Chính phủ ban hành Nghị định số 63/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Bảo vệ bí mật nhà nước.

Nghị định số 63/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định rõ việc giao, nhận tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước.
Nghị định này quy định biện pháp để hướng dẫn thi hành Luật về thẩm quyền ký văn bản bí mật nhà nước, văn bản điện tử bí mật nhà nước; việc đăng ký, quản lý văn bản điện tử bí mật nhà nước; thu hồi văn bản điện tử bí mật nhà nước; gửi, nhận văn bản điện tử bí mật nhà nước; bàn giao tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước mang ra khỏi nơi lưu giữ phục vụ công tác ở nước ngoài; các loại mẫu dấu, mẫu giấy tờ sử dụng trong công tác bảo vệ bí mật nhà nước.
Trong đó, việc vận chuyển, giao, nhận tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước được quy định cụ thể. Việc vận chuyển tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước (trừ vận chuyển qua dịch vụ bưu chính) được quy định như sau:
- Tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước được chứa, đựng trong thiết bị và bảo quản bằng vật liệu phù hợp, bảo đảm không bị hư hỏng trong quá trình vận chuyển;
- Tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước được vận chuyển bằng phương tiện, thiết bị bảo đảm an toàn do người đứng đầu cơ quan, tổ chức quản lý bí mật nhà nước quy định;
- Người được giao nhiệm vụ vận chuyển có trách nhiệm bảo vệ tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước trong suốt quá trình vận chuyển.
Việc giao tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước đi được quy định như sau:
- Trước khi giao tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước đi phải đăng ký vào "Sổ đăng ký bí mật nhà nước đi" hoặc bằng Hệ thống quản lý văn bản điện tử bí mật nhà nước. Tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước đi độ "Tuyệt mật" không được ghi trích yếu;
- Tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước đi phải làm bì hoặc đóng gói riêng. Giấy làm bì phải dùng loại giấy dai, bền, khó thấm nước, không nhìn thấu qua được; hồ dán phải dính, khó bóc; ngoài bì đóng dấu chữ "A" hoặc "B" hoặc "C" tương ứng với độ mật cao nhất của tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước bên trong.
Trường hợp tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước đi gửi đích danh người có trách nhiệm giải quyết phải đóng dấu "Chỉ người có tên mới được bóc bì".
Việc nhận tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước đến được quy định như sau:
- Sau khi nhận tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước đến phải đăng ký vào "Sổ đăng ký bí mật nhà nước đến" hoặc bằng Hệ thống quản lý văn bản điện tử bí mật nhà nước. Tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước đến độ "Tuyệt mật" không được ghi trích yếu và chỉ được mở bì khi người đứng đầu hoặc cấp phó của người đứng đầu của cơ quan, tổ chức tiếp nhận bí mật nhà nước cho phép;
- Trường hợp tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước đến mà phong bì có dấu "Chỉ người có tên mới được bóc bì", người nhận vào sổ theo ký hiệu ngoài bì, không được mở bì và phải chuyển đến người có tên trên phong bì. Nếu người có tên trên phong bì đi vắng và trên phong bì có thêm dấu "Hỏa tốc" thì chuyển đến người đứng đầu hoặc cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức giải quyết;
- Trường hợp tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước được gửi đến mà không thực hiện đúng quy định về bảo vệ bí mật nhà nước thì chuyển đến người đứng đầu hoặc cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức nhận tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước hoặc người có tên trên phong bì (đối với trường hợp gửi đích danh) giải quyết, đồng thời phải thông báo nơi gửi biết để có biện pháp khắc phục;
- Trường hợp phát hiện tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước gửi đến có dấu hiệu bóc, mở bì hoặc bị tráo đổi, mất, hư hỏng thì bên giao và bên nhận phải lập biên bản ghi nhận sự việc, báo cáo người có thẩm quyền của bên giao, bên nhận biết; đồng thời, thông báo cho bên gửi về việc tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước gửi đến có dấu hiệu bóc, mở bì hoặc bị tráo đổi, mất, hư hỏng để phối hợp giải quyết.
Việc giao, nhận tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước (trừ trường hợp gửi, nhận văn bản điện tử bí mật nhà nước) được quy định như sau:
- Trường hợp giao, nhận tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước đi được thực hiện tại "Sổ đăng ký bí mật nhà nước đi" hoặc "Sổ chuyển giao bí mật nhà nước";
- Trường hợp giao, nhận tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước đến được thực hiện tại "Sổ đăng ký bí mật nhà nước đến" hoặc "Sổ chuyển giao bí mật nhà nước";
- Trường hợp giao, nhận tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước với số lượng lớn được thực hiện bằng Biên bản giao nhận. Nội dung Biên bản giao nhận phải thể hiện thông tin bên giao, bên nhận; số lượng tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước phân loại theo từng mức độ mật; tình trạng tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước tại thời điểm giao, nhận; danh sách tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước kèm theo Biên bản giao nhận (số, ký hiệu; ngày, tháng năm ban hành; cơ quan, tổ chức ban hành; trích yếu, độ mật);
- Bên giao và bên nhận tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước phải đối chiếu về số lượng, kiểm tra việc đóng bì, đóng gói tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước. Trường hợp phát hiện thiếu số lượng, sai sót trong đóng bì, đóng gói thì bên nhận yêu cầu bên giao gửi bổ sung, xử lý trước khi vào sổ theo dõi và ký nhận.
Việc gửi, nhận văn bản điện tử bí mật nhà nước được quy định như sau:
- Văn bản điện tử bí mật nhà nước phải được cấp số, thời gian ban hành, tạo dấu chỉ độ mật màu đỏ trước khi gửi bằng chức năng của Hệ thống quản lý văn bản điện tử bí mật nhà nước (trừ văn bản điện tử bí mật nhà nước được số hóa);
- Văn bản điện tử bí mật nhà nước (trừ văn bản điện tử bí mật nhà nước được số hóa) phải được ký bằng chữ ký số của người có thẩm quyền và ký số của cơ quan, tổ chức;
- Máy tính dùng để gửi, nhận văn bản điện tử bí mật nhà nước không được kết nối với mạng máy tính (trừ mạng LAN độc lập), mạng Internet, mạng viễn thông, trừ trường hợp thực hiện theo quy định pháp luật về cơ yếu hoặc quy định khác của pháp luật có liên quan;
- Bên gửi có trách nhiệm kiểm tra, theo dõi, bảo đảm tính toàn vẹn của văn bản điện tử bí mật nhà nước và được gửi đến đúng bên nhận;
- Khi nhận văn bản điện tử bí mật nhà nước, bên nhận phải kiểm tra tính toàn vẹn của văn bản, số lượng văn bản, số trang của mỗi văn bản, tài liệu đính kèm (nếu có), đóng dấu văn bản điện tử bí mật nhà nước đến và đăng ký bằng Hệ thống quản lý văn bản điện tử bí mật nhà nước.
Trường hợp phát hiện sai sót, không bảo đảm yêu cầu quy định, bên nhận phải kịp thời phản hồi thông qua Hệ thống quản lý văn bản điện tử bí mật nhà nước để bên gửi biết, xử lý theo quy định hoặc báo cáo người có thẩm quyền của cơ quan, tổ chức bên nhận giải quyết.
Quy định về mang tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước ra khỏi nơi lưu giữ
Theo quy định, việc mang tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước ra khỏi nơi lưu giữ phục vụ công tác ở trong nước được quy định như sau:
- Tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước mang ra khỏi nơi lưu giữ phải phục vụ việc xử lý, giải quyết nhiệm vụ được giao;
- Khi kết thúc nhiệm vụ, người mang tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước ra khỏi nơi lưu giữ phục vụ công tác ở trong nước phải hoàn trả tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước vào nơi lưu giữ.
Việc mang tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước ra khỏi nơi lưu giữ phục vụ công tác nước ngoài được quy định như sau:
- Người mang tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước ra khỏi nơi lưu giữ phục vụ công tác nước ngoài phải có văn bản xin phép người có thẩm quyền được quy định tại khoản 2 Điều 14 Luật Bảo vệ bí mật nhà nước;
- Văn bản xin phép mang tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước ra khỏi nơi lưu giữ phục vụ công tác nước ngoài phải nêu rõ họ, tên, chức vụ, đơn vị công tác; tên loại, trích yếu nội dung, độ mật của tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước; mục đích sử dụng; thời gian, địa điểm công tác; biện pháp bảo vệ bí mật nhà nước;
- Khi kết thúc nhiệm vụ, người mang tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước ra khỏi nơi lưu giữ phục vụ công tác nước ngoài phải báo cáo người đứng đầu hoặc cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức trực tiếp quản lý tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước đó về việc quản lý, sử dụng bí mật nhà nước và bàn giao lại tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước cho cơ quan, tổ chức trực tiếp quản lý, trừ trường hợp người mang tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước ra khỏi nơi lưu giữ đồng thời là người trực tiếp quản lý bí mật nhà nước.
Nghị định nêu rõ tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước mang ra khỏi nơi lưu giữ phải chứa, đựng, vận chuyển bằng phương tiện, thiết bị bảo đảm an toàn do người đứng đầu cơ quan, tổ chức trực tiếp quản lý bí mật nhà nước quy định và phải bảo vệ trong thời gian mang ra khỏi nơi lưu giữ, phòng ngừa lộ, mất bí mật nhà nước.
Chính phủ ban hành Nghị định số 64/2026/NĐ-CP ngày 28/02/2026 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Phục hồi, phá sản về thi hành quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản.

Quy định về thủ tục thi hành quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản.
Nghị định này quy định chi tiết Điều 76, 77 và một số biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Phục hồi, phá sản về thi hành quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản, bao gồm: thủ tục thi hành quyết định tuyên bố phá sản; định giá, bán tài sản và áp dụng biện pháp cưỡng chế; giám sát hoạt động của quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản.
Về thủ tục thi hành quyết định tuyên bố phá sản, Nghị định quy định Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra một quyết định thi hành đối với mỗi quyết định tuyên bố phá sản.
Thủ tục ra quyết định thi hành quyết định tuyên bố phá sản thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.
Nghị định quy định văn bản yêu cầu Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản quy định tại điểm a khoản 3 Điều 76 của Luật Phục hồi, phá sản có các nội dung chủ yếu sau đây:
a) Số, ngày, tháng, năm, tên cơ quan ban hành văn bản;
b) Tên của Chấp hành viên yêu cầu;
c) Tên của Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản thi hành quyết định tuyên bố phá sản;
d) Tên, địa chỉ, trụ sở chính, mã số doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá sản;
đ) Nội dung yêu cầu.
Trường hợp Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản từ chối tổ chức thi hành quyết định tuyên bố phá sản theo quy định tại khoản 2 Điều 11 của Luật Phục hồi, phá sản thì trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản của Chấp hành viên, Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản phải có văn bản từ chối gửi Tòa án nhân dân giải quyết vụ việc và cơ quan thi hành án dân sự, nêu rõ lý do.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản của Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản, Thẩm phán ra quyết định thay đổi hoặc có văn bản từ chối việc thay đổi Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản nhưng phải nêu rõ lý do và thông báo, gửi quyết định, văn bản đó cho cơ quan thi hành án dân sự. Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản phải thực hiện quyết định thay đổi hoặc văn bản từ chối việc thay đổi của Thẩm phán.
Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản ban hành văn bản, quyết định về thi hành quyết định tuyên bố phá sản phải thông báo văn bản, quyết định đó cho Tòa án, Viện kiểm sát, cơ quan thi hành án dân sự và người tham gia thủ tục phá sản để thực hiện quyền, nghĩa vụ theo nội dung của văn bản, quyết định đó.
Thời hạn thông báo, gửi văn bản, quyết định là 03 ngày làm việc kể từ ngày ra văn bản, quyết định. Thủ tục thông báo, gửi thực hiện theo quy định của Luật Phục hồi, phá sản và pháp luật về thi hành án dân sự.
Việc thông báo, gửi các văn bản, quyết định về thi hành quyết định tuyên bố phá sản do cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên ban hành thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.
Trong thời hạn 09 ngày kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu của Chấp hành viên thì Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản thực hiện việc xác minh điều kiện thi hành quyết định tuyên bố phá sản của doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá sản; của người mắc nợ, người có tài sản bảo đảm theo quyết định tuyên bố phá sản của người khác có liên quan.
Người mắc nợ, người có tài sản bảo đảm theo quyết định tuyên bố phá sản có trách nhiệm kê khai trung thực, cung cấp đầy đủ thông tin về tài sản, thu nhập, điều kiện thi hành quyết định tuyên bố phá sản và phải chịu trách nhiệm về việc kê khai của mình.
Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản có trách nhiệm thực hiện việc xác minh điều kiện thi hành quyết định tuyên bố phá sản theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự, trường hợp phát sinh chi phí thì phải thanh toán theo quy định và được xác định là chi phí phá sản.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được quyết định thi hành quyết định tuyên bố phá sản, Chấp hành viên có văn bản đề nghị Tòa án chuyển số tiền còn lại mà Tòa án đã thu được từ tài khoản ngân hàng do Tòa án chỉ định vào tài khoản ngân hàng do cơ quan thi hành án dân sự chỉ định để xử lý theo quy định.
Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị, Tòa án có trách nhiệm chuyển số tiền thu được cho cơ quan thi hành án dân sự.
Trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá sản đã trả trước tiền thuê theo quy định tại khoản 2 Điều 79 của Luật Phục hồi, phá sản thì trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu của Chấp hành viên về việc tổ chức thi hành quyết định tuyên bố phá sản, Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản có văn bản đề nghị và ấn định thời hạn để chủ sở hữu tài sản cho doanh nghiệp, hợp tác xã thuê chuyển tiền theo quy định.
Người mua, người nhận tài sản; chủ sở hữu tài sản cho doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá sản thuê và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác phải chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng do cơ quan thi hành án dân sự chỉ định và thông báo cho Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản biết.
Chi phí chuyển tiền khi Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản, Tòa án, cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên gửi các khoản tiền thu được vào tài khoản ngân hàng do cơ quan thi hành án dân sự chỉ định được thanh toán từ giá trị tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản tại thời điểm thực hiện việc chuyển tiền.
Cơ quan thi hành án dân sự thực hiện việc ủy thác thi hành án, ủy thác xử lý tài sản để thi hành quyết định tuyên bố phá sản theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.
Trường hợp ủy thác thi hành toàn bộ quyết định tuyên bố phá sản cho duy nhất 01 cơ quan thi hành án dân sự thì cơ quan thi hành án dân sự nhận ủy thác mở một tài khoản tại ngân hàng để gửi các khoản tiền thu hồi được của doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá sản và thực hiện việc thanh toán tiền theo quy định.
Trường hợp cơ quan ủy thác đã mở tài khoản thì sau khi có thông báo nhận ủy thác, số tiền trong tài khoản (nếu có) được chuyển đến tài khoản mới của cơ quan nhận ủy thác để xử lý theo quy định; tài khoản mà cơ quan ủy thác đã mở được hủy bỏ.
Trường hợp ủy thác thi hành án đối với khoản phải thi hành cụ thể có tài sản bảo đảm theo quyết định tuyên bố phá sản cho cơ quan thi hành án dân sự nơi có tài sản hoặc ủy thác xử lý tài sản để thi hành quyết định tuyên bố phá sản thì trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày thu được tiền, cơ quan thi hành án dân sự nhận ủy thác phải chuyển số tiền thu được vào tài khoản của cơ quan thi hành án dân sự đã ủy thác và thông báo cho cơ quan đã ủy thác biết để thực hiện phương án phân chia tài sản theo quyết định tuyên bố phá sản.
Trách nhiệm của cơ quan thi hành án dân sự nhận ủy thác hoàn thành sau khi kết thúc việc thi hành quyết định tuyên bố phá sản đối với nội dung được ủy thác và chuyển tiền cho cơ quan đã ủy thác.
Cơ quan thi hành án dân sự tiếp nhận văn bản đề nghị trả lại tài sản và các giấy tờ chứng minh quyền sở hữu, hợp đồng cho thuê, cho mượn của chủ sở hữu tài sản cho doanh nghiệp, hợp tác xã thuê hoặc mượn theo quy định tại khoản 1 Điều 79 của Luật Phục hồi, phá sản. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị và các giấy tờ theo quy định, Chấp hành viên thông báo và chuyển cho Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản.
Trường hợp chủ sở hữu tài sản có văn bản đề nghị trước khi có quyết định thi hành quyết định tuyên bố phá sản thì việc yêu cầu trả lại tài sản cho thuê hoặc cho mượn được đưa vào văn bản yêu cầu Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản quy định tại Nghị định này.
Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được văn bản, giấy tờ quy định hoặc kể từ ngày người cho thuê đã thanh toán số tiền thuê tương ứng với thời gian thuê còn lại thì Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản thực hiện việc trả lại tài sản cho chủ sở hữu và báo cáo bằng văn bản cho Chấp hành viên biết.
Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày cơ quan thi hành án dân sự nhận được tiền hoặc kể từ ngày giao tài sản cho người mua, người nhận tài sản, Chấp hành viên thực hiện thanh toán tiền theo quyết định tuyên bố phá sản. Thủ tục thanh toán thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.
Các chi phí phát sinh trong quá trình thi hành quyết định tuyên bố phá sản là chi phí phá sản được thanh toán theo quy định của Luật Phục hồi, phá sản. Nội dung chi, mức chi, thủ tục tạm ứng, hoàn tạm ứng, lập dự toán, chấp hành và quyết toán chi phí phát sinh trong quá trình thi hành quyết định tuyên bố phá sản thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.
Người được thi hành án trong quyết định tuyên bố phá sản phải nộp phí thi hành án theo quy định của pháp luật về phí thi hành án.
Đối với khoản tiền, tài sản chi trả cho người được thi hành án do Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản thu được từ việc bán tài sản còn lại của doanh nghiệp, hợp tác xã mà Chấp hành viên không ra quyết định cưỡng chế thì cơ quan thi hành án dân sự không thu phí thi hành án.
Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/3/2026.
Trường hợp cơ quan thi hành án dân sự đang tổ chức thi hành quyết định tuyên bố phá sản trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành mà chưa thi hành xong thì việc tổ chức thi hành được thực hiện theo quy định của Luật Phá sản số 51/2014/QH13, Nghị định số 22/2015/NĐ-CP ngày 16/12/2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phá sản về Quản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 112/2025/NĐ-CP, Thông tư liên tịch số 07/2018/TTLT-BTP-VKSNDTC-TANDTC ngày 12/6/2018 của Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định việc phối hợp trong thi hành quyết định của Tòa án giải quyết phá sản.
Chính phủ ban hành Nghị quyết số 31/NQ-CP ngày 03/3/2026 về việc công bố các Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Giá số 16/2023/QH15 tiếp tục có hiệu lực.

Chính phủ công bố các Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Giá số 16/2023/QH15 tiếp tục có hiệu lực.
Cụ thể, Chính phủ công bố 3 Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giá số 16/2023/QH15 tiếp tục có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2026 cho đến khi có văn bản sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ, bao gồm:
1. Nghị định số 78/2024/NĐ-CP ngày 01/7/2024 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Giá về thẩm định giá;
2. Nghị định số 85/2024/NĐ-CP ngày 10/7/2024 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Giá;
3. Nghị định số 87/2024/NĐ-CP ngày 12/7/2024 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong quản lý giá.
Nghị quyết nêu rõ: Việc áp dụng Luật Giá số 16/2023/QH15 (được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 44/2024/QH15, Luật số 61/2024/QH15, Luật số 95/2025/QH15 và Luật số 140/2025/QH15) và 3 Nghị định nêu trên được thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 58 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 (trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn).
Văn phòng Chính phủ có Thông báo số 95/TB-VPCP ngày 04/3/2026 kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà tại buổi làm việc với lãnh đạo tỉnh Hà Tĩnh.

Bí thư Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà làm việc với lãnh đạo tỉnh Hà Tĩnh - Ảnh: VGP/Thu Giang.
Thay mặt Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ biểu dương và đánh giá cao cấp ủy, chính quyền và Nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã đoàn kết, quyết tâm, nỗ lực đạt được kết quả tích cực, toàn diện trong phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, xây dựng Đảng trong thời gian qua.
Tuy nhiên, Tỉnh cần tiếp tục đổi mới tư duy, nhận thức và quyết liệt hành động, tiếp tục khắc phục một số tồn tại, hạn chế như: Quy mô nền kinh tế còn nhỏ, năng suất lao động chưa cao; cơ cấu kinh tế và mô hình tăng trưởng chưa thực sự hợp lý, cân đối, hài hòa; năng lực cạnh tranh của Tỉnh còn hạn chế, chưa phát huy được các tiềm năng, thế mạnh nổi trội của địa phương; nguồn nhân lực chưa đáp ứng nhu cầu phát triển, đặc biệt là nhân lực chất lượng cao trong các ngành kỹ thuật; chưa thực sự chuyển đổi tư duy từ quản lý hành chính sang quản trị địa phương hiện đại; tổ chức bộ máy và nhân lực tại một số xã chưa được kiện toàn kịp thời; phân cấp, ủy quyền nội bộ chưa mạnh dạn; kết quả giải quyết thủ tục hành chính có nơi chưa đảm bảo chất lượng, hiệu quả ...
Để tiếp tục phát huy truyền thống lịch sử, cách mạng, bản lĩnh, kiên cường và trở thành điển hình về vùng đất của sự kiến tạo và phát triển, hoàn thành mục tiêu tăng trưởng từ 10% trở lên trong giai đoạn 2026 - 2030, Tỉnh cần lưu ý tập trung triển khai một số nhiệm vụ trọng tâm sau:
Tập trung chỉ đạo quán triệt, xây dựng Chương trình hành động để cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV, 09 Nghị quyết chiến lược của Bộ Chính trị và Nghị quyết Đại hội đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh lần thứ XX bảo đảm tinh thần "6 rõ", trong đó lưu ý xác định mô hình tăng trưởng kinh tế mới, các động lực mới và cơ cấu lại nền kinh tế để tạo chuyển biến mạnh mẽ, thực chất trong phát triển kinh tế - xã hội; gắn phát triển công nghiệp với khoa học - công nghệ, chuyển đổi số, phát triển xanh với hệ sinh thái hoàn chỉnh (logistics, công nghiệp hỗ trợ ...) để đạt được yêu cầu phát triển công nghiệp xanh, công nghiệp tuần hoàn; thúc đẩy đầu tư công và đẩy mạnh đầu tư tư nhân; quyết tâm khắc phục các tồn tại, hạn chế, phấn đấu hoàn thành và vượt toàn bộ các chỉ tiêu đã đề ra.
Tiếp tục triển khai thực hiện tốt 03 đột phá chiến lược phù hợp tình hình thực tiễn và năng lực thực thi của địa phương; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính gắn với tăng cường phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền và phân bổ nguồn lực phù hợp; nâng cao chất lượng giáo dục – đào tạo, đặc biệt là giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp; tích cực chuyển đổi nhận thức, tư duy từ quản lý hành chính sang quản trị địa phương hiện đại.
Nghiêm túc, khẩn trương thực hiện các nhiệm vụ được giao tại Công điện số 14/CĐ-TTg ngày 15/02/2026 của Thủ tướng Chính phủ về việc tập trung giải quyết dứt điểm các dự án tồn đọng kéo dài, khẩn trương hoàn thành, đưa vào khai thác, sử dụng để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế những tháng đầu năm 2026; xác định rõ các khó khăn, vướng mắc trong quá trình xử lý các dự án tồn đọng và đề xuất phương án xử lý cụ thể, gửi Bộ Tài chính để tổng hợp, báo cáo Ban chỉ đạo 751 và Thủ tướng Chính phủ theo quy định.
Nghiêm túc rà soát, đánh giá tình hình triển khai thực hiện mô hình chính quyền địa phương 02 cấp, đặc biệt là việc giải quyết thủ tục hành chính và thực hiện các nhiệm vụ được phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền; khẩn trương củng cố, kiện toàn, hoàn thiện tổ chức bộ máy, nhất là tổ chức hành chính theo quy định tại Nghị định số 150/2025/NĐ-CP ngày 12/6/2025 của Chính phủ (được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 370/2025/NĐ-CP ngày 31/12/2025 của Chính phủ) và cán bộ, công chức, viên chức cấp xã bảo đảm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ và đặc thù của từng địa bàn, nhất là trên một số lĩnh vực đang thiếu và yếu như quản lý đất đai, môi trường, đầu tư, giáo dục...
Triển khai nghiêm túc và khẩn trương việc phân cấp, ủy quyền trong nội bộ Tỉnh gắn với kiểm soát quyền lực; tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm.
Tiếp tục rà soát, sắp xếp các đơn vị sự nghiệp công lập bảo đảm tinh gọn, tăng cường tự chủ, nâng cao hiệu quả hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập, đặc biệt là kiện toàn và hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của các Trung tâm Dịch vụ tổng hợp cấp xã, thực hiện đúng chủ trương của Đảng, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về đẩy mạnh phân cấp, phân quyền.
Tập trung cao độ kiểm tra, hướng dẫn, tập huấn nghiệp vụ bầu cử bảo đảm theo đúng quy định, quy trình, xử lý tình huống kịp thời, không để xảy ra sai sót; tiếp tục rà soát, cập nhật, chỉnh lý danh sách cử tri bảo đảm thống nhất, đồng bộ, không bỏ sót, trùng lắp, bảo đảm đầy đủ quyền bầu cử của công dân; tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc, rà soát và theo dõi chặt chẽ tiến độ các nhiệm vụ từ nay đến ngày bầu cử tại từng đơn vị, tuyệt đối không chủ quan, lơ là.
* Thời gian qua, tỉnh Hà Tĩnh đã thực hiện quyết liệt, kịp thời cuộc cách mạng về sắp xếp bộ máy và đơn vị hành chính các cấp, bước đầu vận hành cơ bản thông suốt, ổn định, hiệu quả, thống nhất bộ máy theo mô hình chính quyền địa phương 2 cấp. GRDP tăng trưởng 8,78%, đứng thứ 10 cả nước và đứng đầu 05 tỉnh, thành phố khu vực Bắc Trung Bộ. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực, bền vững với công nghiệp trở thành nền tảng và động lực phát triển, bảo đảm cân đối, hài hòa giữa nông thôn và đô thị, giữa kinh tế, chính trị và văn hóa – xã hội.
Tỉnh thực hiện tốt 03 đột phá chiến lược, xây dựng môi trường đầu tư hấp dẫn và thu hút được các tập đoàn lớn, có năng lực đầu tư vào các ngành công nghiệp mới, ứng dụng công nghệ cao. Hệ thống hạ tầng kết nối từng bước được hoàn thiện, góp phần nâng tầm vị thế chiến lược của Tỉnh. Nguồn nhân lực được ưu tiên phát triển, đứng thứ 2 cả nước về số lượng học sinh đạt giải quốc gia.
Tỉnh quyết liệt khắc phục hậu quả của thiên tai, bão lũ, bảo đảm an sinh xã hội và chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân; quốc phòng, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững; kịp thời quán triệt và triển khai nghiêm túc công tác chuẩn bị tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031...

Kết nối đường Vành đai 4 tạo động lực phát triển TP Hà Nội và liên vùng Thủ đô.
Tại Công văn số 1876/VPCP-CN ngày 4/3/2026, Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà đồng ý về nguyên tắc giao UBND TP. Hà Nội làm cơ quan chủ quản đầu tư thực hiện Dự án đầu tư xây dựng tuyến đường kết nối đường Vành đai 4 (Hà Nội) với đường Vành đai 5 (Ninh Bình) theo quy định của Luật Đầu tư công, Luật Thủ đô năm 2024.
Phó Thủ tướng yêu cầu việc triển khai thực hiện Dự án trên phải đảm bảo đáp ứng đầy đủ các điều kiện về quy hoạch; tuân thủ quy định của pháp luật về đầu tư công, ngân sách, xây dựng, đường bộ và quy định của pháp luật có liên quan đảm bảo chất lượng, hiệu quả, không để xảy ra lãng phí, tiêu cực.
UBND TP. Hà Nội chịu trách nhiệm bố trí vốn ngân sách thành phố để thực hiện Dự án theo quy định của Luật Thủ đô năm 2024; UBND TP. Hà Nội, UBND tỉnh Ninh Bình chịu trách nhiệm toàn diện trước cơ quan thanh tra, kiểm tra và kiểm toán về nội dung thông tin, số liệu của Dự án./.