Chính phủ ban hành Nghị định số 90/2026/NĐ-CP ngày 30/3/2026 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế. Trong đó, đáng chú ý là các vi phạm về kinh doanh và sử dụng sản phẩm dinh dưỡng dùng cho trẻ nhỏ.

Quy định xử phạt vi phạm hành chính về kinh doanh và sử dụng sản phẩm dinh dưỡng dùng cho trẻ nhỏ.
Nghị định này quy định về hành vi vi phạm hành chính, hình thức, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với từng hành vi vi phạm hành chính, thẩm quyền lập biên bản, thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính theo từng chức danh đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế.
Vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế quy định tại Nghị định này là những hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước trong lĩnh vực y tế mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính, bao gồm:
a) Vi phạm các quy định về ý tế dự phòng và phòng, chống HIV/AIDS;
b) Vi phạm các quy định về khám bệnh, chữa bệnh;
c) Vi phạm các quy định về dược, mỹ phẩm;
d) Vi phạm các quy định về thiết bị y tế;
đ) Vi phạm các quy định về bảo hiểm y tế;
e) Vi phạm các quy định về dân số.
Đối với vi phạm các quy định về khám bệnh, chữa bệnh, Nghị định quy định có 13 loại hành vi vi phạm về: (1) Hành nghề và sử dụng giấy phép hoặc chứng chỉ hành nghề; (2) Điều kiện hoạt động và sử dụng giấy phép hoạt động; (3) Chuyên môn kỹ thuật trong khám, chữa bệnh; (4) Sử dụng thuốc trong cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thực hiện điều trị nội trú và trong thời gian lưu người bệnh ngoại trú để theo dõi; (5) Sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm; (6) Điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo; (7) Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác; (8) Xác định lại giới tính, khám sức khỏe; (9) Kiểm soát nhiễm khuẩn trong cơ sở khám, chữa bệnh; (10) Nguyên tắc trong hành nghề; (11) Hoạt động dược lâm sàng của cơ sở khám, chữa bệnh; (12) Thông tin, giáo dục, truyền thông về nuôi dưỡng trẻ nhỏ, sử dụng các sản phẩm dinh dưỡng dùng cho trẻ nhỏ và lợi ích của việc nuôi con bằng sữa mẹ; (13) Kinh doanh và sử dụng sản phẩm dinh dưỡng dùng cho trẻ nhỏ.
Về vi phạm quy định về kinh doanh và sử dụng sản phẩm dinh dưỡng dùng cho trẻ nhỏ, Nghị định quy định:
1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
a) Hướng dẫn cho trẻ dưới 06 tháng tuổi sử dụng sản phẩm sữa thay thế sữa mẹ, trừ trường hợp có chỉ định của bác sỹ;
b) Thông tin cho phụ nữ mang thai, bà mẹ có con nhỏ hoặc thành viên gia đình họ là cho trẻ ăn sản phẩm sữa thay thế sữa mẹ có giá trị tương đương hoặc tốt hơn cho trẻ bú sữa mẹ.
2. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
a) Không cung cấp thông tin chính xác, khoa học và cách thức sử dụng đúng sản phẩm dinh dưỡng dùng cho trẻ nhỏ phù hợp quy định của pháp luật cho thầy thuốc, nhân viên y tế và người tiêu dùng;
b) Cử nhân viên tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp với bà mẹ, phụ nữ mang thai hoặc thành viên trong gia đình họ tại cơ sở y tế hoặc bên ngoài cơ sở y tế với mục đích quảng cáo, tuyên truyền, khuyến khích sử dụng sản phẩm sữa thay thế sữa mẹ;
c) Không tổ chức tuyên truyền, thực hiện các biện pháp tư vấn nuôi con bằng sữa mẹ cho phụ nữ mang thai, bà mẹ có con nhỏ và thành viên trong gia đình họ tại phòng khám thai, phòng chờ sinh, phòng sau sinh, phòng tư vấn dinh dưỡng hoặc những nơi dễ quan sát, tập trung đối tượng phụ nữ mang thai, bà mẹ có con nhỏ và thành viên gia đình họ theo quy định của pháp luật;
d) Nhận sản phẩm sữa thay thế sữa mẹ; lợi ích vật chất; vật dụng có tên hoặc biểu tượng của sản phẩm sữa thay thế sữa mẹ do cơ sở sản xuất, kinh doanh tặng;
đ) Cho phép cơ sở sản xuất, kinh doanh tặng mẫu, tặng quà liên quan đến sản phẩm sữa thay thế sữa mẹ trong cơ sở y tế;
e) Cung cấp danh sách tên, tuổi, địa chỉ, số điện thoại liên hệ của bà mẹ có con nhỏ, phụ nữ mang thai cho nhân viên cơ sở sản xuất, kinh doanh tiếp cận với phụ nữ mang thai, bà mẹ có con nhỏ tại cơ sở y tế.
3. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
a) Tổ chức bán hoặc cho phép bán sản phẩm sữa thay thế sữa mẹ tại cơ sở y tế, trừ nhà thuốc bệnh viện;
b) Sử dụng hình thức tài trợ học bổng, tài trợ nghiên cứu khoa học, tài trợ kinh phí cho đào tạo, hội nghị, hội thảo, khóa học, buổi hòa nhạc, tổ chức cuộc thi, diễn kịch, xây dựng phim, video clip, dịch vụ tư vấn qua điện thoại hoặc hình thức khác nhằm tuyên truyền hoặc giới thiệu, thúc đẩy việc kinh doanh hoặc sử dụng sản phẩm sữa thay thế sữa mẹ;
c) Cho phép cơ sở sản xuất, kinh doanh sản phẩm sữa thay thế sữa mẹ trưng bày, niêm yết bất kỳ vật dụng, thiết bị nào có tên hoặc biểu tượng của sản phẩm sữa thay thế sữa mẹ, bình bú, vú ngậm nhân tạo tại cơ sở y tế;
d) Cho phép nhân viên của cơ sở sản xuất, kinh doanh sản phẩm sữa thay thế sữa mẹ tiếp cận với bà mẹ có con nhỏ, phụ nữ mang thai dưới mọi hình thức.
4. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
a) Tổ chức trưng bày sản phẩm sữa thay thế sữa mẹ, thức ăn bổ sung dùng cho trẻ dưới 06 tháng tuổi tại cơ sở y tế; trưng bày tên, logo sản phẩm sữa thay thế sữa mẹ trên các biểu ngữ, áp phích và tài liệu quảng cáo khác trong các siêu thị, cửa hàng bán lẻ và cơ sở y tế;
b) Áp dụng các biện pháp khuyến mại đối với sản phẩm sữa thay thế sữa mẹ như tặng hàng mẫu, tặng phiếu giảm giá, giải thưởng, quà tặng, tính điểm cộng thưởng, giảm giá hoặc bất kỳ hình thức nào khác;
c) Thực hiện hoặc hỗ trợ việc thông tin, giáo dục, truyền thông liên quan đến nuôi dưỡng trẻ nhỏ nhằm tuyên truyền, giới thiệu, thúc đẩy việc kinh doanh hoặc sử dụng sản phẩm sữa thay thế sữa mẹ.
Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 15/5/2026.
Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà ký Quyết định số 527/QĐ-TTg ngày 31/3/2026 ban hành Kế hoạch triển khai Chỉ thị số 03-CT/TW ngày 3/2/2026 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quản lý, phát triển vật liệu xây dựng trong giai đoạn mới (Kế hoạch).

Tăng cường công tác quản lý vật liệu xây dựng trong giai đoạn mới.
Mục tiêu của Kế hoạch nhằm cụ thể hóa các nhiệm vụ, giải pháp của Chỉ thị số 03-CT/TW; tổ chức triển khai đồng bộ, thống nhất từ trung ương đến địa phương; xác định rõ trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị và người đứng đầu trong quản lý, phát triển vật liệu xây dựng giai đoạn 2026 - 2030.
Tạo chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, ý thức, trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, cộng đồng doanh nghiệp và Nhân dân về vị trí, vai trò của ngành vật liệu xây dựng là ngành công nghiệp nền tảng, giữ vai trò then chốt trong xây dựng kết cấu hạ tầng và phát triển kinh tế - xã hội.
Nâng cao năng lực quản lý nhà nước, hiệu lực, hiệu quả điều hành cung - cầu, bình ổn thị trường vật liệu xây dựng; nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp gắn với phát triển vật liệu xanh, vật liệu mới, vật liệu tái chế; sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên khoáng sản làm vật liệu xây dựng, giảm phát thải; thúc đẩy đổi mới công nghệ, chuyển đổi số.
Kế hoạch yêu cầu trong giai đoạn 2026 - 2030, các bộ, ngành và địa phương tập trung triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp dưới để hoàn thành tốt các nội dung đã nêu tại Chỉ thị số 03-CT/TW; bảo đảm rõ việc, rõ cơ quan chủ trì, rõ sản phẩm, rõ tiến độ và rõ trách nhiệm.
Tổ chức nghiên cứu, phổ biến, quán triệt sâu sắc nội dung Chỉ thị số 03-CT/TW, làm rõ yêu cầu, quan điểm, mục tiêu và nhiệm vụ trọng tâm; đưa nội dung quản lý, phát triển vật liệu xây dựng vào chương trình, kế hoạch công tác hằng năm và giai đoạn 2026 - 2030 của cấp ủy, chính quyền các cấp; gắn trách nhiệm người đứng đầu với kết quả thực hiện.
Đẩy mạnh thông tin, truyền thông về phát triển vật liệu xây dựng tiết kiệm tài nguyên khoáng sản, tiết kiệm năng lượng, giảm phát thải, thân thiện với môi trường; ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; cung cấp thông tin chính thống, định hướng dư luận, hạn chế tác động tiêu cực đến thị trường vật liệu xây dựng.
Phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội; thiết lập cơ chế tiếp nhận và xử lý phản ánh, kiến nghị của người dân, doanh nghiệp liên quan lĩnh vực vật liệu xây dựng.
Xây dựng, trình cấp có thẩm quyền ban hành Luật Quản lý, phát triển vật liệu xây dựng; có cơ chế, chính sách khuyến khích thực chất, khả thi thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số gắn với kết quả nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của ngành. Có chế tài đủ mạnh đối với hành vi vi phạm pháp luật trong quản lý, khai thác, chế biến, sử dụng khoáng sản làm vật liệu xây dựng. Phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của các bộ, ngành, địa phương.
Rà soát sửa đổi, hoàn thiện các văn bản pháp luật, các cơ chế, chính sách phù hợp liên quan đến công tác quản lý, phát triển vật liệu xây dựng; rà soát, đánh giá tình hình thực hiện Chiến lược phát triển vật liệu xây dựng Việt Nam để đảm bảo phù hợp thực tiễn, phát triển bền vững, ứng dụng công nghệ hiện đại, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên, năng lượng, thích ứng với biến đổi khí hậu và bảo vệ môi trường.
Nghiên cứu xây dựng quy hoạch ngành đối với phát triển một số loại vật liệu xây dựng chủ yếu (xi măng, thép, gạch ốp lát, kính xây dựng) nhằm nâng cao hiệu lực quản lý và kiểm soát việc đầu tư dàn trải, dư thừa công suất sản xuất vật liệu xây dựng.
Xây dựng cơ chế đặc thù bảo đảm vật liệu san lấp cho các công trình hạ tầng trọng điểm.
Hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật vật liệu xây dựng, chú trọng các tiêu chuẩn đối với vật liệu xanh, vật liệu tái chế và đồng bộ định mức kinh tế - kỹ thuật bảo đảm phù hợp với thực tiễn và thông lệ quốc tế. Tăng cường năng lực kiểm định, kiểm tra, giám sát chất lượng; nâng cao trách nhiệm của các tổ chức chứng nhận, cơ quan kiểm định về vật liệu xây dựng. Công khai, minh bạch thông tin về năng lực sản xuất, tiêu thụ, tồn kho, giá bán các sản phẩm vật liệu xây dựng. Xử lý nghiêm hành vi đầu cơ, thao túng, gian lận thương mại gây bất ổn thị trường vật liệu xây dựng.
Khuyến khích phát triển các loại vật liệu Việt Nam có lợi thế, vật liệu mới, kỹ thuật cao, thông minh; vật liệu xanh, tiết kiệm năng lượng, thân thiện môi trường; vật liệu tái chế trên cơ sở đánh giá hiệu quả tổng thể, lâu dài (về kinh tế, môi trường, xã hội, an ninh, quốc phòng). Đa dạng hoá chủng loại, nâng cao chất lượng và giá trị gia tăng các sản phẩm, bảo đảm phù hợp với các loại hình công trình, điều kiện khí hậu, đặc thù vùng miền; từng bước thay thế sản phẩm nhập khẩu, đáp ứng tốt hơn nhu cầu thị trường trong nước và đẩy mạnh xuất khẩu các sản phẩm có lợi thế cạnh tranh.
Tăng cường điều tra cơ bản, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch khoáng sản làm vật liệu xây dựng và đẩy mạnh cấp phép thăm dò, khai thác theo quy hoạch nhằm bảo đảm nhu cầu nguyên liệu cho sản xuất.
Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu, thông tin toàn quốc liên thông, đồng bộ, thống nhất về vật liệu xây dựng và khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường (cát, đá, vật liệu san lấp,..).
Khuyến khích hình thành các khu vực chế biến khoáng sản tập trung, hiệu quả, giảm thất thoát, tiết kiệm tài nguyên. Kiểm soát chặt chẽ các cơ sở sản xuất vật liệu xây dựng có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường. Ứng dụng triệt để các giải pháp tiết kiệm năng lượng, sử dụng nhiên liệu thay thế, giảm phát thải. Loại bỏ các công nghệ sản xuất vật liệu xây dựng lạc hậu, gây ô nhiễm, thâm dụng tài nguyên...
Xây dựng cơ chế để thúc đẩy liên kết giữa doanh nghiệp với cơ sở nghiên cứu, đào tạo; khuyến khích các doanh nghiệp tự nghiên cứu, tiếp nhận chuyển giao công nghệ sản xuất vật liệu xây dựng mới, thân thiện môi trường, ứng dụng công nghệ cao, nâng cao tỷ lệ nội địa hoá trong các khâu sản xuất. Nghiên cứu, phát triển và ứng dụng các công nghệ tiên tiến, hiện đại trong sản xuất, nhất là công nghệ sản xuất ít phát thải, tiết kiệm năng lượng, tận dụng nguyên liệu tái chế, phế thải sau xử lý, sử dụng nhiệt thừa và năng lượng tái tạo.
Tiếp tục nghiên cứu, đánh giá việc sử dụng cát biển, cát nghiền và các loại vật liệu thay thế khác trong các dự án phát triển kết cấu hạ tầng, bảo đảm phù hợp tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và yêu cầu bảo vệ môi trường.
Ứng dụng rộng rãi công nghệ số trong kiểm soát chất lượng, quản lý sản xuất, logistics, giám sát, quan trắc môi trường trực tuyến, kết nối dữ liệu với cơ quan quản lý trong lĩnh vực vật liệu xây dựng.
Tăng cường liên kết giữa cơ sở đào tạo với doanh nghiệp nhằm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Phát triển đội ngũ cán bộ khoa học, kỹ thuật, quản lý có năng lực, trình độ, đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Thúc đẩy tiếp nhận, chuyển giao công nghệ tiên tiến, công nghệ xanh, tiết kiệm năng lượng, nâng cao trình độ quản trị và năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp trong nước. Khuyến khích, hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu, đầu tư ra nước ngoài, hợp tác phát triển các dự án, tham gia hội chợ, giới thiệu, quảng bá thương hiệu, sản phẩm để mở rộng thị trường xuất khẩu.
Theo dõi, dự báo và thông tin kịp thời diễn biến tình hình cung cầu, thị hiếu, đặc biệt là những thay đổi về yêu cầu, điều kiện nhập khẩu của các thị trường lớn trên thế giới. Quản lý hiệu quả hoạt động nhập khẩu vật liệu xây dựng, nhất là các sản phẩm trong nước đã sản xuất được; tăng cường năng lực phòng vệ thương mại.
Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Chí Dũng vừa ký Quyết định số 525/QĐ-TTg ngày 31/3/2026 phê duyệt Chương trình đào tạo, bồi dưỡng 10.000 giám đốc điều hành đến năm 2030 (Chương trình).

Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình đào tạo, bồi dưỡng 10.000 giám đốc điều hành đến năm 2030.
Mục tiêu của Chương trình nhằm hình thành và phát triển đội ngũ giám đốc điều hành của doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân có trình độ, năng lực quản trị hiện đại, tư duy chiến lược, có bản lĩnh, trí tuệ, năng động, sáng tạo, có tầm nhìn, đạo đức, văn hoá kinh doanh, thượng tôn pháp luật, tích cực thực hiện trách nhiệm xã hội; có năng lực chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, dẫn dắt doanh nghiệp phát triển bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng và cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, góp phần vào phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Phấn đấu đến năm 2030, đào tạo, bồi dưỡng 10.000 giám đốc điều hành và cán bộ quản lý của doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân trên toàn quốc, trong đó tối thiểu 25% học viên là nữ.
Đạt 100% học viên hoàn thành khóa đào tạo có khả năng ứng dụng kiến thức, kỹ năng quản trị hiện đại vào thực tiễn doanh nghiệp, có khả năng dẫn dắt chuyển đổi số và chuyển đổi xanh, quản trị rủi ro và tuân thủ pháp luật.
Đồng thời, hình thành và phát triển mạng lưới cựu học viên; tổ chức các Diễn đàn giám đốc điều hành; phát triển mạng lưới các cơ sở đào tạo giám đốc điều hành uy tín trong và ngoài nước.
Đối tượng thụ hưởng là các học viên đến từ doanh nghiệp, công ty thuộc khu vực kinh tế tư nhân: Chủ tịch Hội đồng thành viên, thành viên Hội đồng thành viên; Chủ tịch công ty; Chủ tịch Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng quản trị; thành viên hợp danh của công ty; Tổng giám đốc, phó tổng giám đốc; giám đốc, phó giám đốc; giám đốc chuyên môn, phó giám đốc chuyên môn; chủ doanh nghiệp tư nhân; Trưởng, phó các phòng, ban, bộ phận chuyên môn; trưởng, phó các tổ, đội sản xuất; cá nhân giữ chức danh quản lý khác theo quy định tại Điều lệ công ty…
Theo phê duyệt, Chương trình gồm các nội dung sau:
1. Học viên được ngân sách nhà nước hỗ trợ tham gia các khóa đào tạo theo hình thức trực tiếp, hình thức trực tuyến (qua công cụ trực tuyến có sẵn hoặc qua Hệ thống đào tạo trực tuyến E-learning) hoặc hình thức kết hợp (kết hợp giữa trực tiếp và trực tuyến) với nội dung đào tạo phù hợp với Nội dung cơ bản của khóa đào tạo 10.000 giám đốc điều hành quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Quyết định này; học viên được cấp chứng chỉ hoặc chứng nhận hoàn thành khóa đào tạo.
Các khóa đào tạo giám đốc điều hành bao gồm: Khóa đào tạo lãnh đạo cấp chiến lược; khóa đào tạo Giám đốc điều hành; khóa đào tạo Giám đốc chuyên môn; khóa đào tạo quản trị kinh doanh thực chiến (Mini MBA); khóa đào tạo lãnh đạo kế cận (Next Gen CEO).
Thời gian đào tạo: trong khoảng từ 30-90 ngày tùy từng khóa đào tạo.
2. Việc hỗ trợ đào tạo giám đốc điều hành thông qua Phiếu học bổng hoặc tổ chức khóa đào tạo hoặc qua Hệ thống đào tạo trực tuyến E-learning.
3. Học viên hoàn thành khóa đào tạo được cơ quan hỗ trợ lựa chọn tham gia các chương trình hỗ trợ sau: Chương trình phòng thí nghiệm lãnh đạo (CEO Lab); chương trình sẵn sàng CEO; chương trình trò chuyện doanh nhân (CEO Talk).
4. Thực hiện truyền thông sâu, rộng về Chương trình hướng tới hình thành phong trào phát triển lãnh đạo doanh nghiệp. Xây dựng chuyên mục giới thiệu về các khóa đào tạo, câu chuyện thành công, các điển hình tốt, doanh nhân tiêu biểu, doanh nghiệp học tập trên các phương tiện thông tin đại chúng, cơ quan báo chí, truyền hình, nền tảng số.
Tổ chức Diễn đàn giám đốc điều hành (CEO Forum) để chia sẻ, nhân rộng, tôn vinh, biểu dương các doanh nhân, doanh nghiệp tiêu biểu. Xây dựng, quản lý, vận hành mạng lưới cựu học viên (CEO Alumni) để chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm, kết nối kinh doanh, truyền cảm hứng, giúp doanh nghiệp đổi mới và phát triển.
Tổ chức tôn vinh, biểu dương các giám đốc điều hành, giảng viên, huấn luyện viên, cố vấn xuất sắc, các doanh nghiệp có nhiều đóng góp cho Chương trình nhằm lan toả tác động của Chương trình.
5. Chủ động hợp tác với các cơ quan phát triển, tổ chức quốc tế nhằm huy động nguồn lực hỗ trợ kỹ thuật, tài chính, chuyên gia để xây dựng và triển khai thực hiện Chương trình.
Đẩy mạnh liên kết với các viện, trường, cơ sở đào tạo quốc tế uy tín để thiết lập quan hệ hợp tác, chuyển giao công nghệ và chương trình đào tạo; tổ chức các khóa học liên kết, chương trình đào tạo ngắn hạn, cấp chứng chỉ đồng thương hiệu; huy động giảng viên, giám đốc điều hành, chuyên gia kinh tế, doanh nhân nước ngoài tham gia giảng dạy, huấn luyện và cố vấn trực tiếp cho học viên.
Đồng thời, đào tạo, tập huấn nâng cao năng lực cho đội ngũ giảng viên, chuyên gia tư vấn các chuyên đề về kinh doanh bền vững, tăng trưởng xanh, các xu thế kinh doanh mới nhất trên thế giới. Tổ chức các chương trình hội nghị, hội thảo, tham quan, giao lưu, học tập thực tế tại các doanh nghiệp nước ngoài để tăng cường trao đổi kinh nghiệm, học viên, giảng viên.
6. Việc giám sát, đánh giá thực hiện Chương trình được thực hiện xuyên suốt, bảo đảm khách quan, minh bạch và gắn với kết quả đầu ra. Kết hợp giữa giám sát nội bộ và đánh giá độc lập; giữa đánh giá định lượng và định tính.
Thực hiện đánh giá hằng năm, giữa kỳ và cuối kỳ việc triển khai Chương trình trên cơ sở thống nhất quy trình thu thập, quản lý và báo cáo dữ liệu.
Kết quả giám sát, đánh giá là căn cứ điều chỉnh nội dung, phương thức, nguồn lực triển khai; lựa chọn đơn vị cung cấp dịch vụ đào tạo và trách nhiệm của các cơ quan liên quan.
7. Kinh phí thực hiện Chương trình gồm:
Nguồn ngân sách nhà nước chi thường xuyên hỗ trợ thực hiện Chương trình: Ngân sách trung ương, ngân sách địa phương theo phân cấp ngân sách. Khuyến khích sử dụng nguồn kinh phí lồng ghép trong các chương trình, đề án khác đã được phê duyệt có mục tiêu phù hợp với Chương trình này và các nguồn hợp pháp khác để thực hiện nhiệm vụ.
Nguồn đóng góp, tài trợ của các học viên, doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân trong nước, ngoài nước và nguồn kinh phí hợp pháp khác ngoài ngân sách nhà nước.
Quyết định cũng đưa ra các nhiệm vụ cụ thể để các bộ, ngành, địa phương các cơ quan, tổ chức hiệp hội và các doanh nghiệp, học viên triển khai tích cực, hiệu quả Chương trình này.
Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính vừa ký Quyết định số 529/QĐ-TTg ngày 31/3/2026 điều động, bổ nhiệm ông Bùi Thế Duy, Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam giữ chức Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội.
Thời hạn bổ nhiệm là 05 năm./.