các quyết định phê duyệt dự án thành phần cao hơn sơ bộ tổng mức đầu tư được Quốc hội quyết định; khẩn trương hoàn thành việc rà soát, điều chỉnh tổng mức đầu tư theo đúng thẩm quyền và cân đối bố trí đủ vốn cho các hạng mục cần thiết để đưa Dự án vào khai thác đồng bộ; hoàn thành khu tái định cư còn lại và các hạng mục phục vụ vận hành, khai thác; bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người dân và điều kiện khai thác đồng bộ, an toàn toàn tuyến.
Thực hiện đầy đủ các kết luận, kiến nghị của cơ quan thanh tra và Kiểm toán nhà nước; xác định rõ trách nhiệm, thời hạn khắc phục các tồn tại; kịp thời báo cáo Chính phủ để xem xét báo cáo Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội những vấn đề vượt thẩm quyền hoặc có nguy cơ ảnh hưởng đến mục tiêu của Dự án.
Sửa đổi những quy định còn bất cập để nâng cao hiệu quả đầu tư
Phó Thủ tướng yêu cầu phải tổ chức tổng kết việc thực hiện các cơ chế, chính sách đặc thù được Quốc hội cho phép tại Nghị quyết số 60/2022/QH15; đánh giá cụ thể cơ chế nào thực sự góp phần rút ngắn tiến độ, cơ chế nào còn vướng mắc, chưa phát huy hiệu quả. Trên cơ sở tổng kết thực tiễn, nghiên cứu thể chế hóa những cơ chế phù hợp, có hiệu quả; đồng thời rà soát, sửa đổi những quy định còn bất cập để nâng cao hiệu quả đầu tư các dự án quan trọng quốc gia trong thời gian tới; báo cáo cấp có thẩm quyền trong tháng 9 năm 2026.
Ủy ban nhân dân Thành phố Cần Thơ, Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang chịu trách nhiệm xử lý triệt để các tồn tại, vướng mắc theo quy định; triển khai các dự án thành phần bảo đảm tiến độ, chất lượng, an toàn, hiệu quả đầu tư và điều kiện khai thác đồng bộ toàn tuyến, không phát sinh tham nhũng, tiêu cực, lãng phí; phối hợp chặt chẽ với Bộ Xây dựng và các Bộ, ngành liên quan tổ chức tổng kết việc thực hiện các cơ chế, chính sách đặc thù được Quốc hội cho phép tại Nghị quyết số 60/2022/QH15.

Quyết liệt xử lý vướng mắc, bảo đảm tiến độ, chất lượng Dự án sân bay Long Thành
Văn phòng Chính phủ vừa có Văn bản số 8871/VPCP-CN ngày 28/8/2026 truyền đạt ý kiến chỉ đạo của đồng chí Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy Chính phủ, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc về việc triển khai ý kiến chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đối với tình hình triển khai Dự án Cảng hàng không quốc tế Long Thành.
Văn bản nêu: Thực hiện ý kiến chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Công văn số 4591-CV/VPTW ngày 24/8/2026 của Văn phòng Trung ương Đảng, đồng chí Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy Chính phủ, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc có ý kiến như sau:
Các Bộ, cơ quan: Xây dựng, Tài chính, Công an, Ngoại giao, Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Nông nghiệp và Môi trường, Ủy ban nhân dân các thành phố: Hồ Chí Minh, Đồng Nai và các cơ quan liên quan theo chức năng, nhiệm vụ nghiêm túc triển khai ý kiến chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Công văn số 4591-CV/VPTW ngày 24/8/2026 nêu trên và Thông báo số 420-TB/VPTW ngày 17/11/2025 của Văn phòng Trung ương Đảng, ý kiến chỉ đạo của Lãnh đạo Chính phủ tại Công văn số 1229/VPCP-CN ngày 11/12/2025 của Văn phòng Chính phủ.
Bộ Xây dựng, Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan kiểm tra, đánh giá đúng thực tế tiến độ của toàn bộ Dự án, đặc biệt là các gói thầu thuộc DATP3 và DATP4 có nguy cơ chậm tiến độ, không hoàn thành trong năm 2026 để kịp thời chỉ đạo các chủ đầu tư, cơ quan chủ quản có giải pháp đẩy nhanh tiến độ thực hiện, bảo đảm hoàn thành đúng kế hoạch.
Đồng thời, chủ động tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc thuộc thẩm quyền trong quá trình triển khai Dự án; kịp thời báo cáo cấp có thẩm quyền kết quả thực hiện, các khó khăn, vướng mắc và giải pháp tháo gỡ nếu vượt thẩm quyền.
Ngoài ra, chủ trì, phối hợp với Ủy ban nhân dân các thành phố: Hồ Chí Minh và Đồng Nai chỉ đạo chủ đầu tư các dự án đường bộ cao tốc Biên Hòa - Vũng Tàu, Bến Lức - Long Thành, TP Hồ Chí Minh - Long Thành - Dầu Giây, vành đai 3, 4 Thành phố Hồ Chí Minh đẩy nhanh tiến độ triển khai, sớm hoàn thành đưa các dự án vào khai thác đồng bộ với Cảng hàng không quốc tế Long Thành, bảo đảm đồng bộ, kết nối, phát huy tối đa hiệu quả đầu tư các dự án.
Tăng cường nhân lực, vật lực, khẩn trương bàn giao toàn bộ mặt bằng dự án
Tổng công ty Cảng hàng không Việt Nam chủ động rà soát, điều chỉnh, cập nhật tiến độ đối với từng hạng mục, gói thầu bảo đảm hoàn thành, đưa Dự án vào vận hành khai thác trong năm 2026 theo đúng kế hoạch; phân tích làm rõ nguyên nhân, kịp thời có giải pháp tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc ảnh hưởng đến tiến độ thi công theo thẩm quyền.
Đồng thời, chỉ đạo các nhà thầu tăng cường nhân lực, thiết bị, chủ động tập kết nguồn vật tư, vật liệu, nguồn lực về tài chính… để đẩy nhanh tiến độ thi công, đặc biệt tại các gói thầu có khối lượng còn lại lớn, có nguy cơ chậm tiến độ, như: gói thầu số 4.8 (giao thông nội cảng và hạ tầng kỹ thuật), 5.10 (nhà ga hành khách), 7.8 (nhà ga hàng hóa số 1 và các công trình phụ trợ)…
Phó Thủ tướng Thường trực yêu cầu Ủy ban nhân dân thành phố Đồng Nai khẩn trương giải quyết triệt để khó khăn, vướng mắc có liên quan để bàn giao toàn bộ mặt bằng cho Tổng công ty Cảng hàng không Việt Nam, không làm ảnh hưởng tới tiến độ thực hiện, hoàn thành dự án; tổ chức thực hiện các công trình, hạng mục được Thủ tướng Chính phủ giao bảo đảm đúng tiến độ, chất lượng, hiệu quả đầu tư, đặc biệt tại hạng mục đường ống dẫn nhiên liệu từ cảng đầu nguồn vào sân bay Long Thành.
Bộ Công an tiếp tục triển khai công tác nắm bắt tình hình, tổ chức lực lượng, biện pháp bảo đảm an ninh, phòng ngừa các hành vi vi phạm pháp luật, tham nhũng, tiêu cực, lãng phí trong quá trình thi công, quản lý, vận hành Dự án.
Các Bộ, ngành, địa phương và các cơ quan, đơn vị có liên quan căn cứ chức năng, nhiệm vụ được giao huy động lực lượng triển khai các nhiệm vụ cụ thể để đẩy nhanh tiến độ thực hiện và tổ chức khai thác hiệu quả dự án.
Quá trình thực hiện có giải pháp kiểm soát chặt chẽ chất lượng, kỹ thuật, an toàn, không hợp thức hóa sai phạm, phòng chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; quán triệt triển khai chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Thủ tướng Chính phủ về việc nghiên cứu đầu tư xây dựng Cảng hàng không quốc tế Long Thành trở thành trung tâm dịch vụ, logistics và trung chuyển khu vực Đông Nam Á, cùng với hệ sinh thái dịch vụ hàng không, phi hàng không hiện đại, đồng bộ, hướng tới hình thành "Thành phố sân bay Long Thành"./.