Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 29/6/2026 (1)
(Chinhphu.vn) - Văn phòng Chính phủ vừa có Thông cáo báo chí chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 29/6/2026 (1).
Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Chuyển đổi số
Chính phủ ban hành Nghị định số 224/2026/NĐ-CP ngày 24/6/2026 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Chuyển đổi số.

Bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm triển khai cung cấp thủ tục hành chính theo hình thức dịch vụ công trực tuyến toàn trình.
Nghị định này gồm 9 chương, 92 điều quy định chi tiết Điều 7, khoản 8 Điều 8, Điều 12, khoản 2 Điều 21, khoản 2 Điều 32, khoản 3 Điều 37 và biện pháp thi hành Luật Chuyển đổi số, bao gồm: chiến lược, chương trình, kế hoạch chuyển đổi số; cung cấp thông tin và dịch vụ công trực tuyến; nguyên tắc kiến trúc, thiết kế, yêu cầu tối thiểu đối với hệ thống số; nhiệm vụ chi ngân sách nhà nước và phân cấp nhiệm vụ chi giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương cho chuyển đổi số; quản lý đầu tư, mua sắm, thuê dịch vụ và cơ chế đặc thù cho phát triển thử nghiệm trong chuyển đổi số sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước; phát triển kinh tế số và xã hội số.
Về cung cấp dịch vụ công trực tuyến, Nghị định nêu rõ: Bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm triển khai cung cấp thủ tục hành chính theo hình thức dịch vụ công trực tuyến toàn trình. Trường hợp cung cấp theo hình thức dịch vụ công trực tuyến một phần, bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phải công bố công khai trên Cổng Dịch vụ công quốc gia về lý do và quy định của pháp luật chuyên ngành về việc cung cấp dịch vụ công trực tuyến một phần, bao gồm: quy định tổ chức, cá nhân sử dụng dịch vụ phải hiện diện tại cơ quan nhà nước; cơ quan nhà nước phải đi thẩm tra, xác minh tại hiện trường theo quy định của pháp luật; sự cố kỹ thuật chưa thể khắc phục ngay; các vấn đề kỹ thuật khác chưa thể xử lý được.
Các yêu cầu về cung cấp dịch vụ công trực tuyến
Nghị định quy định việc cung cấp dịch vụ công trực tuyến được cung cấp theo mô hình thống nhất, tập trung từ trung ương đến địa phương trên Cổng Dịch vụ công quốc gia và Ứng dụng định danh quốc gia bảo đảm các yêu cầu tối thiểu như sau:
a) Dịch vụ công trực tuyến phải được công bố, công khai đầy đủ thông tin theo hướng dẫn của Bộ Khoa học và Công nghệ;
b) Các dịch vụ công trực tuyến khi cung cấp trên môi trường số được chuẩn hóa, đồng bộ về mã, tên dịch vụ công trực tuyến theo quy định về mã, tên thủ tục hành chính, thủ tục hành chính liên thông, nhóm thủ tục hành chính theo quy định của pháp luật về kiểm soát thủ tục hành chính; cung cấp biểu mẫu điện tử kèm theo; hướng dẫn quy trình sử dụng cho tổ chức, cá nhân;
c) Phát triển, sử dụng các biểu mẫu điện tử tương tác theo quy định;
d) Kết nối, khai thác dữ liệu từ các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành, cơ sở dữ liệu dùng chung của các cơ quan nhà nước khác theo quy định của pháp luật về dữ liệu để tự động điền các thông tin vào biểu mẫu điện tử và cắt giảm thành phần hồ sơ, bảo đảm nguyên tắc tổ chức, cá nhân chỉ cung cấp thông tin một lần cho cơ quan nhà nước khi thực hiện dịch vụ công trực tuyến;
đ) Thanh toán trực tuyến trên nền tảng thanh toán trực tuyến đối với các dịch vụ công trực tuyến có yêu cầu nộp phí, lệ phí hoặc các nghĩa vụ tài chính khác;
e) Triển khai áp dụng chữ ký số công cộng, chữ ký số chuyên dùng cho các ứng dụng chuyên ngành đáp ứng yêu cầu về chữ ký số trong quá trình thực hiện dịch vụ công trực tuyến;
g) Thông báo tình trạng giải quyết thủ tục hành chính, dịch vụ công trực tuyến cho tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật gồm tối thiểu các thông tin: cơ quan, người tiếp nhận, giải quyết hồ sơ, thời gian tiếp nhận, xử lý và trả kết quả cho tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật. Hình thức thông báo bằng phương tiện điện tử do chủ quản hệ thống chủ động lựa chọn phù hợp với điều kiện thực tiễn;
Trường hợp có thay đổi tình trạng giải quyết thủ tục hành chính, dịch vụ công trực tuyến, cơ quan nhà nước phải thông báo ngay cho tổ chức, cá nhân biết để theo dõi, việc thông báo tình trạng giải quyết thủ tục hành chính, dịch vụ công trực tuyến được thực hiện theo thời gian thực, dựa trên dữ liệu;
h) Các dịch vụ công trực tuyến thuộc thẩm quyền thực hiện của cơ quan nhà nước các cấp trên địa bàn tỉnh, thành phố do các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan khác ở trung ương triển khai cung cấp trên môi trường số phải được tích hợp, công bố công khai và đồng bộ thông tin tiếp nhận, xử lý hồ sơ trên Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính cấp tỉnh để phục vụ hoạt động chỉ đạo, điều hành của các tỉnh, thành phố;
i) Việc cung cấp dịch vụ công trực tuyến trên Cổng Dịch vụ công quốc gia và Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính theo mô hình tập trung từ trung ương đến địa phương phù hợp với Kiến trúc hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính theo hướng dẫn của Bộ Khoa học và Công nghệ. Trong đó, Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính tập trung cấp bộ tích hợp với Cổng Dịch vụ công quốc gia để cung cấp, giải quyết dịch vụ công trực tuyến thống nhất từ trung ương đến địa phương, Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính cấp tỉnh chỉ cung cấp, giải quyết các dịch vụ công trực tuyến chưa được cung cấp trên Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính tập trung cấp bộ và Cổng Dịch vụ công quốc gia.
Về yêu cầu kỹ thuật đối với các Hệ thống thông tin cung cấp dịch vụ công trực tuyến, Nghị định quy định việc thiết kế, xây dựng, cung cấp dịch vụ công trực tuyến tuân thủ quy chuẩn, quy định kỹ thuật đối với các hệ thống thông tin cung cấp dịch vụ công trực tuyến và đáp ứng nhu cầu của tổ chức, cá nhân; hỗ trợ người khuyết tật tiếp cận, sử dụng dịch vụ công trực tuyến.
Hệ thống cung cấp dịch vụ công trực tuyến trên môi trường số phải có giao diện thân thiện, dễ sử dụng, an toàn, bảo mật.
Mức độ dịch vụ công trực tuyến chủ động
Theo Nghị định, dịch vụ công trực tuyến chủ động của cơ quan nhà nước được phân loại theo mức độ chủ động trong việc cung cấp dịch vụ trên môi trường số, bao gồm các mức độ sau đây:
1. Mức độ 1: Dịch vụ công trực tuyến chủ động nhắc thực hiện
a) Dịch vụ công trực tuyến chủ động nhắc thực hiện là dịch vụ công trực tuyến trong đó cơ quan nhà nước, trên cơ sở khai thác dữ liệu sẵn có, chủ động phát hiện thời điểm, sự kiện hoặc nghĩa vụ phát sinh, thực hiện việc thông báo, nhắc nhở, hướng dẫn tổ chức, cá nhân thực hiện dịch vụ công trực tuyến theo quy định của pháp luật;
b) Tổ chức, cá nhân thực hiện việc lập và nộp hồ sơ trực tuyến theo quy định của pháp luật.
2. Mức độ 2: Dịch vụ công trực tuyến chủ động nhắc và chuẩn bị hồ sơ
a) Dịch vụ công trực tuyến chủ động nhắc và chuẩn bị hồ sơ là dịch vụ công trực tuyến trong đó cơ quan nhà nước, ngoài việc thực hiện quy định tại điểm a khoản 1 Điều này, chủ động tạo lập hoặc chuẩn bị sẵn hồ sơ điện tử, thông tin, dữ liệu cần thiết từ các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu sẵn có để phục vụ việc giải quyết dịch vụ công trực tuyến;
b) Tổ chức, cá nhân thực hiện việc xác nhận, bổ sung thông tin (nếu có) và quyết định việc tiếp tục thực hiện dịch vụ công trực tuyến theo quy định của pháp luật.
3. Mức độ 3: Dịch vụ công trực tuyến chủ động nhắc, chuẩn bị hồ sơ và khuyến nghị phương án dịch vụ
a) Dịch vụ công trực tuyến chủ động nhắc, chuẩn bị hồ sơ và khuyến nghị phương án dịch vụ là dịch vụ công trực tuyến trong đó cơ quan nhà nước, ngoài việc thực hiện quy định tại điểm a khoản 2 Điều này, chủ động phân tích, so sánh và khuyến nghị cho tổ chức, cá nhân lựa chọn phương án dịch vụ công trực tuyến phù hợp nhất trong trường hợp có nhiều dịch vụ công trực tuyến cùng hướng đến một mục tiêu hoặc kết quả giải quyết;
b) Việc khuyến nghị được thực hiện trên cơ sở bảo đảm lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, bao gồm chi phí, thời gian thực hiện, mức độ thuận tiện và nghĩa vụ phát sinh; không làm hạn chế quyền lựa chọn dịch vụ công trực tuyến của tổ chức, cá nhân.
4. Mức độ 4: Dịch vụ công trực tuyến chủ động nhắc, chuẩn bị hồ sơ, khuyến nghị phương án dịch vụ và tự động thực hiện
a) Dịch vụ công trực tuyến chủ động nhắc, chuẩn bị hồ sơ, khuyến nghị phương án dịch vụ và tự động thực hiện là dịch vụ công trực tuyến, trong đó cơ quan nhà nước, trên cơ sở khai thác và phân tích dữ liệu từ các hệ thống số, nền tảng số, hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu hợp pháp, tự động xác định việc phát sinh quyền lợi hoặc nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân và thực hiện việc giải quyết thủ tục hành chính mà không yêu cầu tổ chức, cá nhân nộp hồ sơ, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Tổ chức, cá nhân được thông báo về kết quả giải quyết thủ tục hành chính và có quyền xác nhận, từ chối hoặc yêu cầu điều chỉnh theo quy định của pháp luật;
b) Việc tự động thực hiện phải bảo đảm lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; bảo đảm khôi phục nguyên trạng thông tin, dữ liệu của tổ chức, cá nhân ngay trước thời điểm tự động thực hiện nếu tổ chức, cá nhân từ chối hoặc yêu cầu điều chỉnh kết quả giải quyết thủ tục hành chính.
Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2026.
Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 165/2024/NĐ-CP quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đường bộ và Điều 77 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ
Chính phủ ban hành Nghị định số 241/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 165/2024/NĐ-CP ngày 26/12/2024 của Chính phủ quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đường bộ và Điều 77 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ.Q Sửa đổi quy định về phân cấp quản lý quốc lộ

Bổ sung quy định về đầu tư mở rộng trạm dừng nghỉ
Trong đó, Nghị định số 241/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Điều 4 về phân cấp quản lý quốc lộ như sau:
"Điều 4. Phân cấp để Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý quốc lộ
1. Các tuyến đường quốc lộ thuộc quy hoạch mạng lưới đường bộ được phân cấp để Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý, bao gồm:
a) Quốc lộ trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, trừ quốc lộ quy định tại khoản 2 Điều này và Điều 6 Nghị định này;
b) Các công trình, hạng mục thuộc kết cấu hạ tầng đường bộ gắn với quốc lộ phân cấp quy định tại điểm a và điểm c khoản này;
c) Các công trình cầu, hầm, bến phà của tuyến đường quy định tại điểm a khoản này nằm trên địa bàn hai tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Bộ Xây dựng lấy ý kiến Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có liên quan, trước khi quyết định một Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý công trình.
2. Quốc lộ trong quy hoạch mạng lưới đường bộ không phân cấp gồm: Quốc lộ 1, Đường Hồ Chí Minh, quốc lộ có cấp kỹ thuật là đường cao tốc, quốc lộ có yêu cầu đặc biệt về bảo đảm quốc phòng, an ninh và các trường hợp khác theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
3. Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đối với quốc lộ được phân cấp quản lý:
a) Thực hiện quản lý, đầu tư, xây dựng theo quy hoạch được duyệt; quyền, trách nhiệm của cơ quan chủ quản đối với dự án đầu tư xây dựng quốc lộ được phân cấp quản lý trên địa bàn, trừ trường hợp dự án đầu tư giao Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc cơ quan khác là cơ quan chủ quản theo quy định của pháp luật có liên quan; thực hiện quyền, trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật đối với dự án đầu tư theo phương thức PPP; thực hiện các quyền, nghĩa vụ khác về đầu tư, xây dựng theo quy định của pháp luật; thực hiện các quyền, trách nhiệm cơ quan chủ quản, cơ quan có thẩm quyền đối với dự án xây dựng quốc lộ quy định tại khoản 1 Điều này thực hiện trên địa bàn từ 02 đơn vị hành chính cấp tỉnh trở lên khi được giao theo quy định của pháp luật, quy định tại khoản 8 Điều này;
b) Tổ chức thực hiện quản lý, vận hành, khai thác, bảo trì kết cấu hạ tầng đường bộ; quản lý, sử dụng, vận hành, khai thác tài sản kết cấu hạ tầng đường bộ theo quy định của pháp luật về đường bộ, pháp luật về bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường bộ, pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công và quy định khác của pháp luật có liên quan;
c) Bảo đảm kết nối giao thông đồng bộ về tải trọng, khổ giới hạn của đường bộ, phương tiện tham gia giao thông trên đoạn quốc lộ được phân cấp quản lý với các tuyến đường bộ trong quy hoạch mạng lưới đường bộ và bảo đảm kết nối giao thông thuận lợi với các tuyến đường khác trong khu vực;
d) Thực hiện khoản 5 Điều này;
đ) Định kỳ trước ngày 10 tháng 6 và ngày 10 tháng 12 hằng năm, báo cáo Bộ Xây dựng tình hình đầu tư xây dựng, quản lý, vận hành, khai thác, sử dụng, bảo trì, bảo vệ kết cấu hạ tầng đường bộ là quốc lộ được phân cấp.
4. Bộ Xây dựng có trách nhiệm:
a) Bàn giao tuyến đường quy định tại khoản 1 Điều này (bao gồm cả các hạng mục gắn với tuyến đường) và tài sản kết cấu hạ tầng đường bộ quy định tại khoản 1 Điều này cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;
b) Kiểm tra, hướng dẫn Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện đầu tư, xây dựng, quản lý, vận hành, khai thác, bảo trì và công tác bảo đảm an toàn giao thông quốc lộ được phân cấp quản lý;
c) Chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính xây dựng phương án phân bổ nguồn thu phí sử dụng đường bộ thu qua đầu phương tiện đối với xe ô tô (sau khi đã trừ chi phí tổ chức thu) nộp ngân sách trung ương để bổ sung có mục tiêu cho ngân sách địa phương thực hiện quản lý, bảo trì quốc lộ và đường khác do địa phương quản lý, báo cáo Chính phủ để trình Quốc hội theo quy định.
5. Nguồn vốn để đầu tư, xây dựng, quản lý, vận hành, khai thác và bảo trì kết cấu hạ tầng quốc lộ phân cấp cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý được thực hiện theo quy định tại Điều 42 Luật Đường bộ, quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước, đầu tư công, đầu tư theo phương thức đối tác công tư, quản lý, sử dụng tài sản công và quy định khác của pháp luật có liên quan.
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm bố trí vốn và các nguồn lực bảo đảm thực hiện các quy định tại điểm a, điểm b và điểm c khoản 3 Điều này.
6. Trường hợp không bảo đảm nguồn lực đầu tư, xây dựng, quản lý, vận hành, khai thác, bảo trì quốc lộ được phân cấp quản lý hoặc trường hợp cần thiết khác, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có văn bản đề nghị Bộ Xây dựng tiếp nhận lại quốc lộ đã phân cấp.
7. Quốc lộ phân cấp cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý phải thực hiện điều chuyển tài sản kết cấu hạ tầng đường bộ theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công.
Đối với trường hợp quy định tại khoản 6 Điều này, việc điều chuyển tài sản kết cấu hạ tầng đường bộ từ Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về Bộ Xây dựng để quản lý được thực hiện sau khi Bộ Xây dựng có quyết định tiếp nhận lại quốc lộ đã phân cấp.
8. Trách nhiệm của các Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đối với việc quản lý quốc lộ phân cấp trong trường hợp một Ủy ban nhân dân cấp tỉnh là cơ quan chủ quản dự án đầu tư, cơ quan có thẩm quyền đối với dự án đầu tư theo phương thức ppp xây dựng quốc lộ trên địa bàn 02 đơn vị hành chính cấp tỉnh trở lên.
a) Trường hợp đầu tư công
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh là cơ quan chủ quản thực hiện dự án có trách nhiệm tiếp nhận đoạn tuyến quốc lộ, công trình kết cấu hạ tầng đường bộ thuộc phạm vi dự án; tổ chức thực hiện dự án; thực hiện các công việc liên quan đến quản lý, khai thác, bảo trì công trình kể từ khi nhận bàn giao đoạn tuyến quốc lộ, công trình kết cấu hạ tầng đường bộ; bàn giao đoạn tuyến quốc lộ, công trình kết cấu hạ tầng đường bộ đã đầu tư xây dựng trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khác để các địa phương này quản lý; thống nhất với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có liên quan để giao một Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý công trình cầu, hầm, bến phà nằm trên địa bàn 02 đơn vị hành chính cấp tỉnh trở lên.
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có liên quan có trách nhiệm bàn giao đoạn tuyến quốc lộ, công trình kết cấu hạ tầng đường bộ thuộc phạm vi dự án để Ủy ban nhân dân cấp tỉnh là cơ quan chủ quản tiếp nhận và thực hiện dự án; phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh là cơ quan chủ quản dự án trong việc thực hiện dự án, các công việc liên quan đến quản lý, khai thác, bảo trì, bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường bộ;
b) Trường hợp đầu tư theo phương thức ppp
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh là cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra chủ đầu tư, doanh nghiệp dự án tiếp nhận quốc lộ, công trình kết cấu hạ tầng đường bộ thuộc phạm vi dự án; thực hiện dự án; quản lý, vận hành, khai thác, bảo trì, bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường bộ trong thời gian hợp đồng dự án; bàn giao công trình sau khi kết thúc hợp đồng dự án để Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi quốc lộ đi qua quản lý. Trường hợp cầu, hầm, bến phà nằm trên địa bàn 02 đơn vị hành chính cấp tỉnh, sau khi kết thúc hợp đồng dự án thì thực hiện tương tự quy định tại điểm a khoản này.
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có liên quan có trách nhiệm bàn giao tuyến, đoạn tuyến quốc lộ đang quản lý để chủ đầu tư, doanh nghiệp dự án tiếp nhận và thực hiện dự án; phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh là cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn, kiểm tra chủ đầu tư, doanh nghiệp dự án thực hiện dự án, thực hiện quản lý, khai thác, bảo trì, bảo đảm trật tự, an toàn giao thông.".
Quy định mới về điều chỉnh loại đường theo cấp quản lý
Đồng thời, Nghị định số 241/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Điều 7 quy định về điều chỉnh loại đường theo cấp quản lý như sau:
''Điều 7. Điều chỉnh loại đưòng theo cấp quản lý
1. Bộ Xây dựng quyết định điều chỉnh quốc lộ thành đường địa phương; đường địa phương và đường khác thành quốc lộ đối với các trường hợp sau:
a) Tuyến, đoạn tuyến quốc lộ điều chỉnh thành đường địa phương đối với các trường hợp: không có trong quy hoạch mạng lưới đường bộ, quy hoạch kết cấu hạ tầng đường bộ được duyệt, trừ trường hợp quốc lộ có yêu cầu đặc biệt về bảo đảm quốc phòng, an ninh; đã đầu tư xây dựng tuyến tránh thay thế phù hợp với quy hoạch mạng lưới đường bộ, quy hoạch kết cấu hạ tầng đường bộ được duyệt;
b) Tuyến, đoạn tuyến đường địa phương và đường bộ khác có trong quy hoạch mạng lưới đường bộ, quy hoạch kết cấu hạ tầng đường bộ được duyệt thì điều chỉnh thành quốc lộ.
2. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định điều chỉnh các loại đường địa phương theo cấp quản lý khi có thay đổi quy hoạch tỉnh, quy hoạch đô thị và nông thôn, quy hoạch khác có liên quan, trừ quy định tại khoản 1 Điều này.
3. Cục Đường bộ Việt Nam có trách nhiệm rà soát, lập 01 bộ hồ sơ đề nghị điều chỉnh loại đường liên quan đến quốc lộ và gửi đến cấp có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều này để quyết định điều chỉnh loại đường theo cấp quản lý; Sở Xây dựng có trách nhiệm rà soát, lập 01 bộ hồ sơ đề nghị điều chỉnh giữa các loại đường địa phương và gửi đến cấp có thẩm quyền quy định tại khoản 2 Điều này để quyết định điều chỉnh loại đường theo cấp quản lý.
Thành phần hồ sơ bao gồm:
a) Bản chính hoặc biểu mẫu điện tử Tờ trình đề nghị điều chỉnh đường bộ theo cấp quản lý theo quy định tại Mẫu 03 Phụ lục I kèm theo Nghị định này;
b) Đối với trường hợp hoàn thành đầu tư xây dựng đường tránh thay thế đường chính, ngoài quy định tại điểm a khoản này, thành phần hồ sơ còn bao gồm bản sao hoặc biểu mẫu điện tử các văn bản sau: văn bản xác nhận hoàn thành việc đầu tư xây dựng đường tránh hoặc biên bản nghiệm thu hoàn thành công trình xây dựng đường tránh theo quy định của pháp luật về xây dựng.
4. Cơ quan có thẩm quyền giải quyết thủ tục hành chính quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này tiếp nhận, kiểm tra hồ sơ và xử lý như sau:
a) Trong vòng 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ, kiểm tra thành phần hồ sơ, nếu không đủ thành phần hồ sơ có văn bản thông báo đến cơ quan, tổ chức đề nghị để bổ sung, hoàn thiện;
b) Trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ khi nhận đủ hồ sơ theo quy định, cơ quan có thẩm quyền giải quyết thủ tục hành chính tiến hành thẩm định hồ sơ, nếu đủ điều kiện thì ban hành Quyết định điều chỉnh loại đường theo cấp quản lý theo quy định tại Mẫu số 04 Phụ lục I kèm theo Nghị định này;
c) Trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính cho cơ quan, tổ chức bằng bản điện tử hợp lệ.
5. Việc điều chuyển tài sản kết cấu hạ tầng đường bộ sau khi có quyết định điều chỉnh loại đường của cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về đường bộ được thực hiện theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công.".
Bổ sung quy định về đầu tư mở rộng trạm dừng nghỉ
Ngoài ra, Nghị định số 241/2026/NĐ-CP cũng bổ sung Điều 52a vào sau Điều 52 quy định về đầu tư mở rộng trạm dừng nghỉ đã ký hợp đồng kinh doanh, khai thác, cụ thể:
1. Việc đầu tư mở rộng trạm dừng nghỉ nhằm hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng, đáp ứng nhu cầu sử dụng dịch vụ của người và phương tiện tham gia giao thông.
2. Cơ quan có thẩm quyền tổ chức xác định sơ bộ nhu cầu và đàm phán với nhà đầu tư, doanh nghiệp đang đầu tư, khai thác trạm dừng nghỉ về phương án đầu tư mở rộng trạm dừng nghỉ. Trường hợp nhà đầu tư, doanh nghiệp đang đầu tư, khai thác trạm dừng nghỉ thực hiện mở rộng trạm dừng nghỉ thì phải nộp giá trị nhận nhượng quyền kinh doanh xác định theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 56 Nghị định này bằng hình thức nộp tiền một lần vào ngân sách nhà nước.
3. Đối với dự án đường cao tốc đầu tư theo phương thức ppp, trường hợp cơ quan có thẩm quyền đàm phán với nhà đầu tư, doanh nghiệp đang đầu tư, khai thác trạm dừng nghỉ theo quy định tại khoản 2 Điều này không thành công, cơ quan có thẩm quyền tổ chức đàm phán với nhà đầu tư dự án đường cao tốc theo phương thức ppp (nếu có) về phương án đầu tư, kinh doanh đối với phần mở rộng trạm dừng nghỉ. Việc xác định quyền, nghĩa vụ của nhà đầu tư ppp đối với phần mở rộng trạm dừng nghỉ thực hiện theo điểm a khoản 3 Điều 56 Nghị định này. Thời hạn khai thác phần mở rộng trạm dừng nghỉ được xác định bảo đảm đồng bộ với thời hạn hợp đồng dự án đường cao tốc theo phương thức ppp.
4. Trường hợp đàm phán theo khoản 2, khoản 3 Điều này không thành công, cơ quan có thẩm quyền tổ chức lựa chọn nhà đầu tư thực hiện đầu tư, kinh doanh đối với phần mở rộng trạm dừng nghỉ theo quy định của pháp luật về lựa chọn nhà đầu tư dự án có sử dụng đất. Nhà đầu tư, doanh nghiệp đang đầu tư, khai thác trạm dừng nghỉ và nhà đầu tư được lựa chọn thực hiện đầu tư, kinh doanh đối với phần mở rộng trạm dừng nghỉ và nhà đầu tư dự án đường cao tốc theo phương thức ppp (nếu có) có trách nhiệm phối hợp, bảo đảm khai thác đồng bộ, an toàn đối với đường cao tốc và trạm dừng nghỉ.
5. Trình tự thủ tục đầu tư mở rộng trạm dừng nghỉ thực hiện theo quy định của pháp luật về đất đai, pháp luật về xây dựng và pháp luật khác có liên quan.".
Các quy định trên có hiệu lực từ ngày 1/7/2026.
Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 151/2024/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ
Chính phủ ban hành Nghị định số 236/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 151/2024/NĐ-CP ngày 15/11/2024 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 184/2025/NĐ-CP ngày 01/7/2025 của Chính phủ.
Hoàn thiện cơ sở dữ liệu về trật tự, an toàn giao thông đường bộ
Trong đó, Nghị định số 236/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung quy định cơ sở dữ liệu về trật tự, an toàn giao thông đường bộ (khoản 1 Điều 9, một số điểm, khoản của Điều 10 của Nghị định số 151/2024/NĐ-CP) nhằm hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu về trật tự, an toàn giao thông đường bộ theo hướng đồng bộ, thống nhất trên phạm vi toàn quốc.
Theo đó, cơ sở dữ liệu về trật tự, an toàn giao thông đường bộ được xây dựng thống nhất trên toàn quốc, do lực lượng Cảnh sát giao thông quản lý, vận hành, khai thác, dùng chung cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền, trừ cơ sở dữ liệu liên quan đến lĩnh vực quốc phòng, an ninh.
Bộ Công an có trách nhiệm xây dựng, quản lý Cơ sở dữ liệu về trật tự, an toàn giao thông đường bộ và các cơ sở dữ liệu chuyên ngành có liên quan; các bộ, ngành có trách nhiệm xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành, kết nối, chia sẻ thông tin theo quy định của pháp luật với Cơ sở dữ liệu vê trật tự, an toàn giao thông đường bộ phục vụ công tác quản lý nhà nước về trật tự, an toàn giao thông đường bộ và giải quyết các thủ tục hành chính cho người dân, doanh nghiệp.
Bộ Công an có trách nhiệm xây dựng, quản lý cơ sở dữ liệu sau đây: Cơ sở dữ liệu về đăng ký, quản lý xe cơ giới, xe máy chuyên dùng (trừ xe quân sự); Cơ sở dữ liệu về xử lý vi phạm hành chính về trật tự, an toàn giao thông đường bộ; Cơ sở dữ liệu về tai nạn giao thông đường bộ; Cơ sở dữ liệu về hành trình của phương tiện giao thông đường bộ, hình ảnh người lái xe (trừ xe quân sự); Cơ sở dữ liệu về quản lý thời gian điều khiển phương tiện của người lái xe (trừ xe quân sự); Cơ sở dữ liệu về đăng kiểm xe cơ giới, xe máy chuyên dùng trong Công an nhân dân; Cơ sở dữ liệu về sát hạch, cấp giấy phép lái xe; Cơ sở dữ liệu về đào tạo lái xe, chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ trong Công an nhân dân; Cơ sở dữ liệu về xe cơ giới nước ngoài do người nước ngoài điều khiển tham gia giao thông tại Việt Nam.
Bộ Xây dựng có trách nhiệm xây dựng, quản lý cơ sở dữ liệu sau đây: Cơ sở dữ liệu về đăng kiểm xe cơ giới, xe máy chuyên dùng (trừ xe quân sự, xe công an); Cơ sở dữ liệu về đào tạo lái xe, chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ cho người điều khiển xe máy chuyên dùng (trừ dữ liệu về đào tạo lái xe, chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật của lực lượng quân đội, công an); Cơ sở dữ liệu về đơn vị kinh doanh vận tải và phù hiệu xe kinh doanh vận tải.
Bộ Tài chính có trách nhiệm xây dựng, quản lý cơ sở dữ liệu sau đây: Cơ sở dữ liệu về xe xuất khẩu, nhập khẩu; Cơ sở dữ liệu về hóa đơn, chứng từ; Cơ sở dữ liệu về lệ phí trước bạ xe.
Bộ Quốc phòng có trách nhiệm xây dựng, quản lý cơ sở dữ liệu thuộc phạm vi quản lý của Bộ Quốc phòng sau đây: Cơ sở dữ liệu về đăng ký, kiểm định xe cơ giới, xe máy chuyên dùng; Cơ sở dữ liệu về đào tạo, sát hạch, cấp giấy phép lái xe, chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ; Cơ sở dữ liệu về tai nạn giao thông đường bộ; Cơ sở dữ liệu về xử lý vi phạm hành chính về trật tự, an toàn giao thông đường bộ.
Bổ sung dữ liệu về giấy phép lái xe, quản lý điểm giấy phép lái xe
Một điểm mới đáng chú ý của Nghị định là việc bổ sung các trường thông tin liên quan đến công tác sát hạch, cấp giấy phép lái xe và quản lý điểm giấy phép lái xe; thông tin về xe cơ giới nước ngoài do người nước ngoài điều khiển tham gia giao thông tại Việt Nam; thông tin về đơn vị kinh doanh vận tải, phù hiệu xe kinh doanh vận tải (bổ sung khoản 14, khoản 15, khoản 16 vào sau khoản 13 Điều 11):
Cụ thể, bổ sung khoản 14 Điều 11 - Thông tin về sát hạch, cấp giấy phép lái xe gồm: họ, tên; số định danh cá nhân; ngày, tháng, năm sinh; giới tính; quốc tịch; nơi cư trú; số giấy phép lái xe; ngày, tháng, năm cấp giấy xác nhận hoàn thành khóa đào tạo lái xe; cơ quan sát hạch; địa điểm tổ chức sát hạch (trung tâm sát hạch hoặc sân tập lái dùng để sát hạch); ngày, tháng, năm cấp, đổi, cấp lại giấy phép lái xe; cơ quan cấp, đổi, cấp lại giấy phép lái xe; giấy phép lái xe trước khi đổi (giấy phép lái xe hệ dân sự, giấy phép lái xe trong Công an nhân dân, giấy phép lái xe quân sự, giấy phép lái xe của nước ngoài); hạng giấy phép lái xe; thời hạn sử dụng của giấy phép lái xe; số phôi giấy phép lái xe; điều kiện hạn chế của giấy phép lái xe; số điểm hiện tại của giấy phép lái xe và lịch sử trừ điểm giấy phép lái xe.
Bổ sung khoản 15 Điều 11 - Thông tin về xe cơ giới nước ngoài do người nước ngoài điều khiển tham gia giao thông tại Việt Nam gồm:
Thông tin người điều khiển phương tiện: họ, tên; số định danh cá nhân hoặc hộ chiếu; ngày, tháng, năm sinh; quốc tịch; địa chỉ; số giấy phép lái xe; cơ quan cấp.
Thông tin phương tiện: biển số xe; màu biển số xe; loại xe; nhãn hiệu; số loại; số máy; số khung; màu sơn; số chỗ ngồi hoặc đứng hoặc nằm; số hiệu giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật.
Thông tin xuất nhập cảnh: cửa khẩu tạm nhập hoặc tái xuất; thời gian tạm nhập, tái xuất; cơ quan hải quan làm thủ tục tạm nhập, tái xuất; tên doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lữ hành quốc tế hoặc tổ chức, cá nhân nộp hồ sơ đề nghị chấp thuận đưa xe cơ giới vào Việt Nam.
Thông tin khác về văn bản chấp thuận của cơ quan có thẩm quyền.
Bổ sung khoản 16 Điều 11 - Thông tin về đơn vị kinh doanh vận tải, phù hiệu xe kinh doanh vận tải gồm:
Thông tin về đơn vị kinh doanh vận tải: tên đơn vị, mã số doanh nghiệp, số Giấy phép kinh doanh vận tải, địa chỉ, cơ quan cấp Giấy phép kinh doanh vận tải, người điều hành vận tải, loại hình kinh doanh vận tải.
Thông tin về phù hiệu vận tải: biển số xe, số phù hiệu, cơ quan cấp phù hiệu, thời hạn, loại hình kinh doanh vận tải.
Sửa đổi, bổ sung các quy định liên quan đến xe ưu tiên và xe làm nhiệm vụ khẩn cấp
Ngoài ra, Nghị định 236/2026/NĐ-CP tiếp tục sửa đổi, bổ sung các quy định liên quan đến xe ưu tiên và xe làm nhiệm vụ khẩn cấp nhằm phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Trong đó, Nghị định thống nhất quy định về hệ thống đèn, còi và tín hiệu ưu tiên sử dụng trên các phương tiện này.
Cơ quan, tổ chức, cá nhân chỉ được lắp đặt thiết bị phát tín hiệu của xe ưu tiên trên các loại xe quy định tại khoản 1 Điều 27 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ (trừ đoàn xe tang) và phải có giấy phép sử dụng do cơ quan có thẩm quyền cấp; đối với xe đi làm nhiệm vụ trong tình trạng khẩn cấp theo quy định của pháp luật là xe phục vụ Ban chỉ đạo, xe phục vụ các lực lượng chức năng được huy động tham gia thực hiện nhiệm vụ khi tình trạng khẩn cấp được ban bố.
Thiết bị phát tín hiệu của xe ưu tiên chỉ được sử dụng khi thực hiện nhiệm vụ và phải tuân thủ các quy định của pháp luật về trật tự, an toàn giao thông đường bộ.
Nghị định có hiệu lực thi hành từ 1/7/2026./.