In bài viết

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 29/9/2026 (2)

(Chinhphu.vn) - Văn phòng Chính phủ vừa có Thông cáo báo chí chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 29/9/2026 (2).

30/09/2026 09:02

Quy định về hoạt động định danh, xác thực, truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa 

Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng thay mặt Chính phủ ký Nghị định số 372/2026/NĐ-CP ngày 29/9/2026 quy định về hoạt động định danh, xác thực, truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa. Trong đó, đáng chú ý là các quy định về truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 29/9/2026 (2)- Ảnh 1.

Quy định về hoạt động truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa.

Nghị định số 372/2026/NĐ-CP gồm 8 chương, 38 điều quy định về Nền tảng quốc gia về định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa; hoạt động định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa trên môi trường số thông qua Nền tảng quốc gia về định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa; việc xây dựng, quản lý, vận hành, kết nối, chia sẻ, khai thác Nền tảng quốc gia về định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa và Cơ sở dữ liệu quốc gia về sản phẩm, hàng hóa; quyền, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

Nghị định nêu rõ hoạt động định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa thông qua Nền tảng quốc gia về định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa theo quy định tại Nghị định này được thực hiện theo lô, mẻ sản xuất, kinh doanh hoặc đến từng đơn vị sản phẩm, hàng hóa căn cứ vào mức độ rủi ro của sản phẩm, hàng hóa như sau:

a) Đối với sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro cao, việc định danh, xác thực dữ liệu chủ về sản phẩm, hàng hóa và truy xuất nguồn gốc được thực hiện bắt buộc; danh mục, lộ trình áp dụng, phương thức thực hiện theo lô, mẻ sản xuất, kinh doanh hoặc đến từng đơn vị sản phẩm, hàng hóa, sự kiện trọng yếu và yêu cầu dữ liệu chuyên ngành do bộ quản lý ngành, lĩnh vực xác định, quyết định theo thẩm quyền, bảo đảm tính khả thi, phù hợp với năng lực của doanh nghiệp và đặc thù phát triển của từng ngành hàng. Nền tảng quốc gia về định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa thực hiện chức năng kỹ thuật về định danh, xác thực, đối chiếu, lưu vết, kết nối và chia sẻ dữ liệu trên cơ sở danh mục, lộ trình và yêu cầu chuyên ngành đã được cơ quan có thẩm quyền ban hành;

b) Đối với sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro trung bình, mức độ rủi ro thấp, việc định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc được khuyến khích thực hiện tự nguyện theo quy định tại Nghị định này.

Nghị định cũng quy định đối với sản phẩm, hàng hóa xuất khẩu, việc áp dụng định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc được thực hiện theo nguyên tắc tự nguyện, trừ trường hợp pháp luật chuyên ngành có quy định khác. Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân chủ động áp dụng để đáp ứng yêu cầu của nước nhập khẩu, thị trường xuất khẩu và hoạt động thương mại quốc tế.

Sản phẩm, hàng hóa tạm nhập tái xuất; sản phẩm, hàng hóa quá cảnh, hàng hóa chuyển khẩu; sản phẩm, hàng hóa trung chuyển; sản phẩm hàng hóa nhập khẩu gửi kho ngoại quan để xuất khẩu sang nước thứ ba không thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định này.

Không áp dụng quy định bắt buộc định danh, xác thực, truy xuất nguồn gốc tại Nghị định này đối với sản phẩm, hàng hóa trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, cơ yếu có yêu cầu bảo mật về nguồn gốc, xuất xứ.

Các nội dung về nghiệp vụ truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa được thực hiện theo Nghị định số 37/2026/NĐ-CP và quy định pháp luật chuyên ngành có liên quan.

Đối tượng áp dụng

Nghị định này áp dụng đối với:

1. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong quản lý nhà nước về định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa; quản lý, vận hành, khai thác Nền tảng quốc gia về định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa và Cơ sở dữ liệu quốc gia về sản phẩm, hàng hóa.

2. Tổ chức, cá nhân sản xuất, chế biến, gia công, kinh doanh, phân phối, nhập khẩu, vận chuyển, lưu kho sản phẩm, hàng hóa.

3. Tổ chức cung cấp dịch vụ xác thực điện tử đối với sản phẩm, hàng hoá.

4. Tổ chức, cá nhân tham gia khai thác, sử dụng thông tin trên Nền tảng quốc gia về định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa và Cơ sở dữ liệu quốc gia về sản phẩm, hàng hóa.

5. Tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến hoạt động định danh, xác thực, truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa.

Truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa

Nghị định quy định việc truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa như sau:

Hoạt động truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa được thực hiện trên môi trường số thông qua mã UID trên Nền tảng quốc gia về định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa. Nội dung, yêu cầu nghiệp vụ truy xuất nguồn gốc không được quy định tại Nghị định này thực hiện theo Nghị định số 37/2026/NĐ-CP và quy định pháp luật chuyên ngành có liên quan.

Việc truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa phải được ghi nhận thông qua việc khởi tạo các chứng chỉ số quy định tại khoản 4 Điều 8 Nghị định này qua mã UID nhằm đảm bảo tính toàn vẹn, khả năng xác minh và truy vết độc lập. Việc ghi nhận thông qua khởi tạo chứng chỉ số được thực hiện đối với các sự kiện trọng yếu trong quá trình sản xuất, nhập khẩu, xuất khẩu, lưu thông, tiêu dùng (bao gồm việc xuất hóa đơn, ghi nhận thời điểm cơ quan hải quan quyết định thông quan đối với hàng hóa theo quy định của pháp luật về thuế, hải quan và hình thức quản lý khác theo quy định của pháp luật).

Tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm đối với sự kiện trọng yếu trong chuỗi cung ứng được xác định theo khoản này có trách nhiệm bảo đảm việc khởi tạo chứng chỉ số tương ứng với công đoạn đó thông qua mã UID của sản phẩm, hàng hoá, trừ trường hợp dữ liệu xác nhận kết thúc công đoạn đã được đồng bộ về Cơ sở dữ liệu quốc gia về sản phẩm, hàng hóa.

Trường hợp việc khởi tạo chứng chỉ số được thực hiện bởi bên cung cấp dịch vụ thì phải có thỏa thuận xác định rõ chủ thể thực hiện, phạm vi thực hiện, trách nhiệm bảo đảm tính chính xác, đầy đủ của dữ liệu và trách nhiệm pháp lý của các bên theo quy định của pháp luật.

Bộ quản lý ngành, lĩnh vực có trách nhiệm hướng dẫn và thực hiện chức năng quản lý nhà nước về truy xuất nguồn gốc theo Nghị định số 37/2026/NĐ-CP đối với từng đối tượng và ngành hàng cụ thể; quy định cụ thể các sự kiện trọng yếu phải thực hiện việc khởi tạo chứng chỉ số trong quá trình truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro cao phù hợp với đặc thù từng nhóm sản phẩm, hàng hóa thuộc phạm vi quản lý, bảo đảm không làm phát sinh thủ tục, nghĩa vụ kê khai nhiều lần với tổ chức, cá nhân, bảo đảm khả năng kết nối, chia sẻ, khai thác dữ liệu sẵn có trong hệ thống thông tin của cơ quan nhà nước, việc đồng bộ, liên thông dữ liệu với Cơ sở dữ liệu quốc gia về sản phẩm, hàng hóa.

Trường hợp chuỗi cung ứng của sản phẩm, hàng hóa thuộc phạm vi quản lý của từ hai bộ, cơ quan ngang bộ trở lên thì bộ, cơ quan ngang bộ quản lý sản phẩm, hàng hóa đó là cơ quan chủ trì, phối hợp với bộ, cơ quan ngang bộ có liên quan để quy định và ban hành danh mục, sự kiện trọng yếu phải thực hiện việc khởi tạo chứng chỉ số và truy xuất nguồn gốc.

Dữ liệu truy xuất nguồn gốc của từng sản phẩm, hàng hóa trong Nền tảng quốc gia về định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa và hệ thống truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa phải bao gồm các thông tin tối thiểu theo quy định tại khoản 5 Điều 23 Nghị định 37/2026/NĐ-CP.

Các chứng nhận chất lượng sản phẩm, hàng hóa; giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa; chứng nhận hợp quy, hợp chuẩn và các giấy tờ khác gắn với sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro cao trong quá trình truy xuất nguồn gốc được số hóa, xác thực, kết nối, đồng bộ với Nền tảng quốc gia về định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa theo lộ trình, tiêu chuẩn dữ liệu và yêu cầu quản lý do cơ quan có thẩm quyền quy định.

Các giấy tờ, chứng nhận quy định tại khoản này gắn với sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro trung bình và mức độ rủi ro thấp được khuyến khích số hoá, xác thực, kết nối, đồng bộ với Nền tảng quốc gia về định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa phục vụ yêu cầu quản lý nhà nước chuyên ngành.

Việc khởi tạo chứng chỉ số tương ứng đối với các giấy tờ, chứng nhận theo quy định được thực hiện khi hệ thống cấp chứng nhận, cơ quan cấp chứng nhận, tổ chức đánh giá sự phù hợp, tổ chức chứng nhận đáp ứng điều kiện kỹ thuật kết nối, chia sẻ dữ liệu với Nền tảng quốc gia về định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa theo quy định của pháp luật và hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền.

Bộ quản lý ngành, lĩnh vực có trách nhiệm tổ chức khởi tạo hoặc chỉ đạo, yêu cầu và bảo đảm các tổ chức, đơn vị có thẩm quyền cấp các chứng nhận chất lượng sản phẩm, hàng hóa; giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa; chứng nhận hợp quy, hợp chuẩn và các giấy tờ khác gắn với sản phẩm, hàng hóa thực hiện việc khởi tạo các chứng chỉ số tương ứng và đảm bảo kết nối, liên thông dữ liệu với Nền tảng quốc gia về định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa; tổng hợp, ban hành danh mục các loại giấy tờ, chứng nhận gắn với sản phẩm, hàng hóa thuộc phạm vi quản lý phải thực hiện khởi tạo chứng chỉ số và lộ trình thực hiện, đồng thời cập nhật, điều chỉnh danh mục này khi có thay đổi theo quy định của pháp luật.

Các chứng chỉ số về chứng nhận chất lượng sản phẩm, hàng hóa; chứng nhận xuất xứ hàng hóa; chứng nhận hợp quy, hợp chuẩn và các giấy tờ khác gắn với sản phẩm, hàng hóa đã được khởi tạo trên Nền tảng quốc gia về định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hoá có giá trị sử dụng như bản chính.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2027.

Phụ lục quy định về mã định danh sản phẩm, hàng hóa (mã UID).

Ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật Phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt

Phó Thủ tướng Chính phủ Phan Văn Giang vừa ký Quyết định số 1870/QĐ-TTg ngày 29/9/2026 ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật Phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt (Kế hoạch).

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 29/9/2026 (2)- Ảnh 2.

Luật Phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt số 13/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI, Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất thông qua ngày 23/8/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2027.

Mục đích của Kế hoạch nhằm xác định cụ thể nhiệm vụ, kết quả, thời hạn, tiến độ thực hiện và trách nhiệm của cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp trong tổ chức triển khai thi hành Luật Phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt.

Xác định trách nhiệm và cơ chế phối hợp giữa các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố (Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) và cơ quan, tổ chức có liên quan.

Phát huy vai trò của Bộ Quốc phòng - Cơ quan đầu mối quốc gia về phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt trong hướng dẫn, điều phối, theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thi hành Luật.

Ban hành đầy đủ, kịp thời các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật; bảo đảm Luật được thi hành đồng bộ, thống nhất, hiệu quả trên phạm vi cả nước từ ngày 01/7/2027.

Nâng cao nhận thức, trách nhiệm và năng lực của các cấp, các ngành, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và Nhân dân trong phòng ngừa, phát hiện, cảnh báo sớm, ngăn chặn, xử lý hoạt động phổ biến, tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt; góp phần bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại, phát triển kinh tế xã hội và thực hiện đầy đủ các cam kết, nghĩa vụ quốc tế của Việt Nam.

Rà soát, sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật liên quan, bảo đảm phù hợp với Luật

Kế hoạch đưa ra các yêu cầu triển khai như sau:

Trong Quý II/2027, Bộ Quốc phòng phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và các cơ quan, tổ chức có liên quan tổ chức hội nghị quán triệt, triển khai thi hành Luật đến các bộ, ngành, cơ quan tổ chức có liên quan và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo hình thức trực tiếp hoặc kết hợp trực tuyến.

Trên cơ sở kết quả triển khai thi hành Luật của Bộ Quốc phòng, các bộ, ngành tổ chức quán triệt, triển khai thi hành Luật trong bộ, ngành mình bằng hình thức phù hợp, bảo đảm hiệu quả.

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức quán triệt nội dung, triển khai thi hành Luật đến các cán bộ có liên quan, các cơ quan, phòng, ban chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo hình thức trực tiếp hoặc kết hợp trực tuyến và các hình thức phù hợp khác.

Các bộ, cơ quan ngang bộ và các cơ quan, tổ chức có liên quan rà soát văn bản thuộc phạm vi quản lý, để kịp thời bãi bỏ, sửa đổi, bổ sung thay thế hoặc ban hành mới bảo đảm phù hợp với Luật; gửi kết quả về Bộ Quốc phòng để tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ. Đề nghị Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao phối hợp.

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức rà soát văn bản do Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cùng cấp ban hành.

Nhiệm vụ này được yêu cầu hoàn thành trước ngày 31/12/2026.

Bộ Quốc phòng chủ trì, phối hợp với Văn phòng Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và cơ quan, tổ chức có liên quan xây dựng, trình Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt trong Quý I/2027.

Tổ chức truyền thông, phổ biến Luật và các văn bản quy định chi tiết hướng dẫn thi hành Luật

Trước ngày 01/7/2027, Bộ Quốc phòng phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và các cơ quan, tổ chức có liên quan xây dựng, phát hành tài liệu phục vụ cho công tác truyền thông, phổ biến về Luật và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật.

Đồng thời, tổ chức hoạt động truyền thông, phổ biến rộng rãi các quy định của pháp luật và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành luật trong Quý III, IV/2027 và các năm tiếp theo.

Năm 2027 và các năm tiếp theo, Bộ Quốc phòng và các bộ, ngành, địa phương tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng nâng cao kỹ năng, nghiệp vụ về phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt.

Bộ Quốc phòng chủ trì biên soạn, phát hành tài liệu tuyên truyền, phổ biến Luật và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật.

Cụ thể: Biên soạn tài liệu giới thiệu, phổ biến Luật; sổ tay hỏi - đáp; tài liệu hướng dẫn nhận diện, đánh giá rủi ro, xây dựng chương trình tuân thủ nội bộ, kiểm soát người sử dụng cuối cùng, mục đích sử dụng cuối cùng và kiểm soát tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt; định kỳ rà soát, cập nhật phù hợp với quy định và thực tiễn.

Đối tượng sử dụng là cơ quan quản lý nhà nước, lực lượng thực thi pháp luật, tổ chức tài chính, doanh nghiệp, cơ sở nghiên cứu, cơ sở đào tạo và cơ quan, tổ chức có liên quan.

Thời gian hoàn thành: Lần đầu trong Quý II/2027 và được rà soát, cập nhật trong quá trình thực hiện.

Năm 2027 và các năm tiếp theo, Bộ Quốc phòng tổ chức theo dõi, kiểm tra việc thi hành Luật và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật./.