In bài viết

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 4/1/2026

(Chinhphu.vn) - Văn phòng Chính phủ vừa có Thông cáo báo chí chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 4/1/2026.

04/01/2026 20:09

Quy định chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài đối với Quân đội nhân dân Việt Nam

Chính phủ ban hành Nghị định 363/2025/NĐ-CP quy định chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài đối với Quân đội nhân dân Việt Nam.

Đối tượng được áp dụng chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 4/1/2026- Ảnh 1.

chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài đối với Quân đội nhân dân Việt Nam

Nghị định quy định đối tượng được áp dụng chính sách thu hút:

a- Đối tượng thu hút vào biên chế trong Quân đội nhân dân Việt Nam, gồm: Cán bộ, công chức, viên chức; cá nhân là người Việt Nam ở trong nước và ở nước ngoài không là cán bộ, công chức, viên chức;

b- Đối tượng thu hút để ký hợp đồng lao động thực hiện một số nhiệm vụ quan trọng, chiến lược của Quân đội nhân dân Việt Nam, gồm: Cá nhân là người Việt Nam ở trong nước và nước ngoài không là cán bộ, công chức, viên chức; người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài; người nước ngoài.

Đối tượng được áp dụng chính sách trọng dụng nhân tài:

a- Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công chức quốc phòng, công nhân và viên chức quốc phòng đang công tác trong Quân đội nhân dân Việt Nam;

b- Học viên đào tạo tại các trường Quân đội, trường ngoài Quân đội và ở nước ngoài tốt nghiệp hạng xuất sắc được phong quân hàm sĩ quan hoặc xếp lương và phong quân hàm quân nhân chuyên nghiệp.

Nghị định quy định cụ thể tiêu chí, tiêu chuẩn, điều kiện áp dụng chính sách đối với đối tượng thu hút vào biên chế trong Quân đội nhân dân Việt Nam; tiêu chí, tiêu chuẩn, điều kiện đối tượng thu hút để ký hợp đồng lao động thực hiện một số nhiệm vụ quan trọng, chiến lược của Quân đội nhân dân Việt Nam; tiêu chí, tiêu chuẩn, điều kiện áp dụng chính sách đối với đối tượng trọng dụng nhân tài.

Nhiều chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài

Nghị định quy định cụ thể các chính sách đối với đối tượng thu hút vào biên chế trong quân đội và đối tượng trọng dụng nhân tài bao gồm: Chính sách định mức vật chất hậu cần; chính sách về nhà ở; chính sách về tiền thưởng, thuế thu nhập cá nhân và bảo vệ; chính sách về phụ cấp tăng thêm đối với đối tượng thu hút vào biên chế trong Quân đội nhân dân Việt Nam; chính sách về phụ cấp tăng thêm đối với đối tượng trọng dụng nhân tài; chính sách tiền lương đối với chuyên gia, tổng công trình sư, nhà khoa học đầu ngành làm việc tại cơ sở công nghiệp quốc phòng nòng cốt và một số chính sách khác.

Đối với đối tượng thu hút để ký hợp đồng lao động thực hiện một số nhiệm vụ quan trọng, chiến lược của Quân đội, các chính sách được áp dụng gồm: Chính sách tiền lương, tiền thưởng; chính sách hỗ trợ nhà ở, thuế nhu nhập cá nhân và một số chính sách khác.

Phụ cấp tăng thêm đối với đối tượng thu hút vào biên chế Quân đội

Một trong những điểm đáng chú ý của Nghị định là chính sách về phụ cấp tăng thêm đối với đối tượng thu hút vào biên chế trong Quân đội nhân dân Việt Nam:

1. Đối với sinh viên tốt nghiệp hạng xuất sắc được hưởng phụ cấp hỗ trợ tăng thêm hằng tháng tối đa bằng 250% mức lương hiện hưởng trong thời gian 5 năm kể từ ngày được Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quyết định tuyển dụng.

2. Các đối tượng khác được hưởng phụ cấp tăng thêm hằng tháng bằng 350% mức lương hiện hưởng trong thời gian 5 năm kể từ ngày được Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quyết định tuyển dụng.

3. Trường hợp được hưởng phụ cấp hỗ trợ tăng thêm cao hơn. Cụ thể:

a. Đối với giáo sư, phó giáo sư khi chủ trì tham mưu, đề xuất các chủ trương, giải pháp hoặc có công trình nghiên cứu khoa học có tính đột phá thuộc các ngành, lĩnh vực chiến lược, trọng tâm cấp quốc gia hoặc quốc tế được áp dụng vào thực tiễn đạt hiệu quả cao; kiến trúc sư trưởng cấp bộ, kiến trúc sư trưởng dự án bằng 500% mức lương hiện hưởng.

b. Đối với người có trình độ tiến sĩ, bác sĩ chuyên khoa cấp II, dược sĩ chuyên khoa cấp II, chuyên gia, nhà quản lý, nhà quản trị doanh nghiệp khi chủ trì tham mưu, đề xuất các chủ trương, giải pháp hoặc có công trình nghiên cứu khoa học có tính đột phá thuộc các ngành, lĩnh vực chiến lược, trọng tâm cấp quốc gia hoặc quốc tế được áp dụng vào thực tiễn đạt hiệu quả cao bằng 450% mức lương hiện hưởng.

c. Đối với người có trình độ thạc sĩ, bác sĩ chuyên khoa cấp I, dược sĩ chuyên khoa cấp I khi chủ trì tham mưu, đề xuất các chủ trương, giải pháp hoặc có công trình nghiên cứu khoa học có tính đột phá thuộc các ngành, lĩnh vực chiến lược, trọng tâm cấp quốc gia hoặc quốc tế được áp dụng vào thực tiễn đạt hiệu quả cao bằng 400% mức lương hiện hưởng.

d. Trường hợp đặc biệt cần thu hút vào làm việc thuộc lĩnh vực trọng điểm của Quân đội mà không phải đối tượng tại các điểm a, b và c khoản 3 nêu trên được hưởng khoản phụ cấp tăng thêm bằng 400% mức lương hiện hưởng.

4. Ngoài mức phụ cấp tăng thêm tại khoản 1, 2 và 3 nêu trên, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng căn cứ kết quả đánh giá thực hiện nhiệm vụ hằng năm thông qua số lượng, chất lượng và tiến độ của sản phẩm/công việc để quyết định tăng thêm mức phụ cấp từ 50% đến 100% mức lương hiện hưởng đối với cá nhân có thành tích xuất sắc.

Phụ cấp tăng thêm đối với đối tượng trọng dụng nhân tài

Nghị định cũng nêu rõ các chính sách về phụ cấp tăng thêm đối với đối tượng trọng dụng nhân tài:

1. Học viên tốt nghiệp đào tạo tại các trường Quân đội, trường ngoài Quân đội và ở nước ngoài tốt nghiệp hạng xuất sắc được phong quân hàm sĩ quan hoặc xếp lương và phong quân hàm quân nhân chuyên nghiệp, hằng tháng được hưởng phụ cấp tăng thêm tối đa bằng 250% mức lương hiện hưởng (bao gồm: mức lương theo cấp bậc quân hàm, chức vụ, chức danh, ngạch, bậc và các khoản phụ cấp lương theo quy định của pháp luật) trong thời hạn 05 năm kể từ ngày có quyết định của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng áp dụng chính sách trọng dụng nhân tài.

2. Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công chức quốc phòng, công nhân và viên chức quốc phòng kể từ ngày có quyết định của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng về việc áp dụng chính sách trọng dụng nhân tài, hằng tháng được hưởng phụ cấp tăng thêm bằng 400% mức lương hiện hưởng (bao gồm: mức lương theo cấp bậc quân hàm, chức vụ, chức danh, ngạch, bậc và các khoản phụ cấp lương theo quy định của pháp luật).

3. Trường hợp được hưởng phụ cấp tăng thêm cao hơn, cụ thể:

a) Đối với giáo sư, phó giáo sư khi chủ trì tham mưu, đề xuất các chủ trương, giải pháp hoặc có công trình nghiên cứu khoa học có tính đột phá thuộc các ngành, lĩnh vực chiến lược, trọng tâm cấp quốc gia hoặc quốc tế được áp dụng vào thực tiễn đạt hiệu quả cao; Kiến trúc sư trưởng cấp bộ, Kiến trúc sư trưởng dự án bằng 550% mức lương hiện hưởng;

b) Đối với người có trình độ tiến sĩ, bác sĩ chuyên khoa cấp II, dược sĩ chuyên khoa cấp II, chuyên gia, nhà quản lý, nhà quản trị doanh nghiệp khi chủ trì tham mưu, đề xuất các chủ trương, giải pháp hoặc có công trình nghiên cứu khoa học có tính đột phá thuộc các ngành, lĩnh vực chiến lược, trọng tâm cấp quốc gia hoặc quốc tế được áp dụng vào thực tiễn đạt hiệu quả cao bằng 500% mức lương hiện hưởng;

c) Đối với người có trình độ thạc sĩ, bác sĩ chuyên khoa cấp I, dược sĩ chuyên khoa cấp I khi chủ trì tham mưu, đề xuất các chủ trương, giải pháp hoặc có công trình nghiên cứu khoa học có tính đột phá thuộc các ngành, lĩnh vực chiến lược, trọng tâm cấp quốc gia hoặc quốc tế được áp dụng vào thực tiễn đạt hiệu quả cao bằng 450% mức lương hiện hưởng;

d) Trường hợp đặc biệt đang làm việc thuộc lĩnh vực trọng điểm của Quân đội mà không phải đối tượng tại các điểm a, b và c khoản này được hưởng khoản phụ cấp tăng thêm bằng 450% mức lương hiện hưởng.

4. Ngoài mức phụ cấp tăng thêm tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng căn cứ kết quả đánh giá thực hiện nhiệm vụ hằng năm thông qua số lượng, chất lượng và tiến độ của sản phẩm/công việc để quyết định tăng thêm mức phụ cấp từ 50% đến 100% mức lương hiện hưởng đối với cá nhân có thành tích xuất sắc.

Kết luận của Thường trực Chính phủ tại cuộc họp về tình hình triển khai các tuyến đường sắt và các quy trình, quy định, quy chuẩn liên quan đến các dự án đường sắt

Văn phòng Chính phủ vừa có Thông báo số 03/TB-VPCP ngày 04/01/2026 kết luận của Thường trực Chính phủ tại cuộc họp về tình hình triển khai các tuyến đường sắt và các quy trình, quy định, quy chuẩn liên quan đến các dự án đường sắt.

Thông báo kết luận nêu rõ, thời gian qua, Bộ Xây dựng, Bộ Tài chính, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp… và các bộ, ngành, địa phương đã nỗ lực, tích cực triển khai các nhiệm vụ theo chức năng, nhiệm vụ, trong đó tập trung hoàn thiện về thể chế, chính sách, như: Luật Đường sắt, Nghị quyết của Quốc hội về đường sắt đô thị của Thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh; chủ trương đầu tư tuyến đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng, đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc – Nam; đã ban hành các Nghị định quy định chi tiết; đã khởi công dự án thành phần 1 của Dự án đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng, 03 tuyến đường sắt đô thị tại Thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, phê duyệt Đề án đào tạo, phát triển nguồn nhân lực đường sắt Việt Nam; ban hành tiêu chuẩn chung đối với dự án đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam; thực hiện Phiên họp thứ nhất Ủy ban liên hợp Hợp tác đường sắt Việt - Trung; Đề án phát triển công nghiệp đường sắt…

Bên cạnh kết quả đạt được, Bộ Xây dựng và các cơ quan liên quan còn lúng túng trong việc triển khai Dự án đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc – Nam, nhất là nghiên cứu, đánh giá lựa chọn phương thức đầu tư (đánh giá đầy đủ, kỹ lưỡng tác động, rủi ro, khách quan, khoa học, bảo đảm lợi ích hài hòa, rủi ro chia sẻ theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ).

Hoàn thành thẩm định hồ sơ Báo cáo nghiên cứu khả thi dự án thành phần 2 đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng trong tháng 7/2026

Về Dự án đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng, Thường trực Chính phủ yêu cầu Bộ Xây dựng đẩy nhanh tiến độ lập Báo cáo nghiên cứu khả thi dự án thành phần 2 và ký Hiệp định nối ray, xây dựng cầu đường sắt qua biên giới, hoàn thành trong tháng 3 năm 2026; hoàn thành thẩm định hồ sơ Báo cáo nghiên cứu khả thi dự án thành phần 2 giữa hai nước trong tháng 7 năm 2026 để khởi công Dự án như báo cáo của Bộ trưởng Bộ Xây dựng.

Các bộ, ngành, địa phương liên quan khẩn trương cử đại diện tham gia Hội đồng thẩm định Dự án thành phần 2 theo đề nghị Bộ Xây dựng để sớm thành lập Hội đồng thẩm định theo quy định.

Bộ Xây dựng chịu trách nhiệm quản lý chặt chẽ chi phí đầu tư của Dự án; theo chức năng, nhiệm vụ được giao khẩn trương ban hành định mức, đơn giá cho Dự án trên cơ sở tiêu chuẩn áp dụng cho Dự án; chịu trách nhiệm xác định tuyến chính xác, đúng mốc, trích lục địa chính,… để lập phương án đền bù đúng quy định, tránh thất thoát, lãng phí.

Bộ Xây dựng chủ trì, phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo, Tổng Công ty đường sắt Việt Nam triển khai hiệu quả Đề án đào tạo, phát triển nguồn nhân lực đường sắt Việt Nam đến năm 2035, định hướng đến năm 2045; có lộ trình, kế hoạch cụ thể để đào tạo kịp thời nguồn nhân lực phục vụ xây dựng, quản lý, vận hành khai thác các tuyến đường sắt, nhất là tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng; báo cáo Thủ tướng Chính phủ trước ngày 15/01/2026.

Các địa phương và Tập đoàn Điện lực Việt Nam chủ động, tích cực triển khai công tác giải phòng mặt bằng (GPMB) và di dời công trình điện có điện áp từ 110 kV trở lên theo các cơ chế đã được Quốc hội chấp thuận.

Lựa chọn phương thức đầu tư tối ưu nhất cho dự án đường sắt tốc độ cao Bắc-Nam

Đối với Dự án đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam: Thường trực Chính phủ yêu cầu Bộ Xây dựng chỉ đạo Ban Quản lý dự án Đường sắt chậm nhất trong tháng 01 năm 2026 phải hoàn thành lựa chọn Tư vấn quốc tế; đồng thời khẩn trương lựa chọn Tư vấn quốc tế để lập Báo cáo nghiên cứu khả thi Dự án; báo cáo Thủ tướng Chính phủ trước ngày 15/01/2026.

Bộ Xây dựng chịu trách nhiệm xác định tuyến chính xác, đúng mốc, trích lục địa chính… để lập phương án đền bù đúng quy định, tránh thất thoát, lãng phí.

Bộ Xây dựng chủ trì, phối hợp Bộ Khoa học và Công nghệ, Ngoại giao, và các bộ, cơ quan liên quan, hỗ trợ của chuyên gia, tư vấn… rà soát các tiêu chuẩn, quy chuẩn của Việt Nam, quốc tế và kinh nghiệm quốc tế, điều kiện của Việt Nam để lựa chọn một công nghệ (trong số các công nghệ chạy trên ray, chạy bằng từ trường, chạy trong ống từ trường) phù hợp nhất cho Dự án.

Bộ Xây dựng chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan xây dựng tiêu chí, quy trình, đánh giá lựa chọn phương thức đầu tư hiệu quả, tối ưu, có lợi cho quốc gia và nhân dân, tránh tham nhũng, tiêu cực; trường hợp cần thiết bổ sung các cơ chế, chính sách đặc thù phù hợp với từng phương thức đầu tư (đầu tư công, đầu tư theo phương thức PPP, đầu tư kinh doanh) cần thực hiện theo đúng quy trình, quy định, đánh giá kỹ lưỡng tác động… bảo đảm khoa học, công khai, minh bạch, hài hòa lợi ích và chia sẻ rủi ro… theo các chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ; báo cáo Thường trực Chính phủ trước ngày 10/01/2026.

Các Bộ, ngành, địa phương liên quan phối hợp chặt chẽ với Bộ Xây dựng, chịu trách nhiệm về các đánh giá tác động của các chính sách thuộc chức năng của mình để bảo đảm tính khả thi, minh bạch, chống tham nhũng tiêu cực.

Các địa phương khẩn trương rà soát, báo cáo chính xác nhu cầu vốn về Bộ Xây dựng và Bộ Tài chính để kịp thời bố trí, điều phối, bảo đảm không để chậm trễ GPMB vì thiếu vốn.

UBND TP Hà Nội và TPHCM chủ động tổ chức triển khai các tuyến đường sắt đô thị bảo đảm tiến độ, chất lượng

Các dự án đường sắt đô thị tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh: Thường trực Chính phủ yêu cầu UBND thành phố Hà Nội và UBND Thành phố Hồ Chí Minh chủ động tổ chức triển khai các tuyến đường sắt đô thị tại hai thành phố theo thẩm quyền bảo đảm tiến độ, chất lượng; rà soát báo cáo Thành ủy về việc áp dụng các tiêu chuẩn, quy chuẩn về đường sắt để bảo đảm tính liên thông, đồng bộ, tính phổ quát, hiện đại và từng bước phát triển công nghiệp đường sắt trong nước; nghiên cứu xem xét ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về đường sắt đô thị.

UBND Thành phố Hồ Chí Minh đẩy nhanh tiến độ hoàn thành các thủ tục theo quy định để khởi công tuyến đường sắt kết nối với Cảng hàng không quốc tế Long Thành (tuyến Bến Thành - Tham Lương, tuyến Bến Thành - Thủ Thiêm, tuyến Thủ Thiêm - Long Thành,…)./.